Tổ chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai theo mô hình lớp học đảo ngược

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
TỔ CHỨC GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CHO  
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI THEO MÔ HÌNH  
LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC  
Trần Thị Ngọc Thiện1  
TÓM TẮT  
Giáo dục kỹ năng sống cần thực hiện theo lộ trình chuyển hóa từ nhận thức  
thái độ, tình cảm, niềm tin hành vi thói quen, do đó đòi hỏi phải có tính liên  
tục, sự điều chỉnh, thời gian cũng như các điều kiện khác. Trong điều kiện giáo dục  
hiện nay, để giáo dục kỹ năng sống nói chung, đáp ứng yêu cầu rèn được một kỹ  
năng nói riêng đạt hiệu quả là điều không dễ dàng. Bài viết lựa chọn cách tiếp cận  
theo mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom) để thực hiện tổ chức giáo dục  
kỹ năng sống hiệu quả, điều này được làm rõ thông qua kỹ năng tự nhận thức bản  
thân (self-wareness).  
Từ khóa: Kỹ năng tự nhận thức, mô hình lớp học đảo ngược  
bản thân đóng vai trò hết sức quan trọng  
1. Đặt vấn đề  
giúp mỗi sinh viên nhận thức rõ hơn về  
Thông điệp “Tôi là ai? Tôi cần gì?  
bản thân mình: biết mình là ai, mình có  
Tôi muốn gì? Tôi có thể làm được điều  
những điểm chung và những điểm riêng  
gì? Tôi có những điểm mạnh, điểm yếu  
nào so với những người khác; thể hiện  
như thế nào?”... tưởng chừng là những  
sự tự tin và tính kiên định để có thể giải  
câu hỏi rất đơn giản nhưng không phải  
quyết vấn đề và ra quyết định hiệu quả;  
ai cũng trả lời một cách chính xác, rất  
đặt ra những mục tiêu phấn đấu phù hợp  
nhiều người từng đặt ra và luôn trăn trở  
và thực tế; thiết lập các mối quan hệ xã  
đi tìm câu trả lời đúng cho mình. “Nhận  
hội, tình cảm trong tình bạn - tình yêu  
thức về bản thân của một người là cơ sở  
và giao tiếp nhóm...  
nhân cách của người đó. Nó ảnh hưởng  
Xét trong bối cảnh tổ chức giáo dục  
đến mọi phương diện đời sống của con  
kỹ năng sống tại trường Đại học Đồng  
người: khả năng học hỏi, khả năng  
Nai: Khóa học được tổ chức trong 4  
trưởng thành và thay đổi, sự nghiệp và  
ngày, số lượng sinh viên tham gia trong  
bạn đời. Không quá đáng khi nói rằng,  
mỗi lớp khá đông, giáo trình dùng cho  
nhận thức đúng về bản thân là sự chuẩn  
giảng dạy chủ yếu là của tác giả  
bị khả dĩ và tốt nhất cho những thành  
Nguyễn Thanh Bình, ví dụ như Tài liệu  
công trong cuộc sống” (TS. Joyce  
Giáo dục Kỹ năng sống (Tài liệu tham  
Brothers [1].  
khảo dành cho giáo viên Mầm non và  
Trong hoạt động học tập và giao  
Tiểu học; giáo viên THCS và THPT)...  
tiếp của sinh viên, kỹ năng tự nhận thức  
[2-3]. Đây được coi là những yếu tố cố  
1Trường Đại học Đồng Nai  
106  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
định trong điều kiện tổ chức giáo dục  
kỹ năng sống cho sinh viên tại trường.  
Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả  
giảng dạy kỹ năng sống nói chung và kỹ  
năng tự nhận thức nói riêng cho sinh  
viên mà không ảnh hưởng đến những  
yếu tố trên? Trong phạm vi nghiên cứu,  
người viết xét thấy mô hình lớp học đảo  
ngược có những yếu tố đặc trưng có thể  
hỗ trợ cho việc tổ chức giáo dục kỹ  
năng tự nhận thức bản thân giải quyết  
được vấn đề trên.  
niềm tin và hành động đúng đắn. Nếu  
sinh viên nhận thức đầy đủ và sâu sắc  
về ý nghĩa của kỹ năng sống nói chung  
và kỹ năng tự nhận thức nói riêng đối  
với sự phát triển của bản thân sẽ trở  
thành động lực thúc đẩy họ tham gia  
vào các hoạt động (học tập, giao tiếp,  
vui chơi, giải trí...) một cách tích cực và  
có hiệu quả.  
Việc tổ chức giáo dục kỹ năng  
tự nhận thức bản thân được thể hiện qua  
nội dung, đặc trưng kỹ năng tự nhận  
thức; phương pháp, hình thức tổ chức  
giáo dục.  
2. Cơ sở lý thuyết về hình thức tổ  
chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức  
và mô hình lớp học đảo ngược  
2.1. Nội dung kỹ năng tự nhận  
thức bản thân  
Nhận thức đúng là cơ sở, là điều  
kiện cần cho việc hình thành thái độ,  
Bảng 1: Nội dung kỹ năng tự nhận thức bản thân  
Nội dung và đặc trưng khả năng tự nhận thức  
1. Khái niệm  
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về bản thân;  
biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở  
thích, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; quan tâm và ý thức  
được mình đang làm gì  kể cả lúc căng th ng).  
2. Các mức độ  
của kỹ năng  
tự nhận thức  
o
Nhận thức: Hiểu rõ hơn về bản thân: biết mình là ai;  
điểm mạnh, điểm yếu, năng lực, phẩm chất, ngoại hình...  
o
Thái độ/Tình cảm/niềm tin: Chủ động rèn kỹ năng tự  
nhận thức, tự tin với những gì đã có, thấy được những gì cần  
cố gắng, trên cơ sở biết mình muốn gì/không thích gì để kiên  
định và ra quyết định phù hợp.  
o
Hành vi: Thực hành và trải nghiệm được với kỹ năng tự  
nhận thức và các kỹ năng liên quan.  
o
Thói quen: Vận dụng vào các hoạt động trong cuộc  
sống hằng ngày: giao tiếp, quan hệ với người khác; học tập;  
vui chơi, giải trí...  
107  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
3. Biểu hiện o Thể lý: Cơ thể (ốm, mập, cao, lùn, tình trạng sức  
đạt được các khỏe…).  
mức độ kỹ  
o
Năng lực trí tuệ bản thân: Thông minh, năng khiếu,  
năng tự nhận  
thức của sinh  
viên  
khả năng suy nghĩ logic, mặt mạnh và yếu, vai trò của bản  
thân trong gia đình và nhà trường.  
o
Giá trị: Chuẩn mực đạo đức, thái độ, niềm tin, hành vi  
và những điều quý trọng và những điều này định hướng cho  
sinh viên hành động.  
o
Tính khí/tính cách: Người nóng nảy, dễ xúc động, lạc  
quan/ hoài nghi, hướng nội hay hướng ngoại, thích lãnh đạo  
hay khống chế người khác…  
Ngoài ra, còn:  
o
Có ước mơ, hiểu giá trị cốt lõi, viễn cảnh bản thân, mục  
tiêu cuộc đời.  
o
Thể hiện bản thân trước đám đông phù hợp; đặt mình  
bên cạnh người khác để hiểu rõ bản thân hơn.  
o
Khám phá những cách giải quyết những cuộc tranh luận,  
bất hòa và giải quyết những xung đột thông qua sự thỏa hiệp,  
thương lượng…  
4. Ý nghĩa của o  
Hiểu rõ về bản thân: đặc điểm, tính cách, thói quen, nhu  
kỹ năng tự cầu… có thể tự tin với những điểm mạnh và cố gắng khắc  
nhận  
thức phục những điểm yếu.  
hoạt  
trong  
o
Là cơ sở quan trọng giúp giao tiếp có hiệu quả và có  
động cá nhân  
của sinh viên  
hiện nay  
tinh thần trách nhiệm đối với người khác; ứng xử, hành động  
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình.  
o
Điều chỉnh cảm xúc và suy nghĩ của mình theo hướng  
tích cực.  
o
Có thể kiên định, tự tránh những mạo hiểm, tránh bị lợi  
dụng.  
o
Hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về mình cũng  
như những thái độ và phản hồi của mình đối với người khác.  
5. Các yếu tố o  
Gia đình: Có ảnh hưởng đặc biệt đó là những chuẩn  
108  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
ảnh hưởng đến mực, hình mẫu để học hỏi, là khung quy chiếu giúp cá nhân so  
kỹ năng tự sánh, đánh giá những phẩm chất tâm lý của bản thân.  
nhận thức bản  
o
Bạn bè: Là mô hình xã hội để cá nhân thực hiện hành vi  
thân  
của mình; là chuẩn mực để cá nhân so sánh hành vi xã hội của  
mình; là tấm gương phản chiếu giúp phát hiện ra chính mình  
trong nhóm, tập thể; là những tác nhân củng cố hành vi xã hội  
được lặp lại ở cá nhân.  
o
Nhà trường: Có ảnh hưởng rất sâu sắc, mạnh mẽ, toàn  
diện và triệt để, là cơ sở nền tảng giúp cá nhân có được  
nhận thức, thái độ đúng đắn về bản thân, điều chỉnh hành vi  
cho phù hợp với chuẩn mực xã hội dẫn tới sự hoàn thiện bản  
thân.  
o
Bản thân sinh viên: Tính tích cực hoạt động và giao lưu  
của mình chính là yếu tố quyết định tự nhận thức. Cá nhân tự  
nhận thức, lựa chọn, tiếp nhận những giá trị để theo đuổi, tiếp  
nhận sự đánh giá của những người xung quanh; định hướng và  
điều chỉnh bản thân như thế nào cho có ý nghĩa, lựa chọn  
những gì là đúng đắn, phù hợp với chính bản thân và với xã  
hội.  
(Nguồn Nguyễn Thanh Bình [3], Phạm Thị Kim Thoa [4])  
phát triển của công nghệ e-Learning và  
phương pháp đào tạo hiện đại. Mô hình  
này có tính khả thi cao đối với người có  
khả năng tự học, có kỷ luật và ý chí. Ở  
Việt Nam đến nay đã có nhiều nghiên  
cứu và triển khai dạy học theo mô hình  
này ở nhiều phương diện khác nhau.  
Cách học này đòi hỏi người học phải  
dùng nhiều đến hoạt động trí não nên  
được gọi là “High thinking”. Như vậy  
những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư  
duy được thực hiện bởi cả thầy và trò.  
Với lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu  
kiến thức được định hướng bởi người  
thầy, nhiệm vụ của trò là tự học kiến  
thức mới và làm bài tập mức thấp ở  
2.2. Các hình thức tổ chức giáo  
dục kỹ năng tự nhận thức  
2.2.1. Tổ chức giáo dục kỹ năng  
sống hiện tại ở trường Đại học Đồng Nai  
Hầu hết các giảng viên áp dụng  
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích  
cực trong thiết kế các hoạt động giáo  
dục cho từng kỹ năng và tổ chức theo  
tiến trình 4 bước tại lớp: Khám phá, kết  
nối, thực hành và vận dụng.  
2.2.2. Mô hình lớp học đảo ngược  
Mô hình lớp học đảo ngược thay đổi  
cách tiếp cận giáo dục, là mô hình giáo  
dục tiên tiến được ứng dụng dựa trên sự  
109  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
nhà. Sau đó vào lớp các em được giáo  
viên tổ chức nhiều hoạt động để tương  
tác và chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập bậc  
cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự  
hỗ trợ của giáo viên và các bạn cùng  
nhóm [5].  
Hình 1: Bloom Taxonomy  
Hình 2: Snapshot of a Flipped Class  
Bảng 2: So sánh tổ chức lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược  
Lớp học truyền thống  
- Giáo viên hướng dẫn  
Lớp học đảo ngược  
- Giáo viên hướng dẫn bài giảng tại nhà thông  
qua video, sách, trang web  
- Người học ghi chép  
- Người học làm theo hướng dẫn  
- Giáo viên đánh giá  
- Người học hiểu sâu hơn các khái niệm, ứng  
dụng và có sự kết nối với nội dung đã tạo ra  
khi thảo luận tại lớp.  
- Người học có bài tập về nhà  
- Người học nhận được sự hỗ trợ khi cần thiết.  
mô hình lớp học đảo ngược được trình  
Như vậy từ việc xác định các mức  
độ, nội dung của kỹ năng tự nhận thức  
ở trên, chúng ta nhận thấy tiến trình tổ  
chức giáo dục theo các mức độ chuyển  
hóa từ nhận thức đến thái độ/hành vi  
và hình thành thói quen cần được đảm  
bảo về mặt thời gian để cho sinh viên  
hình thành kỹ năng này một cách hiệu  
quả nhất; khi đó việc tổ chức linh hoạt,  
phù hợp các hoạt động giáo dục kết  
hợp giữa trên lớp với ở nhà sẽ rất có  
giá trị vì khai thác được ưu điểm của  
bày như trên.  
3. Thực trạng và biện pháp tổ  
chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức  
theo mô hình lớp học đảo ngược  
3.1. Thực trạng khảo sát đánh giá  
về kỹ năng tự nhận thức  
Kết quả khảo sát khóa học kỹ năng  
sống tại trường về kỹ năng tự nhận thức  
được trình bày ở bảng 3.  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
Bảng 3: Sinh viên tự nhận thức về bản thân  
Nội dung  
>3  
3
2
1
0
SL  
%
SL  
%
SL  
%
SL  
%
SL  
%
Biết những  
ưu điểm của  
bản thân  
0
0
42 20,79 58 28,71 62 30,69 40 19,8  
39 19,31 72 35,64 63 31,19 28 13,86  
Biết những  
khuyết điểm  
của bản thân  
Biết những  
0
0
điều bản thân 15  
thích  
7,43 100 49,50 77 38,12 10 4,95  
0
0
0
0
Biết những  
điều bản thân  
không thích  
0
0
91 45,05 86 42,57 25 12,38  
Nội dung  
SL  
%
Biết đặc điểm nổi bật nhất của bản thân  
Biết được cái gì là quan trọng nhất đối với bản thân ở  
hiện tại  
125  
61,88  
145  
71,78  
Biết rõ bản thân muốn gì trong cuộc sống  
Biết được những dự định trong tương lai của bản thân  
 Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả)  
140  
111  
69,31  
54,95  
viên biết 1 và 19,8% không biết ưu  
điểm của mình.  
Nhìn chung sinh viên nhận biết khá  
rõ về cái gì là quan trọng nhất đối bản  
thân ở hiện tại chiếm tỉ lệ 71,78% và biết  
rõ bản thân muốn gì trong cuộc sống  
chiếm tỉ lệ 69,31%, nhưng cũng có tới  
45,05% sinh viên không biết được  
những dự định trong tương lai của bản  
thân và 38,12% sinh viên không biết đặc  
điểm nổi bật nhất của bản thân mình.  
Nhận biết về khuyết điểm của bản  
thân có: 19,31% sinh viên biết 3;  
35,64% sinh viên biết 2; 31,19% sinh  
viên biết 1 và 13,86% không biết  
khuyết điểm của mình.  
Nhận biết về những điều bản thân  
thích có: 7,43% sinh viên biết >3;  
49,50% sinh viên biết 3; 38,12% sinh  
viên biết 2 và 4,95% biết 1 điều bản  
thân thích.  
Nhận biết về ưu điểm của bản thân  
có: 20,79% sinh viên biết 3 ưu điểm;  
28,71% sinh viên biết 2; 30,69% sinh  
111  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
Nhận biết về những điều bản thân  
không thích có: 0% sinh viên biết >3;  
45,05% sinh viên biết 3; 42,57% sinh  
viên biết 2 và 12,38% sinh viên biết 1  
điều bản thân không thích.  
3.2. Biện pháp tổ chức giáo dục  
kỹ năng tự nhận thức theo lớp học  
đảo ngược  
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu  
trên, ta xem xét thiết kế lại hoạt động  
giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân  
theo mô hình lớp học đảo ngược.  
Như vậy, kết quả khảo sát kh ng  
định cần thiết kế lại hoạt động tổ chức  
giảng dạy kỹ năng tự nhận thức bản  
thân đạt hiệu quả mà không ảnh hưởng  
đến các yếu tố khác trong điều kiện  
giảng dạy tại trường và mô hình lớp học  
nêu trên là biện pháp phù hợp để cải  
thiện chất lượng giáo dục kỹ năng này.  
Việc sắp xếp lại các hoạt động giáo  
dục được điều chỉnh theo bảng sau:  
(1): Cách tổ chức dạy học cũ được  
thực hiện tại lớp.  
(2): Biện pháp thực hiện - tổ chức  
dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.  
Tổ chức dạy học  
trước khi điều chỉnh  
(1)  
Tổ chức dạy học điều chỉnh theo  
mô hình lớp học đảo ngược  
(2)  
Hoạt động  
(Giáo án cũ)  
Thực hiện tại  
lớp  
Yêu cầu  
thực  
hiện  
Kết quả đạt  
Nhận xét  
Điều chỉnh  
được  
.
Khám  
HĐ1:  
Tại nhà  
phá + kết nối  
HĐ1: Vẽ chân Thiếu:  
dung  Tôi là - Bộ công B1: Trả lời câu hỏi liên  
Trắc nghiệm tính cách - Sinh Sinh  
viên  
thấy  
mái  
và nhận ra mình là ai.  
viên  
thực  
hiện  
cảm  
thoải  
khi  
ai?)  
HĐ2:  
cụ MBTI quan đến những biểu hiện  
Xác trắc tự nhận thức về:  
+ Ngoại hình, giao tiếp, cầu của theo  
khám  
theo yêu phá bản thân  
định  
định kỹ năng nghiệm  
tự nhận thức  
tính cách. năng lực, phẩm chất, trách  
giáo  
viên  
(sinh  
hướng của  
giáo viên tại  
nhà:  
HĐ3:  
Cách - Bộ câu nhiệm, thích nghi với  
hình thành kỹ hỏi gợi ý cuộc sống, sự hài lòng,  
năng tự nhận đầy đủ về hoạt động xã hội, quan hệ viên có - Tự phân  
thức và làm các mặt.  
thế nào để có  
với gia đình.  
+ Tự điều khiển, tự điều  
thể  
tham  
tích và nhìn  
nhận mình  
kỹ năng tự  
chỉnh hành vi ở các mặt: khảo tài về các khía  
nhận  
thức  
học tập; quan hệ bạn bè, liệu qua cạnh khác  
đúng  
nhóm gia đình; nghề  
nghiệp; vấn đề của bản  
giáo  
trình,  
nhau để hình  
dung, nhận  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
thân; tình yêu; xã hội.  
ISSN 2354-1482  
trên hệ biết và đánh  
+ Các yếu tố ảnh hưởng: dữ liệu giá  
gia đình, nhà trường, quan giáo dục bản thân.  
hệ bạn bè, bản thân và các kỹ năng  
yếu tố khác. sống  
được  
- Hiểu sâu  
B2: Trắc nghiệm tính cho sinh sắc kỹ năng  
cách trên bộ công cụ viên và tự nhận thức  
MBTI  
giáo  
và khả năng  
B3: Giáo viên gửi bảng viên); tự nhận thức  
khóa để lý giải về tính  
cách, nêu rõ ưu nhược  
ở
mỗi  
người, nắm  
điểm của từng loại tính - Sinh được  
cách. viên lưu nghĩa của kỹ  
HĐ2: Sâu sắc hóa bản giữ kết năng tự  
chất khái niệm tự nhận quả để nhận thức và  
ý
thức và làm thế nào để  
có kỹ năng tự nhận thức  
đúng  
thảo  
luận,  
biết cách rèn  
kỹ năng tự  
thuyết nhận thức.  
trình  
Yêu cầu sinh viên hiểu rõ:  
1. Qua HĐ1Kỹ năng tự cho hoạt  
nhận thức bản thân là gì?  
2. Ý thức về các đặc điểm  
khác nhau của bản thân để  
làm gì?  
động ở  
lớp.  
3. Để nhận thức/đánh giá  
đúng về mình, mỗi người  
cần phải làm gì? ...  
.
Thực  
Thiếu  
công cụ:  
Rèn luyện kỹ năng tự  
nhận thức  
Cửa HĐ3: Tiếp nhận đánh  
Tại lớp Tất cả sinh  
hành  
HĐ4: Rèn kỹ -  
Thực  
hiện  
viên trong  
lớp đều  
năng tự nhận sổ  
Joe giá, nhận xét của người theo yêu được thực  
thức.  
Luft  
và khác về mình  
cầu của hành trải  
Harry  
Ingham  
(Joe  
B1: Vẽ cửa sổ Joe Harry,  
thể hiện bản thân trong  
các Ô cửa sổ  Kết quả ở  
HĐ 1)  
giáo  
viên  
nghiệm  
trong từng  
hoạt động  
Harry)  
Kết hợp không  
B2: Chuyển cửa sổ JH HĐ cá khí lớp học  
cho các bạn trong lớp nhân và rất sôi nổi,  
 càng nhiều càng tốt) để  
HĐ  
tạo hiệu ứng  
113  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
nhận xét đánh giá về bạn nhóm tốt đạt  
ở Ô “Mù”  
hiệu quả  
B3: Tiếp nhận ý kiến của  
những bạn trong lớp.  
B4:  hia lớp thành nhiều  
nhóm nhỏ   -5 sinh  
viên/nhóm)  
Các nhóm trình bày với  
nội dung vừa thực hiện ở  
các bước trên, tất cả mọi  
người đều được ghi hình  
lại.  
cao.  
- Hiểu bản  
thân có thể  
trưởng thành  
như thế nào  
trong việc tự  
nhận  
chính mình,  
-
biết  
Trải  
B5: Mỗi nhóm xem lại  
clip, phân tích, chọn ra 1  
bạn nổi bật chiếu trước  
lớp, các nhóm khác nhận  
xét.  
HĐ4: Trò chơi: Vượt  
qua thử thách  
HĐ5: Xử lý các tình  
huống  
nghiệm  
những đánh  
giá của  
người khác  
về mình và  
có thái độ  
tích cực đối  
với những  
nhận  
xét,  
TH1: Bạn muốn thi vào  
trường Đại học Mỹ thuật  
theo sở thích của mình.  
Bố mẹ bạn muốn bạn thi  
vào trường Sư phạm vì bố  
mẹ có cơ hội tìm chỗ làm  
tốt cho bạn. Vậy bạn sẽ  
quyết định thế nào?  
TH2: …  
đánh giá đó.  
...  
HĐ 6: ...  
.
Vận  
Vận dụng vào:  
Tại lớp Tự tin trong  
dụng  
- Học tập: làm việc nhóm,  
và  
học tập và  
Trong học tập  
và giao tiếp  
thuyết trình, tự học, tự Tại nhà giao tiếp.  
nghiên cứu...  
- Giao tiếp có hiệu quả;  
- Vui chơi giải trí...  
 Nguồn Nguyễn Hữu Long [6], Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa [7])  
114  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
4. Kết luận  
cần thiết. Bài viết đã lựa chọn mô hình  
lớp học đảo ngược làm cơ sở phân tích  
sự biến đổi kiến thức, kỹ năng và thái  
độ thành năng lực, kinh nghiệm cá nhân  
trong giáo dục kỹ năng tự nhận thức  
bản thân.  
Tự nhận thức đóng vai trò cực kỳ  
quan trọng đối với thành tích cá nhân,  
đến mức 83% những người có mức độ tự  
nhận thức cao là những người đứng đầu  
về hiệu suất công việc. Khi biết tự nhận  
thức, nhiều khả năng con người theo  
đuổi đúng cơ hội hơn, biết cách vận  
dụng thế mạnh của mình vào công việc  
và điều quan trọng nhất là không để cho  
cảm xúc ngăn trở mình. Càng hiểu rõ về  
mặt tốt đẹp và mặt hạn chế bao nhiêu thì  
chúng ta càng phát huy toàn bộ tiềm  
năng của mình tốt bấy nhiêu.  
Biện pháp này giải quyết được yếu  
tố thời gian, giúp người học cảm thấy  
thoải mái hơn, hứng thú hơn khi tham  
gia rèn kỹ năng tự nhận thức đạt hiệu  
quả. Tuy nhiên để minh chứng tính hiệu  
quả của nó cần phải được thực nghiệm,  
đó cũng là hướng phát triển của bài viết;  
hơn nữa đó cũng chính là định hướng  
để nhân rộng hình thức giáo dục theo  
mô hình lớp học đảo ngược để rèn  
luyện các kỹ năng khác cho sinh viên.  
Chính vì vậy việc thiết kế lại hoạt  
động tổ chức giảng dạy kỹ năng tự nhận  
thức bản thân đạt hiệu quả là việc làm  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ismartkids – Trung tâm phát triển tài năng trẻ em (2016), “Kỹ năng tự nhận  
2. PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình  chủ biên) (2015), Giáo dục kỹ năng sống, Tài  
liệu tham khảo dành cho giáo viên Mầm non và Tiểu học  
3. PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình (2015), Giáo dục kỹ năng sống, Tài liệu tham  
khảo dành cho giáo viên THCS và THPT  
4. Phạm Thị Kim Thoa (2013), Tự ý thức của sinh viên tại một số trường đại  
học TP.HCM - Luận văn thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh  
5. Tô Thị Diễm Quyên, giảng viên chương trình ứng dụng công nghệ thông tin  
vào dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), “Lớp học đảo ngược”,  
6. Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Ngọc Duy, Võ Minh Thành (2016), Phát triển  
kỹ năng sống, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh  
7. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa (2010), Giáo dục giá trị và kỹ  
năng sống cho học sinh phổ thông, Tài liệu tập huấn/ bồi dưỡng giáo viên  
115  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
THE TEACHING OF SELF-AWARENESS SKILL AT DONGNAI  
UNIVERSITY USING THE FLIPPED CLASSROOM MODEL  
ABSTRACT  
The teaching of life skills needs to follow a path starting with awareness, going  
through attitude, emotion, and belief, continuing with behavior, and ending with  
habit, thus requiring continuity, adjustment, time as well as other conditions. Under  
current educational conditions, it is not easy to meet the demand for a certain skill.  
The article uses the flipped classroom model for effective life skills education, which  
is clarified through self-awareness.  
Keywords: Self-awareness, flipped classroom model  
(Received: 1/8/2017, Revised: 9/10/2017, Accepted for publication: 24/10/2017)  
116  
pdf 11 trang yennguyen 12300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tổ chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai theo mô hình lớp học đảo ngược", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfto_chuc_giao_duc_ky_nang_tu_nhan_thuc_ban_than_cho_sinh_vien.pdf