Tổ chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai theo mô hình lớp học đảo ngược
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
TỔ CHỨC GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI THEO MÔ HÌNH
LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
Trần Thị Ngọc Thiện1
TÓM TẮT
Giáo dục kỹ năng sống cần thực hiện theo lộ trình chuyển hóa từ nhận thức
thái độ, tình cảm, niềm tin hành vi thói quen, do đó đòi hỏi phải có tính liên
tục, sự điều chỉnh, thời gian cũng như các điều kiện khác. Trong điều kiện giáo dục
hiện nay, để giáo dục kỹ năng sống nói chung, đáp ứng yêu cầu rèn được một kỹ
năng nói riêng đạt hiệu quả là điều không dễ dàng. Bài viết lựa chọn cách tiếp cận
theo mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom) để thực hiện tổ chức giáo dục
kỹ năng sống hiệu quả, điều này được làm rõ thông qua kỹ năng tự nhận thức bản
thân (self-wareness).
Từ khóa: Kỹ năng tự nhận thức, mô hình lớp học đảo ngược
bản thân đóng vai trò hết sức quan trọng
1. Đặt vấn đề
giúp mỗi sinh viên nhận thức rõ hơn về
Thông điệp “Tôi là ai? Tôi cần gì?
bản thân mình: biết mình là ai, mình có
Tôi muốn gì? Tôi có thể làm được điều
những điểm chung và những điểm riêng
gì? Tôi có những điểm mạnh, điểm yếu
nào so với những người khác; thể hiện
như thế nào?”... tưởng chừng là những
sự tự tin và tính kiên định để có thể giải
câu hỏi rất đơn giản nhưng không phải
quyết vấn đề và ra quyết định hiệu quả;
ai cũng trả lời một cách chính xác, rất
đặt ra những mục tiêu phấn đấu phù hợp
nhiều người từng đặt ra và luôn trăn trở
và thực tế; thiết lập các mối quan hệ xã
đi tìm câu trả lời đúng cho mình. “Nhận
hội, tình cảm trong tình bạn - tình yêu
thức về bản thân của một người là cơ sở
và giao tiếp nhóm...
nhân cách của người đó. Nó ảnh hưởng
Xét trong bối cảnh tổ chức giáo dục
đến mọi phương diện đời sống của con
kỹ năng sống tại trường Đại học Đồng
người: khả năng học hỏi, khả năng
Nai: Khóa học được tổ chức trong 4
trưởng thành và thay đổi, sự nghiệp và
ngày, số lượng sinh viên tham gia trong
bạn đời. Không quá đáng khi nói rằng,
mỗi lớp khá đông, giáo trình dùng cho
nhận thức đúng về bản thân là sự chuẩn
giảng dạy chủ yếu là của tác giả
bị khả dĩ và tốt nhất cho những thành
Nguyễn Thanh Bình, ví dụ như Tài liệu
công trong cuộc sống” (TS. Joyce
Giáo dục Kỹ năng sống (Tài liệu tham
Brothers [1].
khảo dành cho giáo viên Mầm non và
Trong hoạt động học tập và giao
Tiểu học; giáo viên THCS và THPT)...
tiếp của sinh viên, kỹ năng tự nhận thức
[2-3]. Đây được coi là những yếu tố cố
1Trường Đại học Đồng Nai
Email: [email protected]
106
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
định trong điều kiện tổ chức giáo dục
kỹ năng sống cho sinh viên tại trường.
Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả
giảng dạy kỹ năng sống nói chung và kỹ
năng tự nhận thức nói riêng cho sinh
viên mà không ảnh hưởng đến những
yếu tố trên? Trong phạm vi nghiên cứu,
người viết xét thấy mô hình lớp học đảo
ngược có những yếu tố đặc trưng có thể
hỗ trợ cho việc tổ chức giáo dục kỹ
năng tự nhận thức bản thân giải quyết
được vấn đề trên.
niềm tin và hành động đúng đắn. Nếu
sinh viên nhận thức đầy đủ và sâu sắc
về ý nghĩa của kỹ năng sống nói chung
và kỹ năng tự nhận thức nói riêng đối
với sự phát triển của bản thân sẽ trở
thành động lực thúc đẩy họ tham gia
vào các hoạt động (học tập, giao tiếp,
vui chơi, giải trí...) một cách tích cực và
có hiệu quả.
Việc tổ chức giáo dục kỹ năng
tự nhận thức bản thân được thể hiện qua
nội dung, đặc trưng kỹ năng tự nhận
thức; phương pháp, hình thức tổ chức
giáo dục.
2. Cơ sở lý thuyết về hình thức tổ
chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức
và mô hình lớp học đảo ngược
2.1. Nội dung kỹ năng tự nhận
thức bản thân
Nhận thức đúng là cơ sở, là điều
kiện cần cho việc hình thành thái độ,
Bảng 1: Nội dung kỹ năng tự nhận thức bản thân
Nội dung và đặc trưng khả năng tự nhận thức
1. Khái niệm
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về bản thân;
biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở
thích, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; quan tâm và ý thức
được mình đang làm gì kể cả lúc căng th ng).
2. Các mức độ
của kỹ năng
tự nhận thức
o
Nhận thức: Hiểu rõ hơn về bản thân: biết mình là ai;
điểm mạnh, điểm yếu, năng lực, phẩm chất, ngoại hình...
o
Thái độ/Tình cảm/niềm tin: Chủ động rèn kỹ năng tự
nhận thức, tự tin với những gì đã có, thấy được những gì cần
cố gắng, trên cơ sở biết mình muốn gì/không thích gì để kiên
định và ra quyết định phù hợp.
o
Hành vi: Thực hành và trải nghiệm được với kỹ năng tự
nhận thức và các kỹ năng liên quan.
o
Thói quen: Vận dụng vào các hoạt động trong cuộc
sống hằng ngày: giao tiếp, quan hệ với người khác; học tập;
vui chơi, giải trí...
107
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
3. Biểu hiện o Thể lý: Cơ thể (ốm, mập, cao, lùn, tình trạng sức
đạt được các khỏe…).
mức độ kỹ
o
Năng lực trí tuệ bản thân: Thông minh, năng khiếu,
năng tự nhận
thức của sinh
viên
khả năng suy nghĩ logic, mặt mạnh và yếu, vai trò của bản
thân trong gia đình và nhà trường.
o
Giá trị: Chuẩn mực đạo đức, thái độ, niềm tin, hành vi
và những điều quý trọng và những điều này định hướng cho
sinh viên hành động.
o
Tính khí/tính cách: Người nóng nảy, dễ xúc động, lạc
quan/ hoài nghi, hướng nội hay hướng ngoại, thích lãnh đạo
hay khống chế người khác…
Ngoài ra, còn:
o
Có ước mơ, hiểu giá trị cốt lõi, viễn cảnh bản thân, mục
tiêu cuộc đời.
o
Thể hiện bản thân trước đám đông phù hợp; đặt mình
bên cạnh người khác để hiểu rõ bản thân hơn.
o
Khám phá những cách giải quyết những cuộc tranh luận,
bất hòa và giải quyết những xung đột thông qua sự thỏa hiệp,
thương lượng…
4. Ý nghĩa của o
Hiểu rõ về bản thân: đặc điểm, tính cách, thói quen, nhu
kỹ năng tự cầu… có thể tự tin với những điểm mạnh và cố gắng khắc
nhận
thức phục những điểm yếu.
hoạt
trong
o
Là cơ sở quan trọng giúp giao tiếp có hiệu quả và có
động cá nhân
của sinh viên
hiện nay
tinh thần trách nhiệm đối với người khác; ứng xử, hành động
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình.
o
Điều chỉnh cảm xúc và suy nghĩ của mình theo hướng
tích cực.
o
Có thể kiên định, tự tránh những mạo hiểm, tránh bị lợi
dụng.
o
Hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về mình cũng
như những thái độ và phản hồi của mình đối với người khác.
5. Các yếu tố o
Gia đình: Có ảnh hưởng đặc biệt đó là những chuẩn
108
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
ảnh hưởng đến mực, hình mẫu để học hỏi, là khung quy chiếu giúp cá nhân so
kỹ năng tự sánh, đánh giá những phẩm chất tâm lý của bản thân.
nhận thức bản
o
Bạn bè: Là mô hình xã hội để cá nhân thực hiện hành vi
thân
của mình; là chuẩn mực để cá nhân so sánh hành vi xã hội của
mình; là tấm gương phản chiếu giúp phát hiện ra chính mình
trong nhóm, tập thể; là những tác nhân củng cố hành vi xã hội
được lặp lại ở cá nhân.
o
Nhà trường: Có ảnh hưởng rất sâu sắc, mạnh mẽ, toàn
diện và triệt để, là cơ sở nền tảng giúp cá nhân có được
nhận thức, thái độ đúng đắn về bản thân, điều chỉnh hành vi
cho phù hợp với chuẩn mực xã hội dẫn tới sự hoàn thiện bản
thân.
o
Bản thân sinh viên: Tính tích cực hoạt động và giao lưu
của mình chính là yếu tố quyết định tự nhận thức. Cá nhân tự
nhận thức, lựa chọn, tiếp nhận những giá trị để theo đuổi, tiếp
nhận sự đánh giá của những người xung quanh; định hướng và
điều chỉnh bản thân như thế nào cho có ý nghĩa, lựa chọn
những gì là đúng đắn, phù hợp với chính bản thân và với xã
hội.
(Nguồn Nguyễn Thanh Bình [3], Phạm Thị Kim Thoa [4])
phát triển của công nghệ e-Learning và
phương pháp đào tạo hiện đại. Mô hình
này có tính khả thi cao đối với người có
khả năng tự học, có kỷ luật và ý chí. Ở
Việt Nam đến nay đã có nhiều nghiên
cứu và triển khai dạy học theo mô hình
này ở nhiều phương diện khác nhau.
Cách học này đòi hỏi người học phải
dùng nhiều đến hoạt động trí não nên
được gọi là “High thinking”. Như vậy
những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư
duy được thực hiện bởi cả thầy và trò.
Với lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu
kiến thức được định hướng bởi người
thầy, nhiệm vụ của trò là tự học kiến
thức mới và làm bài tập mức thấp ở
2.2. Các hình thức tổ chức giáo
dục kỹ năng tự nhận thức
2.2.1. Tổ chức giáo dục kỹ năng
sống hiện tại ở trường Đại học Đồng Nai
Hầu hết các giảng viên áp dụng
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực trong thiết kế các hoạt động giáo
dục cho từng kỹ năng và tổ chức theo
tiến trình 4 bước tại lớp: Khám phá, kết
nối, thực hành và vận dụng.
2.2.2. Mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình lớp học đảo ngược thay đổi
cách tiếp cận giáo dục, là mô hình giáo
dục tiên tiến được ứng dụng dựa trên sự
109
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
nhà. Sau đó vào lớp các em được giáo
viên tổ chức nhiều hoạt động để tương
tác và chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập bậc
cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự
hỗ trợ của giáo viên và các bạn cùng
nhóm [5].
Hình 1: Bloom Taxonomy
Hình 2: Snapshot of a Flipped Class
Bảng 2: So sánh tổ chức lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược
Lớp học truyền thống
- Giáo viên hướng dẫn
Lớp học đảo ngược
- Giáo viên hướng dẫn bài giảng tại nhà thông
qua video, sách, trang web
- Người học ghi chép
- Người học làm theo hướng dẫn
- Giáo viên đánh giá
- Người học hiểu sâu hơn các khái niệm, ứng
dụng và có sự kết nối với nội dung đã tạo ra
khi thảo luận tại lớp.
- Người học có bài tập về nhà
- Người học nhận được sự hỗ trợ khi cần thiết.
mô hình lớp học đảo ngược được trình
Như vậy từ việc xác định các mức
độ, nội dung của kỹ năng tự nhận thức
ở trên, chúng ta nhận thấy tiến trình tổ
chức giáo dục theo các mức độ chuyển
hóa từ nhận thức đến thái độ/hành vi
và hình thành thói quen cần được đảm
bảo về mặt thời gian để cho sinh viên
hình thành kỹ năng này một cách hiệu
quả nhất; khi đó việc tổ chức linh hoạt,
phù hợp các hoạt động giáo dục kết
hợp giữa trên lớp với ở nhà sẽ rất có
giá trị vì khai thác được ưu điểm của
bày như trên.
3. Thực trạng và biện pháp tổ
chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức
theo mô hình lớp học đảo ngược
3.1. Thực trạng khảo sát đánh giá
về kỹ năng tự nhận thức
Kết quả khảo sát khóa học kỹ năng
sống tại trường về kỹ năng tự nhận thức
được trình bày ở bảng 3.
110
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
Bảng 3: Sinh viên tự nhận thức về bản thân
Nội dung
>3
3
2
1
0
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Biết những
ưu điểm của
bản thân
0
0
42 20,79 58 28,71 62 30,69 40 19,8
39 19,31 72 35,64 63 31,19 28 13,86
Biết những
khuyết điểm
của bản thân
Biết những
0
0
điều bản thân 15
thích
7,43 100 49,50 77 38,12 10 4,95
0
0
0
0
Biết những
điều bản thân
không thích
0
0
91 45,05 86 42,57 25 12,38
Nội dung
SL
%
Biết đặc điểm nổi bật nhất của bản thân
Biết được cái gì là quan trọng nhất đối với bản thân ở
hiện tại
125
61,88
145
71,78
Biết rõ bản thân muốn gì trong cuộc sống
Biết được những dự định trong tương lai của bản thân
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả)
140
111
69,31
54,95
viên biết 1 và 19,8% không biết ưu
điểm của mình.
Nhìn chung sinh viên nhận biết khá
rõ về cái gì là quan trọng nhất đối bản
thân ở hiện tại chiếm tỉ lệ 71,78% và biết
rõ bản thân muốn gì trong cuộc sống
chiếm tỉ lệ 69,31%, nhưng cũng có tới
45,05% sinh viên không biết được
những dự định trong tương lai của bản
thân và 38,12% sinh viên không biết đặc
điểm nổi bật nhất của bản thân mình.
Nhận biết về khuyết điểm của bản
thân có: 19,31% sinh viên biết 3;
35,64% sinh viên biết 2; 31,19% sinh
viên biết 1 và 13,86% không biết
khuyết điểm của mình.
Nhận biết về những điều bản thân
thích có: 7,43% sinh viên biết >3;
49,50% sinh viên biết 3; 38,12% sinh
viên biết 2 và 4,95% biết 1 điều bản
thân thích.
Nhận biết về ưu điểm của bản thân
có: 20,79% sinh viên biết 3 ưu điểm;
28,71% sinh viên biết 2; 30,69% sinh
111
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
Nhận biết về những điều bản thân
không thích có: 0% sinh viên biết >3;
45,05% sinh viên biết 3; 42,57% sinh
viên biết 2 và 12,38% sinh viên biết 1
điều bản thân không thích.
3.2. Biện pháp tổ chức giáo dục
kỹ năng tự nhận thức theo lớp học
đảo ngược
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu
trên, ta xem xét thiết kế lại hoạt động
giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân
theo mô hình lớp học đảo ngược.
Như vậy, kết quả khảo sát kh ng
định cần thiết kế lại hoạt động tổ chức
giảng dạy kỹ năng tự nhận thức bản
thân đạt hiệu quả mà không ảnh hưởng
đến các yếu tố khác trong điều kiện
giảng dạy tại trường và mô hình lớp học
nêu trên là biện pháp phù hợp để cải
thiện chất lượng giáo dục kỹ năng này.
Việc sắp xếp lại các hoạt động giáo
dục được điều chỉnh theo bảng sau:
(1): Cách tổ chức dạy học cũ được
thực hiện tại lớp.
(2): Biện pháp thực hiện - tổ chức
dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.
Tổ chức dạy học
trước khi điều chỉnh
(1)
Tổ chức dạy học điều chỉnh theo
mô hình lớp học đảo ngược
(2)
Hoạt động
(Giáo án cũ)
Thực hiện tại
lớp
Yêu cầu
thực
hiện
Kết quả đạt
Nhận xét
Điều chỉnh
được
.
Khám
HĐ1:
Tại nhà
phá + kết nối
HĐ1: Vẽ chân Thiếu:
dung Tôi là - Bộ công B1: Trả lời câu hỏi liên
Trắc nghiệm tính cách - Sinh Sinh
viên
thấy
mái
và nhận ra mình là ai.
viên
thực
hiện
cảm
thoải
khi
ai?)
HĐ2:
cụ MBTI quan đến những biểu hiện
Xác trắc tự nhận thức về:
+ Ngoại hình, giao tiếp, cầu của theo
khám
theo yêu phá bản thân
định
định kỹ năng nghiệm
tự nhận thức
tính cách. năng lực, phẩm chất, trách
giáo
viên
(sinh
hướng của
giáo viên tại
nhà:
HĐ3:
Cách - Bộ câu nhiệm, thích nghi với
hình thành kỹ hỏi gợi ý cuộc sống, sự hài lòng,
năng tự nhận đầy đủ về hoạt động xã hội, quan hệ viên có - Tự phân
thức và làm các mặt.
thế nào để có
với gia đình.
+ Tự điều khiển, tự điều
thể
tham
tích và nhìn
nhận mình
kỹ năng tự
chỉnh hành vi ở các mặt: khảo tài về các khía
nhận
thức
học tập; quan hệ bạn bè, liệu qua cạnh khác
đúng
nhóm gia đình; nghề
nghiệp; vấn đề của bản
giáo
trình,
nhau để hình
dung, nhận
112
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
thân; tình yêu; xã hội.
ISSN 2354-1482
trên hệ biết và đánh
+ Các yếu tố ảnh hưởng: dữ liệu giá
gia đình, nhà trường, quan giáo dục bản thân.
hệ bạn bè, bản thân và các kỹ năng
yếu tố khác. sống
được
- Hiểu sâu
B2: Trắc nghiệm tính cho sinh sắc kỹ năng
cách trên bộ công cụ viên và tự nhận thức
MBTI
giáo
và khả năng
B3: Giáo viên gửi bảng viên); tự nhận thức
khóa để lý giải về tính
cách, nêu rõ ưu nhược
ở
mỗi
người, nắm
điểm của từng loại tính - Sinh được
cách. viên lưu nghĩa của kỹ
HĐ2: Sâu sắc hóa bản giữ kết năng tự
chất khái niệm tự nhận quả để nhận thức và
ý
thức và làm thế nào để
có kỹ năng tự nhận thức
đúng
thảo
luận,
biết cách rèn
kỹ năng tự
thuyết nhận thức.
trình
Yêu cầu sinh viên hiểu rõ:
1. Qua HĐ1 Kỹ năng tự cho hoạt
nhận thức bản thân là gì?
2. Ý thức về các đặc điểm
khác nhau của bản thân để
làm gì?
động ở
lớp.
3. Để nhận thức/đánh giá
đúng về mình, mỗi người
cần phải làm gì? ...
.
Thực
Thiếu
công cụ:
Rèn luyện kỹ năng tự
nhận thức
Cửa HĐ3: Tiếp nhận đánh
Tại lớp Tất cả sinh
hành
HĐ4: Rèn kỹ -
Thực
hiện
viên trong
lớp đều
năng tự nhận sổ
Joe giá, nhận xét của người theo yêu được thực
thức.
Luft
và khác về mình
cầu của hành trải
Harry
Ingham
(Joe
B1: Vẽ cửa sổ Joe Harry,
thể hiện bản thân trong
các Ô cửa sổ Kết quả ở
HĐ 1)
giáo
viên
nghiệm
trong từng
hoạt động
Harry)
Kết hợp không
B2: Chuyển cửa sổ JH HĐ cá khí lớp học
cho các bạn trong lớp nhân và rất sôi nổi,
càng nhiều càng tốt) để
HĐ
tạo hiệu ứng
113
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
nhận xét đánh giá về bạn nhóm tốt đạt
ở Ô “Mù”
hiệu quả
B3: Tiếp nhận ý kiến của
những bạn trong lớp.
B4: hia lớp thành nhiều
nhóm nhỏ -5 sinh
viên/nhóm)
Các nhóm trình bày với
nội dung vừa thực hiện ở
các bước trên, tất cả mọi
người đều được ghi hình
lại.
cao.
- Hiểu bản
thân có thể
trưởng thành
như thế nào
trong việc tự
nhận
chính mình,
-
biết
Trải
B5: Mỗi nhóm xem lại
clip, phân tích, chọn ra 1
bạn nổi bật chiếu trước
lớp, các nhóm khác nhận
xét.
HĐ4: Trò chơi: Vượt
qua thử thách
HĐ5: Xử lý các tình
huống
nghiệm
những đánh
giá của
người khác
về mình và
có thái độ
tích cực đối
với những
nhận
xét,
TH1: Bạn muốn thi vào
trường Đại học Mỹ thuật
theo sở thích của mình.
Bố mẹ bạn muốn bạn thi
vào trường Sư phạm vì bố
mẹ có cơ hội tìm chỗ làm
tốt cho bạn. Vậy bạn sẽ
quyết định thế nào?
TH2: …
đánh giá đó.
...
HĐ 6: ...
.
Vận
Vận dụng vào:
Tại lớp Tự tin trong
dụng
- Học tập: làm việc nhóm,
và
học tập và
Trong học tập
và giao tiếp
thuyết trình, tự học, tự Tại nhà giao tiếp.
nghiên cứu...
- Giao tiếp có hiệu quả;
- Vui chơi giải trí...
Nguồn Nguyễn Hữu Long [6], Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa [7])
114
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
4. Kết luận
cần thiết. Bài viết đã lựa chọn mô hình
lớp học đảo ngược làm cơ sở phân tích
sự biến đổi kiến thức, kỹ năng và thái
độ thành năng lực, kinh nghiệm cá nhân
trong giáo dục kỹ năng tự nhận thức
bản thân.
Tự nhận thức đóng vai trò cực kỳ
quan trọng đối với thành tích cá nhân,
đến mức 83% những người có mức độ tự
nhận thức cao là những người đứng đầu
về hiệu suất công việc. Khi biết tự nhận
thức, nhiều khả năng con người theo
đuổi đúng cơ hội hơn, biết cách vận
dụng thế mạnh của mình vào công việc
và điều quan trọng nhất là không để cho
cảm xúc ngăn trở mình. Càng hiểu rõ về
mặt tốt đẹp và mặt hạn chế bao nhiêu thì
chúng ta càng phát huy toàn bộ tiềm
năng của mình tốt bấy nhiêu.
Biện pháp này giải quyết được yếu
tố thời gian, giúp người học cảm thấy
thoải mái hơn, hứng thú hơn khi tham
gia rèn kỹ năng tự nhận thức đạt hiệu
quả. Tuy nhiên để minh chứng tính hiệu
quả của nó cần phải được thực nghiệm,
đó cũng là hướng phát triển của bài viết;
hơn nữa đó cũng chính là định hướng
để nhân rộng hình thức giáo dục theo
mô hình lớp học đảo ngược để rèn
luyện các kỹ năng khác cho sinh viên.
Chính vì vậy việc thiết kế lại hoạt
động tổ chức giảng dạy kỹ năng tự nhận
thức bản thân đạt hiệu quả là việc làm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ismartkids – Trung tâm phát triển tài năng trẻ em (2016), “Kỹ năng tự nhận
2. PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình chủ biên) (2015), Giáo dục kỹ năng sống, Tài
liệu tham khảo dành cho giáo viên Mầm non và Tiểu học
3. PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình (2015), Giáo dục kỹ năng sống, Tài liệu tham
khảo dành cho giáo viên THCS và THPT
4. Phạm Thị Kim Thoa (2013), Tự ý thức của sinh viên tại một số trường đại
học TP.HCM - Luận văn thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
5. Tô Thị Diễm Quyên, giảng viên chương trình ứng dụng công nghệ thông tin
vào dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), “Lớp học đảo ngược”,
6. Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Ngọc Duy, Võ Minh Thành (2016), Phát triển
kỹ năng sống, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh
7. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa (2010), Giáo dục giá trị và kỹ
năng sống cho học sinh phổ thông, Tài liệu tập huấn/ bồi dưỡng giáo viên
115
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017
ISSN 2354-1482
THE TEACHING OF SELF-AWARENESS SKILL AT DONGNAI
UNIVERSITY USING THE FLIPPED CLASSROOM MODEL
ABSTRACT
The teaching of life skills needs to follow a path starting with awareness, going
through attitude, emotion, and belief, continuing with behavior, and ending with
habit, thus requiring continuity, adjustment, time as well as other conditions. Under
current educational conditions, it is not easy to meet the demand for a certain skill.
The article uses the flipped classroom model for effective life skills education, which
is clarified through self-awareness.
Keywords: Self-awareness, flipped classroom model
(Received: 1/8/2017, Revised: 9/10/2017, Accepted for publication: 24/10/2017)
116
Bạn đang xem tài liệu "Tổ chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai theo mô hình lớp học đảo ngược", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
to_chuc_giao_duc_ky_nang_tu_nhan_thuc_ban_than_cho_sinh_vien.pdf

