Một số giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên ở Đại học Thái Nguyên

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
MỘT Sꢀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHꢁT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
CHO CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
Trần Thị Hồng, Trường Đại hꢀc Khoa hꢀc - Đại hꢀc Thái Nguyên  
Ngày nhận bài: 02/01/2019; ngày sửa chữa: 25/01/2019; ngày duyệt đăng: 31/01/2019.  
Abstract: In the article, we focus on clarifying the potentials for scientific and technological  
activities as well as evaluating the results of scientific and technological activities of Thai Nguyen  
University in the 2011-2015 period. At the same time, we also point out the limitations that exist.  
Since then, we propose some solutions to improve the quality of scientific research for officials  
and lecturers at Thai Nguyen University.  
Keywords: Science, technology, science and technology, scientific research, university.  
nhân văn; khoa hꢀc kĩ thuật công nghiệp, nông lâm  
nghiệp, chăn nuôi, thú y, thủy sản; khoa hꢀc sự sống;  
khoa hꢀc môi trường; khoa hꢀc Y - dược; công nghệ  
thông tin và truyền thông. NCKH và chuyển giao công  
nghệ của ĐH Thái Nguyên được triển khai ở 7 cơ sở giáo  
dục ĐH thành viên, 2 khoa trực thuộc, 1 trường cao đẳng,  
3 viện nghiên cứu trực thuộc ĐH và 5 trung tâm nghiên  
cứu, chuyển giao KHCN. Các kết quả NCKH của ĐH  
Thái Nguyên đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo  
nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tạo ra các sản  
phẩm KHCN, phục vụ đắc lực nhu cầu phát triển kinh tế,  
xã hội của vùng trung du miền núi phía Bắc và trong cả  
nước. Tuy nhiên, tỉ lệ đề tài NCKH tạo ra các sản phẩm  
có hàm lượng khoa hꢀc cao còn thấp, các sản phẩm ứng  
dụng có ý nghĩa với sản xuất còn hạn chế nên rất khó  
thương mại hóa sản phẩm, chuyển giao cho doanh  
nghiệp. Bài viết đề xuất một số giải pháp góp phần nâng  
cao chất lượng nghiên cứu khoa hꢀc cho cán bộ, giảng  
viên ở ĐH Thái Nguyên.  
1. Mở đầu  
Vai trò và vị trí của giáo dục đại hꢀc (GDĐH) nói  
chung và các trường đại hꢀc (ĐH) nói riêng ngày càng  
trở nên quan trꢀng. Các trường ĐH không chỉ có vai trò  
chủ chốt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực khoa hꢀc và  
công nghệ trình độ cao mà thực sự đã và đang trở thành  
các trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới và  
chuyển giao công nghệ hiện đại, góp phần vào sự phát  
triển bền vững. Một trường ĐH hiện đại, chất lượng cao,  
phải là nơi giao thoa của ba chức năng: đào tạo, nghiên  
cứu khoa hꢀc (NCKH) và phục vụ xã hội, trong đó  
NCKH là yếu tố có quyết định tới chất lượng của hai  
chức năng còn lại. Việc kết hợp chặt chẽ của ba chức  
năng này hiện nay cũng là xu hướng cơ bản trong chiến  
lược phát triển GDĐH của các nước trên thế giới. Nghị  
quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính  
phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ĐH đã đưa  
ra mục tiêu cụ thể của GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-  
2020 trong hoạt động khoa hꢀc và công nghệ phải đạt  
“Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa  
học và công nghệ trong các trường ĐH. Các trường ĐH  
lớn phải là các trung tâm NCKH mạnh của cả nước,  
nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất  
và dịch vụ đạt tối thiểu 25% tổng nguồn thu của các  
trường ĐH vào năm 2020” [1], cũng như quan tâm đến  
việc nâng dần vị thế của các trường ĐH nước ta trong  
xếp hạng các trường ĐH của thế giới. Quyết định số  
121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy  
hoạch mạng lưới các trường ĐH và cao đẳng giai đoạn  
2006-2020 có đặt mục tiêu đến năm 2020 “Việt Nam có  
1 trường ĐH được xếp hạng trong số 200 trường ĐH  
hàng đầu thế giới” [2].  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ tại  
Đại học Thái Nguyên  
2.1.1. Tiềm lực cho hoạt động khoa học công nghệ của  
Đại học Thái Nguyên  
Về đội ngũ: Tính đến thời điểm 31/12/2017, ĐH Thái  
Nguyên có tổng số 4.317 cán bộ, giảng viên; trong đó, số  
cán bộ có chức danh giáo sư là 13; phó giáo sư là 117; số  
cán bộ có hꢀc vị tiến sĩ và tương đương là 586; thạc sĩ và  
tương đương là 2.182, trình độ ĐH là 1.134.  
Về cơ sởvật chất phòng thí nghiệm: ĐH Thái Nguyên  
hiện nay có hệ thống phòng thí nghiệm được đầu tư từ  
các chương trình dự án đầu tư của Nhà nước như Dự án  
phòng thí nghiệm trꢀng điểm, dự án tăng cường năng lực  
nghiên cứu... Cụ thể, ĐH Thái Nguyên đã xây dựng 08  
dự án Tăng cường năng lực NCKH đầu tư thiết bị cho  
các phòng thí nghiệm trꢀng điểm bằng nguồn vốn  
ĐH Thái Nguyên là ĐH định hướng nghiên cứu đa  
ngành, đa lĩnh vực; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với  
NCKH và chuyển giao khoa hꢀc công nghệ (KHCN)  
trong các lĩnh vực: khoa hꢀc tự nhiên; khoa hꢀc xã hội -  
17  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
KHCN với tổng kinh phí là: 37.867.000.000 đồng. Các  
Tuy nhiên, qua so sánh hai giai đoạn chúng tôi nhận  
thiết bị đầu tư từ các dự án trên đều đã lắp đặt nghiệm thu thấy, ĐH Thái Nguyên mới chỉ tập trung chủ yếu vào  
và đưa vào khai thác, sử dụng có hiệu quả. ĐH Thái nhiệm vụ khoa hꢀc và công nghệ cấp cơ sở, song nhiệm vụ  
Nguyên cũng đã xây dựng dự án vay vốn ODA - Italia khoa hꢀc và công nghệ cấp Nhà nước và cấp Bộ còntương  
đầu tư trang thiết bị phòng thí nghiệm cho trường ĐH đối khiêm tốn, phần nào phản ánh năng lực đề xuất và giải  
Nông Lâm với tổng kinh phí là 19.781.812.000 đồng.  
quyết các vấn đề lớn ở tầm khu vực, quốc gia và mang tính  
đột phá còn hạn chế, được thể hiện rất rõ ở biểu đồ 1.  
Về đầu tư tài chính phục vụ hoạt động  
KHCN: ĐH Thái Nguyên đã sử dụng có hiệu quả  
6000  
nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, nguồn  
ngân sách từ các địa phương và nguồn kinh phí  
từ các nguồn thu hợp pháp của ĐH cho các hoạt  
động KHCN. Trong nhiều năm qua, các nhiệm  
vụ KHCN của ĐH Thái Nguyên đều thực hiện  
tốt các quy định về tài chính, sử dụng đúng mục  
chi, không có trường hợp nào bị xuất toán.  
5000  
4000  
3000  
2000  
1000  
0
2.1.2. Kết quả hoạt động khoa học công nghệ của  
Đại học Thái Nguyên thời gian qua  
Giai đoạn 2006-2010  
Giai đoạn 2011-2015  
ĐH Thái Nguyên luôn quan tâm tới phát triển  
hoạt động KHCN, xây dựng ĐH Thái Nguyên  
thành trung tâm NCKH có uy tín của vùng, từ  
năm 2006 đến nay, hoạt động khoa hꢀc và công  
nghệ của ĐH Thái Nguyên đã có bước phát triển  
mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng theo  
hướng chuyên sâu, gắn bó chặt chẽ với sản xuất,  
đời sống kinh tế, xã hội khu vực và phục vụ đắc  
lực cho đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.  
Kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN các cấp của  
ĐH Thái Nguyên được thể hiện ở bảng 1.  
Nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước  
Nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ  
Nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở  
Biểu đồ 1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ  
các cấp của ĐH Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015  
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ban khoa học và công nghệ  
- Môi trường - ĐH Thái Nguyên, 2015)  
Bảng 1. Kết quả thꢀc hiện nhiệm vụ KHCN các cấp của ĐH Thái Nguyên  
Giai đoạn 2011-2015  
Giai đoạn  
2006-2010  
Tên đề tài, dự án  
Tổng  
2011-2015  
2011 2012 2013 2014 2015  
Nhiệmvụ khoa hꢀc và côngnghệ cấpNhà nước  
8
1
7
1
4
1
4
0
1
2
1
0
23  
3
21  
7
1
2
3
4
5
Đề tài độc lập  
Đề tài nghiên cứu song phương  
Nghiên cứu cơ bản  
Đề tài Nghị định thư  
Nhiệm vụ quỹ gen  
0
0
1
2
0
4
3
2
11  
7
2
1
0
4
6
1
2
0
3
0
Nhiệm vụ khoa hꢀc và công nghệ cấp Bộ  
11  
9
15  
14  
0
21  
18  
1
29  
29  
0
17  
16  
93  
22  
22  
7
1
2
3
Đề tài NCKH cấp Bộ  
Dự án/ Chương trình  
86  
1
2
Dự án sản xuất thử nghiệm  
1
1
2
1
0
5
5
Nhiệm vụ khoa hꢀc và công nghệ cấp cơ sở  
1.153 981  
1.054 915  
4.343  
327  
1.733  
2.283  
5.070  
419  
1.889  
2.644  
1
2
3
Đề tài NCKH cấp ĐH  
Đề tài NCKH cấp cơ sở  
Đề tài NCKH sinh viên  
87  
93  
77  
70  
70  
450  
500  
410  
656  
510  
471  
397  
657  
416  
499  
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ban khoa học và công nghệ - Môi trường - ĐH Thái Nguyên, 2015)  
18  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
- Công bố kết quả NCKH trên tạp chí trong và ngoài  
nước: Giai đoạn 2011-2015, ĐH Thái Nguyên có tổng số  
là 3.083 bài viết được công bố, trong đó có 429 bài báo  
khoa hꢀc được đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín và  
2.654 bài viết được công bố trên các tạp chí trong nước.  
Công bố trong nước của ĐH Thái Nguyên có số lượng  
lớn hơn và tăngmạnh qua từng giai đoạn, từ 1.601 bài giai  
đoạn 2006-2010 tăng lên 2.654 bài giai đoạn 2011-2015  
(tăng hơn 1.000 bài). Mặc dù, công bố quốc tế của giai  
đoạn sau có tăng so với giai đoạn trước nhưng vꢁn chiếm  
số lượng khá khiêm tốn, được thể hiện ở biểu đồ 2.  
Hiệnnay,nguồnlựctàichínhcủaĐHTháiNguyênbao  
gồm: Tiền từ ngân sách nhà nước cấp; tiền thu từ thu phí  
và lệ phí; tiền thu từ các nguồn thu khác như: Hợp tác  
NCKH, hợp tác quốc tế, vốn tài trợ ODA của Chính phủ,  
vốn vay của các quỹ hỗ trợ phát triển, hỗ trợ đầu tư. Tổng  
các khoản chi của ĐH Thái Nguyên trong giai đoạn 2011-  
2015 là 4.072.133 triệu đồng, trong đó chi thường xuyên là  
1.223.156 triệu đồng (tương đương 25%) tổng các khoản  
chi; Chi cho hoạt động khoa hꢀc và công nghệ là 119.035  
triệu đồng; chi không thường xuyên là 129558 triệu đồng  
và chi cho cơ sở vật chất và chi khác là 2.403.267 triệu  
đồng, được thể hiện ở biểu đồ 4 (trang bên).  
3000  
2500  
2000  
1500  
1000  
500  
0
Giai đoạn 2006-2010  
Giai đoạn 2011-2015  
Tạp chí nước ngoài  
Tạp chí trong nước  
Biểu đồ 2. Công bố quốc tế và trong nước của ĐH Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015  
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ban khoa học và công nghệ - Môi trường - ĐH Thái Nguyên, 2015)  
- Hợp tác quốc tế trong NCKH và chuyển giao công Biểu đồ 4 cho thấy, nguồn kinh phí dành cho  
nghệ: Sản phẩm khoa hꢀc từ các đề tài NCKH được hoạt động khoa hꢀc và công nghệ chiếm một tỉ lệ khá  
chuyển giao công nghệ có xu hướng tăng lên, nhưng chậm khiêm tốn trong tổng nguồn chi của ĐH Thái Nguyên.  
và khôngđềuquacác nămvàchủyếuthuộc lĩnhvực Nông Kinh phí ít cũng là một trong những nguyên nhân ảnh  
- Lâm - Ngư nghiệp; Kĩ thuật công nghiệp, song có số hưởng đến chất lượng của hoạt động NCKH trong ĐH  
lượng tương đối khiêm tốn được thể hiện ở biểu đồ 3.  
Thái Nguyên.  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
Số lượng sản phẩm KHCN được chuyển giao  
Biểu đồ 3. Hoạt động chuyển giao công nghệ của ĐH Thái Nguyên giai đoạn 2010-2015  
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ban khoa học và công nghệ - Môi trường - ĐH Thái Nguyên, 2015)  
19  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
- Tỉ trꢀng nguồn thu từ hoạt  
động KHCN chưa cao. Việc khai  
thác các nguồn kinh phí khác  
nhau cho hoạt động KHCN còn  
thiếu linh hoạt, hiệu quả.  
- Số lượng giảng viên tích cực  
tham gia NCKH còn hạn chế,  
NCKH chỉ tập trung vào một số  
cán bộ hoặc một số đơn vị nhất  
định. Đầu tư về thời gian cho  
NCKH của giảng viên chưa nhiều.  
- Kinh phí đầu tư cho hoạt  
động khoa hꢀc và công nghệ còn  
thấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị  
phục vụ nghiên cứu khoa hꢀc còn  
bất cập, chưa đồng bộ hoặc thiếu...  
Biểu đồ 4. Tỉ lệ các nguồn thu - chi của ĐH Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015  
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ban khoa học và công nghệ - Môi trường  
- ĐH Thái Nguyên, 2015)  
Tóm tại: Hoạt động khoa hꢀc và công nghệ của ĐH  
2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu  
khoa học cho cán bộ, giảng viên ở Đại học Thái Nguyên  
Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 đã có bước chuyển  
hướng mạnh mẽ, các chương trình, dự án, đề tài nghiên  
cứu tập trung vào giải quyết các vấn đề lớn của các tỉnh và  
Chính phủ, đáp ứng yêu cầu của đời sống kinh tế, xã hội.  
Sự chuyển hướng về chất trong NCKH đó là thay đổi tư  
duy từ NCKH phục vụ giảng dạy sang NCKH phục vụ  
kinhtế, xã hội và bổsung nângcaochất lượng đàotạo, đáp  
ứngyêucầuthựctế. Hoạt động khoa hꢀc và côngnghệ của  
ĐH Thái Nguyên khá đa dạng, từ nghiên cứu cơ bản về  
các lĩnh vực khoa hꢀc tự nhiên, khoa hꢀc xã hội nhân văn,  
kinh tế đến nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong  
công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp, y dược, công nghệ  
thông tin và truyền thông. Tuy nhiên, hoạt động khoa hꢀc  
và công nghệ vꢁn chưa thực sự là điểm mạnh của ĐH Thái  
Nguyên, đặc biệt là hàm lượng khoa hꢀc của các đề tài  
NCKH chưa cao được thể hiện ở các mặt sau:  
Nhằm tạo tiền đề quan trꢀng để ĐH Thái Nguyên trở  
thành ĐH định hướng nghiên cứu đa ngành vào năm  
2030 thì cần tập trung tăng cường hàm lượng NCKH, từ  
đó nâng cao chất lượng đào tạo, trình độ đào tạo của ĐH  
Thái Nguyên được coi hướng đi hợp lí và phù hợp với  
bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một  
số giải pháp cụ thể sau để góp phần nâng cao hàm lượng  
NCKH cho ĐH Thái Nguyên trong thời gian tới.  
2.2.1. Kiện toàn các đơn vị nghiên cứu trong Đại học  
Thái Nguyên  
Muốn hàm lượng NCKH trong trường ĐH cao thì hệ  
thống các đơn vị nghiên cứu phải mạnh. Theo thống kê,  
ĐH Thái Nguyên có 6 viện nghiên cứu, trong đó một  
viện mới được thành lập và 3 trung tâm thực hiện chức  
năng nghiên cứu, nhưng so với nhiệm vụ được giao, với  
yêu cầu ĐH vùng, ĐH trꢀng điểm quốc gia phải phát  
triển hoạt động NCKH hơn nữa, thì hệ thống này còn  
chưa đủ để đáp ứng.  
- Số lượng đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ còn hạn chế;  
Các hợp đồng, dự án, chương trình nghiên cứu chủ yếu  
tập trung ở lĩnh vực Nông lâm nghiệp, Kĩ thuật công  
nghiệp; Các nghiên cứu nhằm phục vụ trực tiếp cho địa  
phương còn hạn chế; Sự gắn kết giữa nghiên cứu và  
giảng dạy chưa cao. Nghiên cứu ứng dụng đã đạt được  
những kết quả nhất định nhưng còn mờ nhạt hơn so với  
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai còn khá ít ỏi,  
mặc dù đã có vài dự án sản xuất nhưng kết quả là chưa  
tương xứng với tiềm năng hiện có của ĐH Thái Nguyên.  
Các sản phẩm ứng dụng của đề tài NCKH có ý nghĩa với  
sản xuất còn hạn chế nên rất khó thương mại hóa sản  
phẩm, chuyển giao cho doanh nghiệp.  
- Cơ chế quản lí của ĐH Thái Nguyên đối với các đơn  
vị nghiên cứu - triển khai (Viện, Trung tâm, Công ty,...)  
còn nhiều bất cập như: khoán trắng cho đơn vị NCKH  
chỉ yêu cầu đơn vị đóng góp mà ít quan tâm việc quản lí  
các đơn vị này; chưa thống nhất chức năng quản lí các  
đơn vị nghiên cứu - triển khai, thiếu cơ chế khuyến khích  
phát triển đầu tư lại cho đơn vị nghiên cứu - triển khai;  
chưa chú ý chỉ đạo nhiệm vụ chuyển giao công nghệ mà  
công việc này chủ yếu do một số cá nhân tự tìm địa chỉ  
để chuyển giao.  
- Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng  
lại ở phạm vi hẹp, chưa được nhân rộng và chưa đáp ứng  
-Cácgiảngviênlàmviệc ởcácđơnvịnghiêncứu -triển  
được nhu cầu trong đào tạo. Phần lớn các nhiệm vụ khai phần lớn là kiêm nhiệm, chủ yếu tập trung cho giảng  
chuyển giao công nghệ còn nhỏ lẻ, phạm vi ảnh hưởng dạy(nhất là ởmột sốchuyên ngành có giờdạy quá lớn) nên  
còn hạn chế và chưa tạo hiệu quả rõ rệt trong sản xuất.  
thời gian cho NCKH, chuyển giao công nghệ bị hạn chế.  
20  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
- Hoạt động chuyển giao công nghệ ở các viện và NCKH mà còn hiệu quả trong công tác đào tạo sau ĐH,  
trung tâm nghiên cứu thuộc ĐH Thái Nguyên hiện còn lực lượng các hꢀc viên cao hꢀc và nghiên cứu sinh là  
mang tính thời vụ, không liên tục. Các nhà khoa hꢀc còn nguồn nhân lực chủ yếu trong các phòng nghiên cứu,  
thiếu nhiều kinh nghiệm hoạt động kinh tế trong hoàn nhóm nghiên cứu.  
cảnh nền kinh tế nước ta chuyển từ bao cấp sang kinh tế  
thị trường.  
+ Đầu tư mua sắm trang thiết bị máy móc hiện đại  
chocác viện, các trung tâm nghiêncứu. Mặc dù, ĐH Thái  
- Trang thiết bị, cơ sở vật chất, mặt bằng để triển  
khai chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh ở các  
trường ĐH còn rất thiếu thốn, lạc hậu và không đồng bộ  
so với cơ sở sản xuất kinh doanh, điều đó hạn chế rất  
nhiều đến hoạt động triển khai, nhất là tham gia đấu  
thầu các công trình.  
Nguyên đã chú trꢀng ưu tiên đầu tư tập trung cho một số  
phòng thí nghiệm như Viện Khoa hꢀc sự sống, Bệnh viện  
thực hành, Phòng Thí nghiệm huyết hꢀc - miễn dịch và  
chẩn đoán hình ảnh Trường ĐH Y dược, Viện nghiên  
cứu tự động hóa và công nghệ cao theo hướng đồng bộ  
và chuyên sâu. Tuy nhiên, trang thiết bị nghiên cứu, thí  
nghiệm vꢁn còn thiếu, chưa đáp ứng được kì vꢀng nâng  
cao chất lượng NCKH.  
Vì vậy, để làm cho hệ thống các đơn vị nghiên cứu  
của ĐH Thái Nguyên mạnh trong thời gian tới, cần phải:  
+ Các viện, các trung tâm nghiên cứu quá phân tán  
và nhỏ. Vì vậy, một mặt trong khi chờ đợi thành lập các  
viện mới, phải coi thành lập và phát triển các trung tâm,  
các phòng thí nghiệm (trong quyền hạn của ĐH Thái  
Nguyên) là chiến lược quan trꢀng để đẩy mạnh các hoạt  
động nghiên cứu - triển khai trong tình hình mới.  
- Về mặt cơ cấu tổ chức của các đơn vị nghiên cứu.  
+ Rà soát lại và quy hoạch tổng thể hệ thống các viện  
và trung tâm nghiên cứu, phân cấp quản lí để một mặt  
tránh phân tán như hiện nay. Mặt khác, ban hành quy  
định về tiêu chí đối với từng loại viện, trung tâm, phòng  
thí nghiệm để đầu tư có trꢀng điểm.  
- Về mặt nhân lực của các đơn vị nghiên cứu, cần có  
số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ đủ mạnh để tiến  
hành nghiên cứu một cách đồng bộ hướng chuyên môn  
đã xác định gồm các nhà khoa hꢀc có uy tín như giáo sư  
hay phó giáo sư có tên tuổi làm trưởng nhóm, các nghiên  
cứu viên (có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân), một số kĩ  
thuật viên (biên chế, kiêm nhiệm hay hợp đồng), nghiên  
cứu sinh, hꢀc viên cao hꢀc và sinh viên làm khoá luận.  
Để phát huy hiệu quả làm việc của giảng viên và cán bộ  
nghiên cứu trong các đơn vị nghiên cứu, ĐH Thái  
Nguyên cần ban hành quy chế, trong đó quy định rõ  
nhiệm vụ cho từng loại cán bộ và có cơ chế phối hợp hoạt  
động trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.  
+ Có kế hoạch và phương án cụ thể để chuyển đổi các  
đơn vị nghiên cứu thành: Các tổ chức khoa hꢀc và công  
nghệ tự trang trải tài chính hoặc các doanh nghiệp khoa  
hꢀc và công nghệ theo tinh thần của Nghị định số  
115/2005/ NĐ-CP. Thực tế, các đơn vị nghiên cứu của  
ĐH Thái Nguyên vꢁn hoạt động dựa vào đảm bảo của  
ngân sách nhà nước, chỉ có duy nhất một viện đã tự trang  
trải được tài chính theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP.  
Chính vì vậy, ĐH Thái Nguyên phải có lộ trình chuyển  
đổi 4 viện còn lại theo tinh thần của Nghị định số  
115/2005/NĐ-CP và đối với các viện thành lập mới phải  
có quy chế hoạt động ngay theo Nghị định này.  
+ Ban hành quy chế quy định về nguyên tắc xây dựng  
và hoạt động của các viện, trung tâm, cộng tác viên của  
các viện, để tạo ra cơ sở pháp lí của sự liên thông giữa hệ  
thống đào tạo (các đơn vị đào tạo) và hệ thống các đơn  
vị NCKH. Tạo sự thông thoáng và gắn bó về mặt tổ chức  
và quản lí cho hai loại cán bộ ở hệ thống nghiên cứu với  
hệ thống đào tạo bằng những quy định chi tiết và cụ thể,  
tránh hiện tượng trung tâm khép kín và thậm chí nằm  
ngoài cuộc như hiện nay. Theo kết quả khảo sát của  
chúng tôi thì hệ thống đào tạo và hệ thống nghiên cứu  
của ĐH Thái Nguyên đang hoạt động tách rời một cách  
rõ rệt. Các đơn vị nghiên cứu của ĐH Thái Nguyên chỉ  
có nhiệm vụ nghiên cứu còn nhiệm vụ đào tạo thuộc về  
các trường ĐH thành viên của ĐH Thái Nguyên.  
2.2.2. Phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong Đại  
học Thái Nguyên  
Các nhóm nghiên cứu mạnh, liên ngành, kết hợp lại  
một cách linh hoạt, được tăng cường kinh phí và trang  
thiết bị hiện đại nhất để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ  
KHCN trꢀng điểm tầm quốc gia, quốc tế, sẽ tạo ra những  
sản phẩm KHCN xuất sắc. Đó cũng là nơi thu hút, đào  
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là nơi gắn kết với các  
đối tác lớn trong và ngoài nước. Tuy nhiên, qua kết quả  
khảo sát cho thấy, hoạt động của nhóm nghiên cứu tại  
các trường ĐH thành viên thuộc ĐH Thái Nguyên chưa  
có hiệu quả cao do thiếu các cơ chế quản lí, thiếu kinh  
phí hỗ trợ cho nhóm nghiên cứu hoạt động. Mặt khác,  
trưởng/phó của các nhóm nghiên cứu thường kiêm  
nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lí trong trường nên  
thời gian dành cho sinh hoạt chuyên môn nhóm, định  
+ Cần phải có quy chế thiết lập sự hài hoà, hợp tác  
cùng có trách nhiệm và cùng có lợi giữa các viện, trung  
tâm nghiên cứu và các cấp quản lí (Trường, Khoa). Điều  
này sẽ phát huy tác dụng không chỉ trong hoạt động hướng, dꢁn dắt các thành viên của nhóm nghiên cứu  
21  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
không nhiều. Theo kết quả quan sát của chúng tôi, có thành viên. Điều này, sẽ góp phần nâng tổng số đội ngũ cán  
những nhóm nghiên cứu làm việc nhưng chỉ mang tính bộ, giảng viên có trình độ cao trong ĐH Thái Nguyên.  
hình thức, mỗi người theo một vấn đề riêng lẻ nhưng  
- Thực hiện chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ cho cán  
không tạo tiếng nói chung, hướng đến mục đích chung,  
cho nên không phát huy được sự hợp tác, trao đổi, chia  
sẻ ý tưởng với nhau. Điều này ngược lại với xu hướng  
thế giới, nhóm nghiên cứu là sự bù đắp điểm yếu của  
nhau, giúp các thành viên tích lũy được kinh nghiệm theo  
thời gian. Do vậy, chúng tôi nhận thấy, để xây dựng được  
những nhóm nghiên cứu mạnh trong trường ĐH cần phải  
xuất phát từ hai phía.  
bộ, giảng viên là yếu tố số lượng cũng như chất lượng  
các bài báo quốc tế trong thời gian tới. Theo kết quả khảo  
sát của chúng tôi, thì có đến 71,8% cán bộ, giảng viên,  
nghiên cứu viên còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, nhất  
là tiếng Anh, đây là lí do chính làm cho số lượng bài báo  
quốc tế trở nên ít ỏi trong thời gian qua.  
- Ban hành quy định về cơ chế giao nhiệm vụ khoa  
hꢀc và công nghệ tiềm năng cho cán bộ khoa hꢀc trẻ, các  
nhóm sinh viên giỏi trong một số trường ĐH thành viên  
và các viện nghiên cứu trꢀng điểm thuộc ĐH Thái  
Nguyên. Việc làm này một mặt tạo cơ hội cho đội ngũ  
cán bộ khoa hꢀc trẻ và các sinh viên giỏi được tham gia  
NCKH, mặt khác tận dụng được lượng chất xám đáng kể  
của đội ngũ này để nâng cao chất lượng NCKH của ĐH.  
- Phía các nhà khoa học: Phải có tâm huyết và có  
mong muốn được cống hiến, được nghiên cứu, được làm  
việc nhóm, cónăng lực; trình độ và có uytín khoa hꢀc cao.  
Trong đó, người nhóm trưởng đóng vai trò quyết định đến  
sự thành bại của nhóm nghiên cứu nên trưởng nhóm  
nghiên cứu phải biết tập hợp được đội ngũ, xác định được  
hướng đi và hướng phát triển cho nhóm và phải năng lực  
tổchức, biết hi sinh, có khả năng ngoại ngữ và tổ chức làm  
việc của nhóm một cách phù hợp và khoa hꢀc.  
- Đẩy mạnh hợp tác trao đổi nghiên cứu giữa các  
trường ĐH, các viện, trung tâm nghiên cứu thông qua  
việc phối hợp tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa hꢀc.  
Việc làm này tạo cơ hội cho đội ngũ cán bộ, giảng viên  
trong ĐH được hꢀc hỏi thêm kinh nghiệm nghiên cứu  
của nhau.  
- Phía lãnh đạo trường ĐH thành viên của ĐH Thái  
Nguyên: Phải có tầm nhìn và chính sách thỏa đáng đầu  
tư cho nhóm nghiên cứu. Nếu lãnh đạo nhà trường quan  
tâm, nhận thức được vai trò quan trꢀng của các nhóm  
nghiên cứu mạnh trong đào tạo và nghiên cứu, quan tâm  
đầu tư và vun đắp cho các nhà khoa hꢀc và các nhóm  
nghiên cứu, gắn đào tạo với nghiên cứu thì nhất định  
công tác đào tạo của trường ĐH sẽ có chất lượng tốt và  
các nhóm nghiên cứu trong trường sẽ phát triển nhanh và  
mạnh, tiến tới các nghiên cứu quốc tế. Do vậy, cần phải  
nâng cao nhận thức của giảng viên về tầm quan trꢀng của  
nhóm nghiên cứu so với tư duy lợi thế cá nhân cũng như  
vai trò của nhóm nghiên cứu trong việc tạo ra uy tín,  
thương hiệu cho trường ĐH; Ban hành cơ chế quản lí  
cũng như hỗ trợ về cơ sở vật chất/kinh phí cho nhóm  
nghiên cứu hoạt động hiệu quả. Đối với các nhóm nghiên  
cứu mới thành lập, các nhà quản lí cần hỗ trợ trong việc  
xác định mục tiêu rõ ràng và phổ biến đến các thành viên  
trong nhóm.  
- Để nâng cao năng lực nghiên cứu và làm cho đội  
ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ, đặc biệt là  
những tiến sĩ trẻ mới bảo vệ trở thành chuyên gia, ĐH  
Thái Nguyên nên ban hành quy định bắt buộc người có  
hꢀc vị tiến sĩ phải tham gia nghiên cứu, tích cực thực hiện  
các đề tài khoa hꢀc và công nghệ.  
- Có cơ chế chính sách đặc biệt để lôi cuốn được đội  
ngũ nhân lực khoa hꢀc và công nghệ quốc tế đến hợp tác  
khoa hꢀc với ĐH Thái Nguyên để nâng cao năng lực  
nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của ĐH Thái  
Nguyên. Đồng thời, cần có cơ chế khen thưởng rõ ràng,  
theo định mức để tạo ra tính hấp dꢁn cho hoạt động  
NCKH sẽ góp phần tạo hứng thú, say mê ở đội ngũ cán  
bộ, giảng viên, nghiên cứu viên.  
- Cùng với cơ chế khen thưởng thì mỗi trường ĐH  
thành viên cũng cần tạo được một môi trường khoa hꢀc  
năng động thông qua các hình thức giải thưởng khoa hꢀc  
và công nghệ để tôn vinh các nhà khoa hꢀc, nghiên cứu  
viên có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH  
(Chẳng hạn: Giải thưởng đơn vị nghiên cứu của năm;  
Giải thưởng giảng viên xuất sắc của năm...). Có thể tham  
khảo mô hình của một số trường ĐH trên thế giới: dành  
một khoản ngân sách riêng cho những giảng viên có kết  
quả nghiên cứu được công nhận rộng rãi ở trong nước và  
quốc tế. Số tiền này tỉ lệ thuận với số công trình công bố  
2.2.3. Nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ,  
giảng viên của Đại học Thái Nguyên  
Nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ, giảng  
viên trong thời gian tới không chỉ góp phần nâng cao chất  
lượng NCKH mà còn từng bước giúp ĐH Thái Nguyên  
thực hiện đào tạo chất lượng cao thông qua việc gắn kết  
chặt chẽ hoạt động đào tạo với NCKH, từ đó tiến dần tới  
các tiêuchí của ĐH nghiên cứu thế giới. Để đạt được điều  
đó, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể sau:  
-Giaochỉtiêuđàotạocụthểsốlượngcánbộ,giảngviên trong năm và đảm bảo cho hꢀ có thể trang trải cho việc  
có trình độ tiến sĩ theo từng năm về cho các trường ĐH tham gia các Hội thảo trong nước và quốc tế.  
22  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 451 (Kì 1 - 4/2019), tr 17-23  
2.2.4. Tăng cường và đa dạng hóa nguồn kinh phí cho  
hoạt động khoa học công nghệ  
3. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động KHCN của  
ĐH Thái Nguyên trong thời gian qua đã đạt được những  
kết quả nhất định. Tuy nhiên, hàm lượng khoa hꢀc từ các  
kết quả nghiên cứu chưa cao, được thể hiện ở: số lượng  
đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ còn hạn chế; ứng dụng các  
kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa  
Với một ĐH mà đào tạo thông qua nghiên cứu và  
nghiên cứu để đào tạo chất lượng cao như ĐH Thái  
Nguyên hiện nay thì cần tăng tỉ trꢀng đầu tư cho nghiên  
cứu, phải được tăng lên thoả đáng so với tỉ lệ đầu tư cho  
thiết bị và chuyển giao công nghệ. Kết quả khảo sát 185  
cán bộ, các nhà khoa hꢀc cho thấy có đến 178/185 người được nhân rộng và chưa đáp ứng được nhu cầu trong đào  
(chiếm 96,2%) cho rằng cần phải tăng cường nguồn kinh tạo; phần lớn các nhiệm vụ chuyển giao công nghệ còn  
phí cho hoạt động KHCN. Kinh phí dành cho hoạt động  
KHCN ở ĐH Thái Nguyên hiện nay còn khá khiêm tốn  
(chưa đến 3% trên tổng kinh phí của ĐH Thái Nguyên).  
Đề tài cấp ĐH Thái Nguyên do đơn vị quản lí giai đoạn  
2015-2015 trung bình là 30 triệu/đề tài, cấp cơ sở là 5  
triệu/đề tài, đây là những con số còn quá khiêm tốn so  
với yêu cầu tiến tới trình độ khoa hꢀc quốc tế. Các kinh  
phí trên chỉ hỗ trợ cho thuê khoán chuyên môn trong  
nước, chưa đủ để làm các thí nghiệm đắt tiền và đặc biệt  
là thí nghiệm, báo cáo khoa hꢀc ở nước ngoài và xây  
dựng các nhóm nghiên cứu nhằm tập hợp lực lượng, thu  
hút cán bộ giỏi về công tác. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề  
xuất một số giải pháp trong thời gian tới là:  
nhỏ lẻ, phạm vi ảnh hưởng còn hạn chế và chưa tạo hiệu  
quả rõ rệt trong sản xuất; tỉ trꢀng nguồn thu từ hoạt động  
KHCN chưa cao; việc khai thác các nguồn kinh phí khác  
nhau cho hoạt động KHCN còn thiếu linh hoạt, hiệu quả.  
Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một số giải pháp góp  
phần tăng cường hàm lượng khoa hꢀc cho hoạt động  
KHCN của ĐH Thái Nguyên trong thời gian tới, góp  
phần làm hoạt động KHCN tại cơ sở sẽ đạt được những  
chuyển biến vượt bậc cả về sốlượngcũng nhưchất lượng.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Chính phủ (2005). Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về  
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt  
Nam giai đoạn 2006-2020.  
- Tăng kinh phí cho hoạt động nghiên cứu, tất nhiên  
không phải tăng kinh phí một cách “bình quân chủ nghĩa”  
mà đầu tư “có trꢀng điểm” những nhiệm vụ theo các  
hướng khoa hꢀc và công nghệ mũi nhꢀn, ưu tiên do Giám  
đốc/Hiệu trưởng xem xét quyết định trên cơ sở tư vấn của  
Hội đồng Khoa hꢀc Đào tạo và các hội đồng ngành/liên  
ngành của đơn vị. Tăng mức kinh phí cho các đề tài, đặc  
biệt là các đề tài trꢀng điểm cấp Bộ/cấp ĐH Thái Nguyên  
để đầu tư tập trung, đủ lực tạo ra những trường phái khoa  
hꢀc mạnh, những sản phẩm công nghệ có giá trị cao. Mặt  
khác, tăng kinh phí góp phần khuyến khích được người  
đảm nhiệm đề tài có “tâm” và đủ “tầm”.  
[2] Thủ tướng Chính phủ (2007). Quyết định số  
121/2007/QĐ-TTg ngày 27/07/2007 về Quy hoạch  
mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn  
2006-2020.  
[3] Trần Thị Hồng (2013). Giải pháp thúc đẩy hoạt  
động nghiên cứu khoa học xã hội tại Trường Đại  
học Khoa học - Đại học Thái Nguyên. Tạp chí Khoa  
hꢀc và Công nghệ, Đại hꢀc Thái Nguyên, số 112,  
tr 15-19.  
[4] Nguyễn Văn Tuấn (2011). Đi vào nghiên cứu khoa  
học. NXB Thành phố Hồ Chí Minh.  
- Phải có kế hoạch, chiến lược tăng dần mức kinh phí  
dành cho hoạt động khoa hꢀc và công nghệ. Trước mắt  
ĐH Thái Nguyên cần chỉ đạo các cơ sở GDĐH thành  
viên, các đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm chỉnh việc  
trích kinh phí cho hoạt động khoa hꢀc và công nghệ theo  
Nghị định số 99/2014/NĐ-CP là hằng năm, dành tối  
thiểu 5% kinh phí từ nguồn thu hợp pháp của cơ sở  
GDĐH để đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích  
hoạt động khoa hꢀc và công nghệ ở cơ sở GDĐH; dành  
tối thiểu 3% kinh phí từ nguồn thu hꢀc phí của cơ sở  
GDĐH để cho sinh viên và người hꢀc hoạt động NCKH.  
[5] Vũ Cao Đàm (2003). Phương pháp luận nghiên cứu  
khoa học. NXB Khoa hꢀc và Kĩ thuật.  
[6] Trường Đại hꢀc Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2013).  
Các giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu khoa học của  
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.  
[7] Nguyễn Trung Kiền (2018). Một số biện pháp nâng  
cao hứng thú nghiên cứu khoa học cho sinh viên sư  
phạm Trường Đại học Vinh. Tạp chí Giáo dục, số  
438, tr 18-22.  
[8] Đặng Thị Ngꢀc Phương (2016). Nâng cao năng lực  
nghiên cứu khoa học cho sinh viên khoa Giáo dục  
mầm non Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.  
Tạp chí Giáo dục, số 373, tr 20-23.  
- Cần có kế hoạch khai thác các nguồn kinh phí khác  
như: Kinh phí sự nghiệp kinh tế (xây dựng cơ bản và  
điều tra cơ bản) từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài  
Nguyên và Môi trường và các bộ khác; từ các doanh  
nghiệp và địa phương.  
[9] Lưu Xuân Mới (2003). Phương pháp luận nghiên  
cứu khoa học. NXB Đại hꢀc Sư phạm.  
23  
pdf 7 trang yennguyen 13160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên ở Đại học Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_nghien_cuu_khoa_hoc_cho.pdf