Thực trạng và yêu cầu xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành quy hoạch đô thị và nông thôn hiện nay

KHOA H“C & C«NG NGHª  
Thực trạng và yêu cầu xây dựng chương trình đào tạo  
chuyên ngành quy hoạch đô thị và nông thôn hiện nay  
Current situation and requirements for building a training curriculum of urban and rural planning  
Nguyễn Xuân Hinh, Lê Xuân Hùng  
1. Thực trạng chương trình đào tạo kiến trúc  
sư quy hoạch đô thị & nông thôn  
Tóm tắt  
Đất nước trên đường đổi mới phát triển, nền kinh tế xã hội nước ta tăng trưởng với  
Thực tế đào tạo Kiến trúc sư Quy hoạch hiện  
tốc độ cao, bộ mặt đô thị và nông thôn Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng. Tốc  
nay chỉ chủ yếu tập trung tại một số trường Đại  
độ đô thị hoá nhanh dẫn đến chất lượng đô thị khó kiểm soát và có nhiều vấn đề  
học công lập có bề dày đào tạo và có đội ngũ  
xấu xảy ra. Một trong các nguyên nhân có thể kể đến là công tác quy hoạch đô thị  
đang bộ lộ nhiều bất cập, để khắc phục được các nhược điểm về nội dung cũng như  
phương pháp lập quy hoạch, cần rất nhiều giải pháp đổi mới đồng bộ; hệ thống  
luật pháp, cơ chế, chính sách quản lý, đến nội dung, phương pháp và nhân lực lập  
chuyên gia đầu ngành. Hiện nay chỉ có Trường  
đại học Kiến trúc Hà Nội và Trường đại học Kiến  
trúc thành phố Hồ Chí Minh có khoa Quy hoạch  
đô thị và nông thôn, là khoa chuyên ngành đào  
quy hoạch,… mới đáp ứng được nhu cầu xã hội. Trong một chuỗi các nhiệm vụ  
tạo Kiến trúc sư quy hoạch đô thị - nông thôn,  
đó, việc đổi mới đào tạo nhân lực lập quy hoạch đô thị - nông thôn đang được các  
trường đại học quan tâm. Nội dung & phương pháp đào tạo thường xuyên được các  
trường Đại học cải tiến bổ sung cập nhật, tuy nhiên việc cải tiến chương trình đào  
tạo trong các năm vừa qua mói nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách trước mắt,  
chưa thực sự đồng bộ, tổng hợp mang tính bền vững lâu dài. Vì vậy, Bộ Xây Dựng  
kiến trúc cảnh quan & thiết kế đô thị. Các trường  
đại học khác có đào tạo Kiến trúc sư công trình  
và quy hoạch (gộp), hầu hết không có chuyên  
ngành riêng về Quy hoạch, mà chỉ cập nhật một  
số môn học về quy hoạch vào giảng dạy cho sinh  
đã cho điều tra, đánh giá lại toàn bộ thực trạng chương trình đào tạo Kiến trúc sư viên. Thực tế này đã và đang đặt ra câu hỏi về  
tính chuyên ngành Quy hoạch đô thị trong đào  
tạo Kiến trúc sư hiện nay, liệu có cần đào tạo  
Kiến trúc sư có kiến thức tổng hợp hay cần phải  
đào tạo theo chuyên ngành sâu ?  
Quy hoạch một cách khách quan, tổng hợp và hệ thống, nhằm rút ra những vấn đề  
hạn chế của chương trình, làm cơ sở để đề xuất cải tiến và đổi mới sau này.  
Từ khóa: Quy hoạch vùng và đô thị, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo  
1.1. Cấu trúc chương trình đào tạo.  
Abstract  
Với các trường có chương trình đào tạo riêng  
về chuyên ngành Quy hoạch: Trường Đại học  
Kiến trúc Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng &  
Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh  
- Được đánh giá như sau:  
The country is on the way of development, our country’s economy is growing at a rapid pace,  
the face of Vietnam’s urban and rural areas is rapidly changing. Rapid urbanization leads  
to poor urban quality and many bad things happen. One of the reasons can be mentioned  
that urban planning is facing many shortcomings, to overcome the weaknesses in content  
as well as planning methods, need to synchronize many innovative solutions; regulation  
system, mechanism, management policy, contents, methodology and human resources for  
planning...to meet the needs of society. In a series of these tasks, the renovation in training of  
human resources for urban-rural planning is being taken up by universities. Regular training  
contents and methods have been updated by the universities. However, the improvement  
of training programs during the last few years is aimed at resolving urgent and immediate  
problems. Synchronous, synthesized long-term sustainability. Therefore, the Ministry of  
Construction has investigated and re-evaluated the overall status of the Planning architect  
training program in an objective, in an integrated and systematic manner in order to draw  
out the program’s limitations, as a basis to propose improvements and innovations later.  
- Phù hợp với Luật Xây dựng, Luật quy hoạch  
đô thị, trong công tác Quy hoạch xây dựng.  
-Phù hợp với đặc thù tại Việt Nam trong công  
tác Quy hoạch xây dựng.  
-Chú trọng vào trang bị kĩ năng vẽ, thể hiện đồ  
án, chịu ảnh hưởng của xu hướng đào tạo Kiến  
trúc sư Công trình.  
-Còn tồn tại “khoảng trống” về đào tạo KTS  
có tư duy phân tích và triển khai lập Quy hoạch  
chiến lược phát triển thành phố (đô thị).  
Key words: Urban and rural planning, trainning programe, trainning quiality  
Với các trường có đưa vào giảng dạy một số  
học phần về Quy hoạch: Nhóm này chủ yếu là  
các trường Dân lập với chương trình được xây  
dựng nhằm đào tạo Kiến trúc sư có kiến thức  
tổng hợp về Kiến trúc, Nội thất và Quy hoạch -  
Một số đặc điểm chính:  
TS. Nguyễn Xuân Hinh  
Bộ môn Quy hoạch Vùng, Khoa Quy hoạch Đô thị và Nông thôn  
Email: Nguyenxuanhin[email protected]  
ĐT: 0913.20.33.07  
- Chương trình chỉ trang bị những kiến thức  
sơ bộ về Quy hoạch đô thị. Bản chất mục đích  
đào tạo của các cơ sở này là đào tạo KTS công  
trình phù hợp với khả năng tiếp nhận công việc  
sau khi ra trường, do vậy kiến thức về Quy hoạch  
thường được cho là vĩ mô, ít ứng dụng thực tiễn.  
TS. Lê Xuân Hùng  
Bộ môn Quy hoạch nông thôn, Khoa Quy hoạch Đô thị và Nông thôn  
Email: Hung.lexuan.PhD.arch.UD[email protected]  
ĐT: 0936.80.08.09  
- Các kiến thức về Quy hoạch có tổng hợp  
theo các Luật Xây dựng, Luật quy hoạch đô thị  
nhưng vẫn chịu ảnh hưởng bởi tư duy chủ quan,  
Ngày nhận bài: 30/05/2017  
Ngày sửa bài: 09/06/2017  
Ngày duyệt đăng: 22/10/2019  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
54  
hoặc chịu chi phối từ các chương trình hợp tác quốc tế dẫn  
+ Lên lớp: giảng viên giảng bài, hướng dẫn học viên thảo  
tới nội dung học phần được giản lược và rút gọn, tích hợp luận, làm bài tập và thực hiện các hoạt động khác.  
nhiều kiến thức trong một học phần.  
+ Thực hành: giảng viên hướng dẫn học viên đi nghiên  
- Các kĩ năng về thực hiện đồ án Quy hoạch được trang cứu, khảo sát, thực hiện đồ án chuyên ngành...  
bị ít, hầu như không có khả năng thực hành nghề sau khi tốt  
nghiệp.  
+ Tự học: học viên học tập theo hình thức cá nhân hoặc  
cặp/nhóm ở nhà, trong phòng họa thất, trong thư viện v.v. để  
1.2. Thời lượng và phân bố học phần.  
chuẩn bị nội dung lên lớp, củng cố kiến thức đã học ,khám  
phá kiến thức mới, thực hiện những nhiệm vụ học tập khác  
được giảng viên giao.  
a) Nhóm trường công lập có chuyên ngành đào tạo Kiến  
trúc sư Quy hoạch  
- Đối với môn học đồ án, phương pháp truyền thụ chủ  
yếu áp dụng theo mô hình xưởng với từ 3-4 thầy cô hướng  
dẫn cho 3-4 nhóm 10-15 sinh viên. Vì vậy, có sự chưa tương  
đồng giữa các nhóm xuất phát ngay từ cách thức hướng dẫn  
và truyền thụ của các giáo viên khác nhau. Cùng với đó, các  
dạng đề tài thực hành đều là các giả thiết đã được “tuyệt đối  
hóa” bỏ qua nhiều khó khăn vướng mắc trong thực tế. Vì  
vậy, tính gắn kết thực tiễn chưa thực sự cao trong đào tạo  
nói chung.  
- Thời gian đào tạo nhanh nhất là 4 năm, thời gian đào  
tạo chung là 5 năm.  
- Thời lượng đào tạo từng môn học lý thuyết chuyên  
ngành từ 2-3 tín chỉ ( tương đương 30-45 tiết); Thời lượng  
môn học đồ án chuyên ngành từ 2-3 tín chỉ thực hành ( tương  
đương 60-90 tiết). Đồ án tốt nghiệp có thời lượng trung bình  
10 tín chỉ ( tương đương 300 tiết).  
- Phân bố các môn học được phân bố rải đều trong 5  
năm học.  
b) Đội ngũ giảng viên  
- Thời lượng đào tạo ( số tín chỉ) tích lũy trong 1 năm học  
là khá nhiều. Tổng thời gian đào tạo đòi hỏi sinh viên phải thu  
nhận khối lượng kiến thức lớn.  
Đội ngũ giảng viên có sự khác biệt rõ ràng giữa khối các  
trường công lập và dân lập. Đây cũng là thực trạng chung  
của giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay. Trong nhóm các  
trường có mã ngành đào tạo Kiến trúc sư Quy hoạch, các số  
liệu điều tra cho thấy:  
- Thời lượng đào tạo về kiến thức chuyên ngành chiếm tỷ  
lệ thấp so với tổng thời lượng đào tạo chung.  
- Các môn học được xây dựng có tính ràng buộc về kiến  
thức, theo trình tự từ cơ sở đến chuyên ngành, từ tổng hợp  
đến chuyên sâu. Để tiếp cận khối kiến thức chuyên ngành,  
sinh viên được yêu cầu phải hoàn thành phần lớn các môn  
học giáo dục đại cương và kiến thức cơ sở ngành.  
Đội ngũ giảng viên hầu hết đều có trình độ từ Thạc sĩ ,  
chiếm tỷ lệ lớn, có khả năng giảng dạy và truyền đạt kiến  
thức. So với nghị quyết 14-2005/NQ-CP đều có số giảng viên  
đạt tiêu chuẩn.  
Tỷ lệ giảng viên/ sinh viên trong từng trường còn khác  
nhau, tuy nhiên tỷ lệ này đảm bảo theo quy định của Bộ giáo  
dục – đào tạo về chỉ tiêu quy đổi số sinh viên / giảng viên định  
mức. Theo đó, khối ngành về Kiến trúc và xây dựng có số  
sinh viên chính quy / giảng viên quy đổi là 1 / 20  
Thực tế này cho thấy sự cần thiết phải có sự điều chỉnh,  
cải tiến về thời gian chương trình đào tạo Kiến trúc sư Quy  
hoạch. Hiện nay, Trường đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí  
Minh đã bắt đầu áp dụng chương trình tiên tiến theo chuẩn  
châu Âu về đào tạo Quy hoạch với đề án xây dựng gồm 4  
năm đào tạo và đòi hỏi 1 năm đào tạo kiến thức đại cương.  
c) Cơ sở vật chất.  
Do đặc thù đào tạo, cơ sở vật chất trang bị cho hoạt động  
giảng dạy còn nhiều hạn chế, khó khăn.  
b) Nhóm các trường dân lập có giảng dạy một số học  
phần Quy hoạch.  
Phòng học: Phòng học gồm: Phòng học lý thuyết và  
Phòng học đồ án. Phòng học lý thuyết cơ bản đang trang bị  
đầy đủ thiết bị hỗ trợ giảng dạy. Tuy nhiên phòng học đồ án  
còn hạn chế về diện tích, không gian và trang thiết bị hỗ trợ  
giảng dạy.  
- Thời lượng đào tạo về kiến thức chuyên ngành chiếm tỷ  
lệ thấp so với tổng thời lượng đào tạo chung.  
- Các trường dân lập không có chương trình đào tạo  
riêng về Kiến trúc sư Quy hoạch, do vậy chỉ đưa vào một số  
môn học có liên quan đến Quy hoạch, cụ thể:  
Giáo cụ giảng dạy: Ngoài các giáo cụ giảng dạy cơ bản  
đã được trang bị, những giáo cụ nâng cao như máy cắt mô  
hình còn chưa đáp ứng. Ngoài ra, thực tế hoạt động giảng  
dạy về Quy hoạch gặp nhiều hạn chế về lựa chọn địa điểm,  
các thông tin, bản đồ nền cho khu vực lập quy hoạch. Thực  
tế này dẫn tới chất lượng, tính sát thực với thực tế còn chưa  
cao trong đào tạo Kiến trúc sư Quy hoạch.  
+Học phần lý thuyết: Quy hoạch đô thị và nông thôn, Thiết  
kế đô thị và cảnh quan; Học phần đồ án: Đồ án quy hoạch chi  
tiết đơn vị ở, Đồ án thiết kế đô thị một khu vực.  
+Phân bố môn học tập trung vào năm thứ 3, hoặc năm  
thứ 4.  
1.3. Phương pháp đào tạo, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật  
chất.  
1.4. Đánh giá chung.  
Cùng với sự phát triển của Việt Nam, trong những năm  
gần đây các trường có đào tạo về Kiến trúc sư Quy hoạch đã  
có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động đào tạo. Hàng  
năm, có hàng nghìn sinh viên tham gia vào môi trường nghề  
nghiệp về Quy hoạch và Quản lý đô thị trên cả nước. Thực  
tế này cho thấy vai trò tích cực của đào tạo về Quy hoạch.  
Trong những thành tưu cần được ghi nhận của công tác đào  
tạo hiện nay đó là:  
a) Phương pháp đào tạo  
Về phương pháp đào tạo, hầu như không có sự khác biệt  
lớn giữa các trường công lập với các trường công lập, cụ thể:  
- Tuyển sinh đại học, các trường hầu hết đều xét tuyển  
theo khối V (Toán, Lý ,Vẽ mỹ thuật ) giống như đào tạo Kiến  
trúc sư.  
- Phương pháp đào tạo theo mô hình truyền thống giữa  
giảng dạy lý thuyết kết hợp với thực hành ( đồ án môn học),  
bao gồm:  
- Xây dựng được hệ thống môn học phục vụ đào tạo  
chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý đô thị. Mặc dù còn  
S¬ 36 - 2019  
55  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
nhiều tồn tại bất cập nhưng đây đang là cơ sở cho công tác thành tích đáng kể, nhưng thách thức còn nhiều, đó là trình  
nâng cao chất lượng giảng dạy.  
độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên, phương pháp và nội  
dung giảng dạy. Cuộc sống thu nhập của các cán bộ giảng  
viên, sinh viên còn khó khăn, làm sao “có tầm” và “có tâm” để  
phục vụ công tác dạy và học chuyên nghiệp hơn.  
- Các chương trình học đáp ứng các đòi hỏi về chuyên  
môn đào tạo, về thời lượng đào tạo; đã có sự thống nhất  
nhất định giữa các trường có chung ngành đào tạo. Đây là  
điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể chuyển tiếp hoặc đào  
tạo nâng cao.  
2. Thực tiễn công tác quy hoạch đô thị tại Việt Nam  
Trong những năm vừa qua, công cuộc công nghiệp hóa  
hiện đại hóa đất nước đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn  
ra nhanh chóng. Bộ mặt các đô thị cũng như nông thôn Việt  
Nam ngày càng khang trang hơn. Hệ thống đô thị, làng xã  
nông thôn phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng.  
Đến nay cả nước ta có trên 770 đô thị (tính đến tháng 6 năm  
2014), trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 14 đô thị loại I, 11 đô thị  
loại II, 52 đô thị loại III, 63 đô thị loại IV, còn lại là các đô thị  
loại V. Dân số đô thị là 29,72 triệu người, chiếm gần 33,47%  
số dân toàn quốc. Đô thị đã đảm nhiệm được vai trò là trung  
tâm, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các vùng lãnh  
thổ khác nhau trên cả nước.  
- Phân bố môn học và thời lượng các môn học phù hợp  
với khả năng tiếp nhận của sinh viên theo từng cấp độ. Việc  
bắt buộc sinh viên phải hoàn thành các môn học ràng buộc  
đã nâng cao sự liên hệ giữa các môn học trong chuyên  
ngành đào tạo.  
Tuy vậy, chương trình đào tạo hiện vẫn đang còn tồn tại  
một số khó khăn, bất cập.  
- Mặc dù các phát triển đô thị hiện nay cho thấy mức độ  
quan tâm, đòi hỏi tới công tác Quy hoạch và Quản lý đô thị  
là rất lớn, nhưng công tác đào tạo còn hời hợt chưa tương  
xứng. Bên cạnh các cơ sở đào tạo đã có uy tín nhiều năm,  
như Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Kiến trúc Thành phố  
Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng luôn nâng cao cải tiến thì  
phần lớn các trường còn lại ( trường dân lập, và một số  
trường công lập khác) còn chủ quan, bị động, đào tạo đại  
cương. Chương trình đào tạo lồng ghép, thiếu logic khiến  
cho kiến thức ngành bị bỏ trống, tạo tâm lý thái độ học tập  
chưa tốt. Đặc biệt chương trình đào tạo về Cử nhân Quản  
lý đô thị hiện đang có (rất) ít cơ sở đào tạo, điều này dẫn tới  
các thiếu hụt về nhân lực, thiếu sự cạnh tranh nâng cao chất  
lượng đào tạo.  
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thời gian  
qua cũng phát sinh nhiều khó khăn và thách thức trong công  
tác quy hoạch xây dựng, quản lý đô thị, nông thôn như:  
- Hệ thống pháp luật nói chung còn thiếu để vận hành nền  
kinh tế theo cơ chế thị trường nên nảy sinh nhiều tiêu cực.  
Cơ sở hạ tầng lạc hậu, không đồng bộ, xuống cấp nghiêm  
trọng làm phát sinh những hậu quả xấu.  
- Quá trình đô thị hóa gắn liền với công cuộc công nghiệp  
hóa đất nước. Tuy nhiên, do chú trọng quá nhiều vào việc  
“công nghiệp hóa” cộng với chất lượng quy hoạch không  
cao, nên quá trình này đang bộc lộ nhiều bất cập đáng lo  
ngại. Cụ thể là số lượng các đô thị tăng lên nhanh chóng và  
sự gia tăng dân số đô thị thiếu kiểm soát với hệ thống kết cấu  
hạ tầng kỹ thuật đô thị yếu kém. Đô thị hóa các làng truyền  
thống đe dọa nghiêm trọng đến quỹ di sản kiến trúc dân gian  
quý giá. Mất đất sản xuất nông nghiệp dẫn đến nguy cơ mất  
an ninh lương thực cho các khu vực đô thị, thất nghiệp và đói  
nghèo ở nông thôn.  
- Thời lượng và thời gian đào tạo cơ bản là thống nhất,  
tuy nhiên cá biệt vẫn có sự khác nhau. Đối với chuyên ngành  
về Quản lý đô thị, hiện nay có sự khác nhau về thời gian  
đào tạo giữa hệ 5 năm tại Đại học Kiến trúc Hà Nội với hệ 4  
năm tại Đại học Hồng Bàng. Số lượng tín chỉ các môn học  
là chưa đồng bộ, có sự khác nhau đến 10 tín chỉ. Đây là khó  
khăn không nhỏ khi có sự chuyển tiếp các bậc học, liên thông  
ngành học của sinh viên.  
- Các môn học là đa dạng nhưng thiếu sự thống nhất giữa  
các trường có cùng ngành đào tạo ( Kiến trúc sư Quy hoạch  
hoặc Cử nhân Quản lý đô thị). Các môn học chỉ chủ yếu tập  
trung vào các khu vực, loại hình theo Luật Xây dựng, Luật  
Quy hoạch đô thị, Pháp lệnh nhà nước v.v…Các lĩnh vực về  
kinh tế, xã hội – môi trường chưa được chú trọng dẫn tới sinh  
viên khi thực hành còn mơ hồ, thiếu khả năng biện luận, chỉ  
chủ yếu vào “thể hiện hình vẽ đẹp” chứ không đưa ra lý giải  
về sự cần thiết của tổ chức hoặc quản lý không gian đô thị.  
- Về quy hoạch, trên thực tế các địa phương chưa quản  
lý được việc mở rộng quá mức không gian đô thị, mâu thuẫn  
giữa quy mô và chất lượng đô thị, giữa bảo tồn và phát triển  
đảm bảo đô thị phát triển bền vững liên tục xẩy ra. Hiện  
tượng các đô thị được nâng cấp khi còn thiếu các điều kiện  
theo tiêu chuẩn phân loại đô thị còn phổ biến, xu thế phát  
triển từ tỉnh lên thành phố trực thuộc Trung ương đang như  
là một hội chứng trong phát triển đô thị ở nước ta. Việc lập  
các quy hoạch chi tiết, quy hoạch cải tạo, chỉnh trang đô thị-  
nông thôn còn tràn lan, chưa có kế hoạch nên nảy sinh hiện  
tượng “quy hoạch treo” và khắp nơi đều có công trường xây  
dựng ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và việc vận  
hành của đô thị.  
- Phương pháp đào tạo chưa tạo được sự đổi mới, vẫn  
rập khuôn theo cách thức đào tạo Kiến trúc sư công trình, lối  
truyền thụ kiến thức của bậc Phổ thông trung học. Quy hoạch  
và quản lý đô thị là một lĩnh vực rộng, bao trùm lên một quy  
mô khu vực lớn, tác động tới nhiều cộng đồng dân cư, do vậy  
tính đặc thù trong phương pháp học và giảng dạy cần phải có  
sự cải tiến, nghiên cứu mới.  
- Quản lý đô thị- nông thôn ở nước ta vẫn còn bị ảnh  
hưởng của cơ chế bao cấp, chủ yếu dựa vào các nguyên tắc  
định sẵn, thiếu linh hoạt theo hướng thị trường, thiếu cách  
tiếp cận quy hoạch đa ngành, tình trạng chồng chéo trong  
quản lý phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Ví dụ về tổ chức quản  
lý đất đô thị, bao gồm: quản lý địa giới hành chính và hồ sơ  
địa chính; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho  
thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thu hồi đất; quản lý  
tài chính đất đai và giá đất đang được nhiều bộ ở cấp Trung  
ương quản lý, như Bộ Tài nguyên và Môi trường (quản lý tài  
nguyên đất đai và định giá đất); Bộ Quốc phòng và Bộ Công  
Chương trình đào tạo về quy hoạch đô thị & nông thôn  
còn nhiều bất cập; việc đổi mới chương trình hướng đến hội  
nhập quốc tế còn chậm, kiến thức nặng lý luận nhiều song  
vẫn thiếu tính thực tiễn của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra,  
trong những năm gần đây, các nước trên thế giới và trong  
khu vực cũng đã có những thay đổi về quan điểm và nội dung  
đào tạo trong lĩnh vực quy hoạch đô thị. Trong nhiều năm đào  
tạo về Quy hoạch và Quản lý đô thị, tuy đã đạt được nhiều  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
56  
an (quản lý đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh);  
Đào tạo phải gắn với phát triển công nghệ thông tin: Công  
Bộ Xây dựng (quản lý quy hoạch và sử dụng đất đô thị; phát nghệ thông tin là nền tảng thúc đẩy nhiều quốc gia chậm phát  
triển và quản lý kết cấu hạ tầng đô thị; quản lý thị trường triển trong đó có Việt Nam vươn lên. Công nghệ thông tin là  
bất động sản); Bộ Tài chính (quản lý tài chính về đất đai và nền tảng cho cuộc sống sinh hoạt và hoạt động hành chính  
đền bù thiệt hại khi thu hồi đất). Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp của đô thị. Kiến thức khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên  
và Phát triển nông thôn quản lý phần đất nông nghiệp trong tiến tạo điều kiện sáng tạo không gian theo hướng hiện đại  
phạm vi đô thị.  
và cũng như khả năng thực hiện những ý tưởng sáng tạo đó.  
- Vấn đề thị trường bất động sản đô thị : Công tác quản lý  
Rèn luyện kỹ năng và phương pháp làm việc theo nhóm:  
thực hiện quy hoạch chưa có sự chú ý đúng mức cần thiết, Tập thể đóng một vai trò quan trọng trong công tác lập và thực  
chính quyền các đô thị và các nhà hoạch định chính sách chỉ hiện các dự án quy hoach. Vì vậy việc tìm sự hoà hợp giữa ý  
quan tâm chủ yếu đến khâu lập, thẩm định và phê duyệt đồ tưởng của mình và những thành viên khác trong nhóm, rộng  
án quy hoạch. Do đó, luôn luôn tồn tại sự cách biệt khá lớn hơn khả năng bàn bạc, thương thuyết với các nhà lãnh đạo,  
giữa quy hoạch và thực tiễn phát triển của đô thị, hay nói các chuyên gia và cộng đồng dân cư địa phương là điều kiện  
cách khác là quy hoạch không còn chức năng kiểm soát quá cần thiết để có được thành công của đồ án.  
trình phát triển của đô thị.  
Giáo dục về giá trị thẩm mỹ: Nhận thức đúng đắn về các  
giá trị thẩm mĩ trong không gian đô thị, nông thôn có vai trò  
quan trọng trong nghiên cứu lập quy hoạch xây dựng và  
3. Yêu cầu đối mới chương trình đào tạo chuyên ngành  
quy hoạch đô thị  
quản lý đô thị. Sự sáng tạo và kiến thức thẩm mỹ trong thiết  
Từ thực tiễn quá trình đô thị hóa và từ định hướng tổng  
kế kiến trúc, quy hoạch được thể hiện trên toàn bộ đồ án  
thể phát triển đô thị Việt Nam trong giai đoạn tới đang đặt ra  
từ tổng thể đến chi tiết và biểu hiện qua cách tư duy, lối suy  
đòi hỏi QHXD phải đáp ứng đa mục tiêu của phát triển KT-XH  
nghĩ, sự hoàn tất chu đáo công viêc. Mỗi sinh viên là một  
cũng như năng lực chuyên sâu của một số chuyên ngành:  
tác giả tạo nên đô thị bằng chính khả năng và công sức của  
Nguồn lực chủ yếu hay chủ thể để thực hiện yêu cầu này là  
mình.  
các KTS Quy hoạch và Kỹ sư Quản lý đô thị.  
Đất nước ta đã và đang chuyển đổi sang một thời kỳ mới,  
Đồ án quy hoạch là một công trình khoa học tổng hợp  
thời kỳ phát triển và hội nhập, thời kỳ đô thị hoá với một tốc  
của kỹ thuật, kinh tế, xã hội và mỹ thuật. Các đồ án không  
độ cao. Công tác quy hoạch và quản lý đô thị & nông thôn  
những tạo dựng ra một không gian chức năng tiện nghi, an  
còn nhiều bất cập đã hạn chế quá trình công nghiệp hóa,  
toàn, đẹp… mà còn phải phù hợp với kinh tế, văn hóa và môi  
hiện đại hóa đất nước, ảnh hưởng đến kinh tế, đất đai, môi  
trường. Người làm quy hoạch không những cần kiến thức  
trường, gây bất ổn trong xã hội. Nguyên nhân là do cơ chế,  
của một Kiến trúc sư mà còn cần trang bị thêm kiến thức về  
chính sách còn chưa hoàn thiện, lý thuyết chưa gắn kết với  
Địa lý - kinh tế - văn hóa - xã hội & môi trường sinh thái. Các  
thực tiễn, đội ngũ cán bộ chưa đủ về số lượng cũng như  
đồ án sau khi được phê duyệt trở thành các căn cứ pháp lý  
chưa đạt yêu cầu chất lượng. Thực trạng quy hoạch, xây  
để triển khai các dự án tiếp theo. Công tác thực thi quy hoạch  
dựng & quản lý đô thị và nông thôn đang đòi hỏi đội ngũ KTS  
đòi hỏi có sự hỗ trợ và gắn kết đắc lực của khoa học quản  
Quy hoạch, các nhà quản lý, các nhà chuyên môn của các  
lý đô thị.  
lĩnh vực liên quan phải trang bị thêm những năng lực mới để  
Qua từng bước phát triển ngành quy hoạch đô thị- nông  
thôn đòi hỏi sinh viên bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư  
duy trừu tượng. Từ tổ chức xắp xếp những khu nhà sao cho  
tiện dụng, đảm bảo kỹ thuật và đẹp về thẩm mỹ đến phải  
đáp ứng các yêu cầu tính khả thi về kinh tế, phải am hiểu văn  
hóa, lịch sử, đặc trưng của một vùng miền, phải thỏa mãn  
các điều kiện về sinh thái môi trường,hạ tầng kỹ thuật…  
giải quyết những vấn đề hết sức phức tạp và tổng hợp của  
công tác quy hoạch.  
Từ thực tiễn quá trình đô thị hóa và từ định hướng tổng  
thể phát triển đô thị Việt Nam trong giai đoạn tới đang đặt ra  
đòi hỏi QHXD phải đáp ứng đa mục tiêu của phát triển KT-  
XH cũng như năng lực chuyên sâu của chủ thể để thực hiện  
yêu cầu này là các nhà Quy hoạch và nhà Quản lý đô thị.  
Hiên nay KTS quy hoạch đang được đào tạo là người thiết  
kế không gian đô thị gồm; KTS quy hoạch không gian, KTS  
thiết kế đô thị & KTS cảnh quan, đây là những chuyên sâu  
cần được xác lập thời lượng, nội dung trong đào tạo KTS  
hiện nay để có lực lượng đủ tri thức tham gia giải quyết yêu  
cầu thực tế. Theo nhu cầu của xã hội với phát triển nền kinh  
tế thị trường của Việt Nam, do vai trò của KTS quy hoạch đã  
được mở rộng và chuyên sâu hơn là người tạo lập không  
gian - với vai trò của “Nhà quy hoạch đô thị” với chức năng  
chính là chuyển hóa các vấn đề Kinh tế & Xã hội (định tính)  
sang không gian đô thị (định lượng) là việc làm cần thiết mà  
các mô hình đào tạo tiến tiến đang áp dụng.  
Việt Nam hiện đang trong thời gian chuyển đổi mạnh mẽ  
cơ cấu kinh tế kéo theo sự thay đổi về mọi mặt trong đó có cả  
công tác quy hoạch xây dựng. Sự chuyển đổi từ quy hoạch  
đơn ngành thành tích hợp quy hoạch đa ngành. Hình thành  
một số phương pháp và nội dung quy hoạch mới: quy hoạch  
chiến lược phát triển đô thị (CDS), quy hoạch với sự tham gia  
của cộng đồng… Có sự thay đổi về nội dung và thứ tự của  
Quy hoạch đô thị trong hệ thống quy hoạch Kinh tế xã hội.  
Định hướng xây dựng Chương trình đào tạo Quy hoạch  
đô thị và nông thôn trong trường đại học cần phải nghiên cứu  
đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội và đáp ứng môi trường  
hội nhập quốc tế. Đó là:  
Đào tạo trên cơ sở văn hóa Việt Nam: Trong thời kỳ hội  
nhập, đào tạo đại học nhất là về quy hoạch và quản lý đô thị  
đòi hỏi phải chú trọng yếu tố văn hoá, chú trọng các giá trị địa  
phương, truyền thống để tạo dựng các không gian đô thị và  
nông thôn Việt Nam vừa hiện đại vừa có bản sắc. Bản sắc  
địa phương ngày càng có vai trò quan trọng với tư cách vừa  
là mục tiêu vừa là nguồn nội lực phát triển của mỗi một quốc  
gia trong quá trình hội nhập với thế giới.  
Kết luận  
Từ các phân tích thực trạng về chương trình đào tạo KTS  
QH Đô thị & Nông thôn hiện nay, một số tồn tại cơ bản được  
nhận định:  
- Mặt tích cực: (1) Các trường đã xây dựng hệ thống môn  
học phong phú phục vụ đào tạo đúng chuyên ngành; (2) Các  
chương trình xây dựng phù hợp với các quy định hiện hành  
S¬ 36 - 2019  
57  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
về hệ thống đào tạo, thời gian đào tạo; (3) Phân bố môn học đào tạo với thực tiễn đã được nhận diện, bao gồm: (1) Định  
phù hợp với khả năng nhận thức, tiếp nhận của sinh viên.  
hướng xây dựng Chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu  
thực tiễn; (2) Tự chủ đào tạo cho các trường nhằm tăng khả  
năng chủ động thích nghi với môi trường phát triển đô thị  
hiện nay; (3) Đào tạo phải gắn với phát triển khoa học, công  
nghệ; (4) Đào tạo cần gắn với các hoạt động nghề nghiệp  
thực tế, nhất là trong đội ngũ giảng viên, và đồ án môn học;  
(5) Đào tạo gắn với giáo dục về tính hiếu kỳ và sự nhạy cảm  
đối với các yếu tố văn hoá; (6) Đào tạo gắn với giáo dục về  
Suy nghĩ và làm việc theo nhóm./.  
- Mặt hạn chế: (1) Vấn đề cải tiến chương trình đào tạo  
chưa được chú trọng tại các trường tư thục, dẫn tới thiếu hụt  
nhân lực cung cấp cho thị trường lao động; (2) Còn tồn tại cá  
biệt sự khác nhau về thời lượng đào tạo; (3) Thiếu thống nhất  
môn học giữa các trường và thiếu cập nhật các môn học liên  
quan tới kinh tế - xã hội và phương pháp luận; (4) Phương  
pháp truyền thụ còn rập khuôn, ít sáng tạo.  
Qua các kết quả báo cáo, các đòi hỏi về việc gắn kết  
5. Kỷ yếu hội thảo Đào tạo chuyên ngành Quy hoạch đô thị và Nông  
thôn gắn với thực tiễn, tháng 11/2012, Hà Nội  
6. Kỷ yếu hội nghị khoa học 45 năm truyền thống Trường đại học  
Kiến trúc Hà Nội – Tiểu ban Quy hoạch và Quản lý đô thị, tháng  
11/2014, Hà Nội.  
7. Chương trình đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị - Trường  
Đại học Kiến trúc ành phố Hồ Chí Minh.  
8. Chương trình đào tạo ngành đô thị học - Trường Đại học Khoa học  
xã hội và nhân văn – Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh  
T¿i lièu tham khÀo  
1. Chương trình khung giáo dục đại học ngành Quy hoạch đô thị. Bộ  
Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội. 2004.  
2. Đề án Nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kiến trúc  
Hà Nội. Hà Nội; tháng 11/2004.  
3. Nghiên cứu cải tiến mục tiêu chương trình, kế hoạch đào tạo Kiến  
trúc sư quy hoạch. Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ, mã số RD  
77, Hà Nội 2001.  
4. Kế hoạch và nội dung thực hiện đồ án tốt nghiệp – Bộ môn Quy  
hoạch đô thị - Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường đại học Xây  
dựng Hà Nội.  
9. Chương trình đào tạo ngành Kiến trúc – Trường Đại học Đông Đô  
10. Chương trình đào tạo ngành Kiến trúc – Trường Đại học Phương  
Đông  
Luận bàn về phương pháp xác định...  
(tiếp theo trang 50)  
hệ số an toàn cao hơn, ở đây tác giả đề xuất là γk=2, thì các  
kết quả tính toán gần với kết quả thí nghiệm nén tĩnh hơn.  
HT  
c,u  
CL  
c,u  
lớn hơn  
từ (1÷10)% khi cọc có đường kính lớn  
R
R
(D>1000mm) và từ (10÷20)% khi cọc có D<1000mm. Vì vậy,  
nên chọn hệ số an toàn cho hai phương pháp tính này cần  
phải khác nhau.  
3. Kết luận  
Việc xác định SCT của cọc theo độ bền của vật liệu làm  
cọc và giá trị cực hạn SCT của cọc theo độ bền của nền đất  
dựa theo các chỉ tiêu cơ lý của đất đá, hay từ các kết quả thí  
nghiệm hiện trường cho kết quả nhìn chung là tin cậy.  
Kết quả dự tính SCT cực hạn Rc,u theo kết quả thí nghiệm  
xuyên tiêu chuẩn từ công thức Nhật Bản của TCVN 10304-  
2014 và TCXD 205-1998 chênh lệch không đáng kể (nhỏ  
hơn 6%), như vậy là có sự tin cậy. Tuy nhiên, điều gây tranh  
luận hiện nay là việc lấy hệ số an toàn theo TCVN10304-  
2014 là rất nhỏ so với TCXD205-1998, dẫn đến SCT cho  
Kết quả xác định SCT cực hạn từ các chỉ tiêu cơ lý của  
đất đá thường khác biệt và có trị số nhỏ hơn so với kết quả  
SCT xác định từ các kết quả thí nghiệm hiện trường nên cần  
thiết phải có những điều chỉnh về hệ số tin cậy, hệ số an toàn  
khi xác định SCT tính toán của cọc cho các phương pháp  
tính khác nhau để đảm bảo sự phù hợp với sự làm việc thực  
tế của cọc. Hệ số an toàn đề xuất trong các biểu thức xác  
định SCT tính toán từ các kết quả thí nghiệm hiện trường đề  
xuất nên lấy từ 2,0÷2,5./.  
phép (  
) khác nhau lớn.  
RTT  
Bảng 3 so sánh sức chịu tải tính toán Rtt dựa theo chỉ  
dẫn các tiêu chuẩn trong đó TCXD 205-1998 lấy bằng 3;  
TCVN 9393-2012 lấy bằng 2; TCVN 10304-2014 lấy γ0=1.15,  
γn=1.2, γk=1.75, tức hệ số an toàn là 1.83 (đối với công trình  
cấp 1 và 1,75 với công trình cấp 2 và 3 do γn=1.15). Từ các  
kết quả đó, ta thấy nếu sử dụng TCVN10304-2014 nhưng với  
7. TCVN 9393:2012. Cọc- Phương pháp thử nghiệm hiện trường bằng  
tải trọng tĩnh ép dọc trục.  
8. Tiêu chuẩn Pháp DTU.  
9. Tiêu chuẩn Nhật JIA.  
10. British Standard Code of Practice for Foundations, BS 8004:1986,  
Section 7.  
11. American Association of State Highway and Transportation  
Officials AASHTO (1998), Bridge Design Specifications, Section 10.  
T¿i lièu tham khÀo  
1. TCVN 10304:2014¬. Móng cọc - Tiêu chuẩn thiết kế, NXB Xây  
dựng, Hà Nội.  
2. TCXD 205:1998¬. Móng cọc - Tiêu chuẩn thiết kế, NXB Xây dựng,  
Hà Nội.  
3. TCXD 195:1997: Nhà cao tầng – iết kế cọc khoan nhồi, NXB Xây  
dựng, Hà Nội.  
4. 20 TCN 21:86. Móng cọc – Tiêu chuẩn thiết kế.  
5. TCVN 9351:2012. Đất xây dựng- Phương pháp thí nghiệm hiện  
trường- thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT).  
12. Federal Highway Administration FHWA NHI-05-042 (April 2006),  
Design and Construction of Driven Pile Foundations, Section 9.  
6. TCVN 9352:2012. Đất xây dựng- Phương pháp thí nghiệm xuyên  
tĩnh.  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
58  
pdf 5 trang yennguyen 9160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và yêu cầu xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành quy hoạch đô thị và nông thôn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_yeu_cau_xay_dung_chuong_trinh_dao_tao_chuyen_n.pdf