Đánh giá thực trạng không gian xanh - thước đo chất lượng môi trường hướng đến phát triển đô thị xanh cho thành phố Hồ Chí Minh

56  
Journal of Transportation Science and Technology, Vol 29, Aug 2018  
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN XANH - THƯỚC ĐO  
CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN  
ĐÔ THI XANH CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
EVALUATING GREEN SPACE STATUS – A MEASURE OF  
ENVIRONMENTAL QUALITY TOWARDS DEVELOPMENT OF  
GREEN URBAN FOR HO CHI MINH CITY  
Trần Thị Vân, Phạm Khánh Hòa, Thẩm Thị Ngọc Hân  
Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt: Không gian xanh (KGX) đô thị là phần diện tích được phủ xanh bởi thực vật trên mặt  
đất tại các đô thị và nó được xem như là một nhân tố quan trọng trong phát triển bền vững đô thị. Bài  
báo trình bày xác định hiện trạng phân bố KGX đô thị bằng phương pháp viễn thám cho khu vực nội  
thành 19 quận Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) năm 2017. Kết quả phân tích các lớp thực vật phủ  
bề mặt cho thấy, đất cây xanh của khu vực 13 quận nội thành cũ chỉ chiếm tỷ lệ bằng 1/3 so với kiểu  
mặt không thấm. Ngược lại, ở khu vực 6 quận nội thành mới lại có tỷ lệ cao về diện tích KGX đô thị,  
chiếm gần gấp hai so với tỷ lệ của kiểu mặt không thấm. Phần lớn các quận ở khu vực nội thành cũ có  
chỉ số KGX rất thấp dưới 10 m2/người, một vài quận thậm chí dưới 3 m2/người. Điều này cho thấy,  
khu vực nội thành cũ của Thành phố đang thiếu trầm trọng diện tích mảng xanh khi so sánh với TCVN  
9257:2012. Bên cạnh đó, việc gia tăng diện tích mặt không thấm và suy giảm diện tích mảng xanh có  
thể gây ra các hệ quả về rủi ro môi trường. Từ đó, nghiên cứu đã đưa ra một số hướng giải pháp quản  
lý nhằm cải thiện và phát triển diện tích KGX cho Thành phố, đồng thời nâng cao chất lượng môi  
trường và chất lượng sống cho người dân. Kết quả của nghiên cứu góp phần phục vụ cho công tác  
quản lý và phát triển đô thị xanh bền vững của TPHCM.  
Từ khóa: Ảnh vệ tinh, chất lượng môi trường, đô thị xanh, không gian xanh, phân loại có giám  
sát  
Chỉ số phân loại: 2.4  
Abstract: Green space (GS) is an area covered by vegetation on the ground in urban areas and it  
is considered as an important factor in urban sustainable development. The paper presents the current  
situation of GS distribution by remote sensing method for 19 inner-city districts in Ho Chi Minh City  
(HCMC) in 2017. The results of the land cover analysis show that the vegetation land of the old 13  
urban districts accounts for only one third of the impervious surface. In contrast, in the area of 6 new  
urban districts there is a high percentage of urban green space, accounting for nearly twice the  
proportion of the impervious surface type. Most districts in the inner city area have very low GS index,  
less than 10 m2/person, some districts even less than 3 m2/person. This shows that the old inner city  
area is seriously lacking GS area compared to TCVN 9257:2012. In addition, increasing the area of  
impervious surfaces and reducing the area of GS may have environmental consequences. Since then,  
the research has provided a number of management solutions to improve and develop the GS area,  
while enhancing the environment quality and the life quality for the population. The research results  
contribute to the management and development of sustainable green urban for HCMC.  
Keywords: Satellite image, environmental quality, green urban, green space, suppervised  
classification.  
Classification number: 2.4  
1. Giới thiệu  
đô thị, đồng thời giảm mạnh tỷ lệ KGX của  
thành phố gây ra nhiều tác động xấu đến chất  
lượng môi trường sống. Sự mở rộng và gia  
tăng mật độ bề mặt không thấm kéo theo các  
hậu quả như tăng nhiệt độ không khí của  
thành phố do hiện tượng bức xạ nhiệt của bê  
tông; gia tăng chất thải và vấn đề chôn lấp,  
Không gian xanh (KGX), hay cây xanh  
đô thị đóng vai trò quan trọng đối với cuộc  
sống con người. Trong quy hoạch, KGX là  
một chức năng rất quan trọng và được coi  
như lá phổi của đô thị. Tuy nhiên, việc gia  
tăng nhanh diện tích mặt không thấm của đất  
57  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI, SỐ 29-08/2018  
xử lý chất thải ở các khu nhà đô thị tập trung  
2. Phương pháp nghiên cứu  
cao; gia tăng ngập lụt; suy giảm chất lượng  
và khối lượng nguồn nước ngầm do mất bề  
mặt thấm nước tự nhiên [10].  
Theo phương pháp truyền thống, việc  
quản lý, thống kê số lượng, diện tích cây  
xanh đô thị thường được tiến hành bằng cách  
Hiện nay thế giới đương đại đang bị uy đo đạc và kiểm tra thực địa hoặc đo vẽ, tính  
hiếp bởi hình ảnh đô thị màu xám, nó khiến toán từ không ảnh. Tuy nhiên, phương pháp  
cho trái đất nóng lên, ô nhiễm môi trường này mất rất nhiều thời gian và tốn kém kinh  
ngày càng trầm trọng và con người đang mất phí, cũng như đòi hỏi nguồn nhân lực lớn cho  
dần không gian để sống và thở. Thế giới càng công tác thực địa. Vì thế, việc cập nhật  
văn minh thì con người càng khao khát những biến động, cũng như việc khái quát  
hướng tới sự chuẩn mực của một đô thị xanh bức tranh tổng thể cây xanh đô thị là rất khó.  
hoàn hảo, tức là hướng tới sự thiết lập mối Ngày nay, sự phát triển nhanh của công nghệ  
quan hệ bền vững về sự thân thiện giữa con viễn thám, các ảnh có độ phân giải cao ngày  
người và thiên nhiên. Để phát triển đô thị càng được ứng dụng mạnh mẽ trong việc  
xanh ở Việt Nam, GS. Phạm Ngọc Đăng, giám sát, theo dõi những biến động bề mặt  
Chủ tịch Hội Môi trường Xây dựng Việt Trái đất. Phương pháp này rất hiệu quả trong  
Nam đề xuất có bảy tiêu chí, trong đó tiêu chí việc xây dựng, cập nhật, tổng quát và kiểm  
“Không gian xanh” được đưa lên vị trí đầu soát thông tin trên diện rộng nhằm phục vụ  
tiên [5].  
tốt cho công tác quản lý, khai thác tài nguyên  
thiên nhiên, nghiên cứu môi trường. Đây  
chính là hướng công nghệ được sử dụng cho  
nghiên cứu trình bày trong bài báo này.  
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là đô  
thị lớn nhất nước về quy mô cũng như tiềm  
lực kinh tế với vai trò trung tâm hạt nhân,  
động lực phát triển kinh tế - xã hội trong  
vùng kinh tế phía Nam và Nam bộ. Tuy  
nhiên hiện nay, chính sách về KGX của  
TPHCM vẫn chưa được chú trọng. Tăng  
trưởng đô thị và việc chính quyền thiếu các  
nguồn lực cần thiết là những điểm yếu hiện  
nay trong công tác quản lý và phát triển về số  
lượng cũng như chất lượng của KGX, cây  
xanh đường phố. Thực tế tại các khu dân cư  
hiện hữu trong các quận nội thành phát triển,  
hệ thống mảng xanh, công viên đang bị thiếu  
trầm trọng. Tốc độ đô thị hóa quá nhanh  
trong giai đoạn trước đây ở các khu vực chưa  
có quy hoạch đô thị đã hình thành các khu  
dân cư phát triển tự phát với mật độ cư trú  
dày đặc nhưng thiếu các khoảng không gian  
xanh, không gian công cộng. Điều này dẫn  
đến chất lượng sống thấp, môi trường sống bị  
ô nhiễm nghiêm trọng, gây ra nhiều hệ lụy  
cho phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng  
đến đời sống, sức khỏe và tinh thần của  
người dân.  
2.1. Dữ liệu sử dụng  
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là ảnh  
vệ tinh quang học Sentinel-2A, là ảnh đa phổ  
với 13 kênh phổ (bước sóng 443 nm–2190  
nm), độ phân giải không gian 10 m (4 kênh  
vùng nhìn thấy và cận hồng ngoại), 20 m (6  
kênh hồng ngoại sóng ngắn) và 60 m (3 kênh  
khí quyển). Khu vực nghiên cứu là TPHCM  
với ảnh thu nhận ngày 09/03/2017 vào mùa  
khô, quang mây, để giảm thiểu ảnh hưởng  
của điều kiện khí quyển.  
2.2. Thuật toán phân loại  
Để đánh giá thực trạng phân bố mảng  
xanh, nghiên cứu đã thực hiện thuật toán  
phân loại theo phương pháp phân loại có  
giám sát nhằm để phân lớp đối tượng bề mặt  
đất. Đây là phương pháp phân loại mà các  
chỉ tiêu phân loại được xác lập dựa trên các  
vùng mẫu và dùng luật quyết định dựa trên  
thuật toán thích hợp để gắn nhãn pixel ứng  
với từng vùng phủ cụ thể. Thuật toán phân  
loại xác suất cực đại (Maximum Likelihood  
Classification) được đánh giá là cho độ chính  
xác cao và được dùng khá phổ biến. Phương  
pháp này xem mỗi lớp trong mỗi kênh phổ có  
sự phân bố chuẩn. Các pixel sẽ được phân  
loại vào lớp mà nó có xác xuất cao nhất. Việc  
Bài báo trình bày nghiên cứu thực trạng  
phân bố không gian xanh đô thị phục vụ cho  
công tác đánh giá chất lượng môi trường đô  
thị cho khu vực nội thành TPHCM nhằm  
hướng đến quy hoạch phát triển đô thị xanh  
trong tương lai.  
58  
Journal of Transportation Science and Technology, Vol 29, Aug 2018  
tính toán không chỉ dựa vào giá trị khoảng  
- N : Tổng số pixel quan sát được trong  
cách mà còn dựa vào cả xu thế biến thiên độ ma trận ảnh.  
sáng trong mỗi lớp. Mô tả thuật toán được  
trình bày theo công thức (1):  
Hệ số Kappa thường nằm giữa 0 và 1.  
Kappa có 3 nhóm giá trị: (1) K > 0,8: Độ  
chính xác cao; (2) 0,4 < K < 0,8: Độ chính  
xác trung bình; (3) K < 0,4: Độ chính xác  
thấp.  
(1)  
Trong đó:  
- i: Đối tượng phân loại;  
- x: Số kênh phổ;  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Đánh giá độ chính xác phân loại  
thực phủ  
- p(ωi): Giá trị xác xuất xảy ra khi đối  
tượng ωi giống các đối tượng khác;  
- |∑i|: Ma trận hiệp phương sai của đối  
tượng ωi;  
- ∑i-1: Ma trận nghịch đảo của đối  
tượng ωi;  
Các điểm kiểm chứng được thực hiện  
sau phân loại trên toàn địa bàn nghiên cứu,  
mỗi quận lấy 10 mẫu theo năm đối tượng  
trong hệ thống phân loại. Bộ mẫu thực địa  
này được dùng để xây dựng bộ mẫu kiểm  
định, kết hợp lấy điểm bổ sung từ quan sát  
trên ảnh độ phân giải rất cao của Google  
Earth để tăng cường số điểm. Mỗi lớp đối  
tượng được lấy mẫu kiểm định khoảng từ  
600 - 900 điểm. Bộ mẫu này sau đó được đưa  
vào so sánh với ảnh kết quả phân loại. Kết  
quả đánh giá sai số phân loại cho thấy độ  
chính xác toàn cục đạt 96.63% và hệ số  
Kappa đạt 0.96. Với độ chính xác này kết  
quả là đủ tin cậy.  
- mi: Giá trị vector thay đổi phổ.  
2.3. Hệ thống phân loại có giám sát  
Đánh giá độ chính xác là thuật toán xác  
định độ tin cậy của sự phân loại ảnh, được  
dùng để thể hiện mức độ phù hợp giữa những  
gì quan sát được và thực tế. Độ chính xác của  
phép phân loại được đánh giá dựa vào ma  
trận sai số và các chỉ tiêu sai số toàn cục và  
hệ số Kappa [7].  
3.2. Hiện trạng phân bố KGX  
3.2.1.Hiện trạng phân bố theo toàn  
khu vực  
Độ chính xác toàn cục (O) được tính bởi  
tổng pixel phân loại đúng và tổng số pixel  
dùng phân loại theo công thức (2). Độ chính  
xác rất cao của phép phân loại thường được  
chấp nhận phổ biến là trên 0.85 (85%).  
ꢁổꢂꢃ ꢄố ꢅꢆꢇꢈꢉ ꢅℎâꢂ ꢉꢊạꢆ đúꢂꢃ  
Về mặt đơn vị hành chính, 19 quận của  
TPHCM bao gồm 13 quận nội thành cũ  
(quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Tân Bình, Gò  
Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh và Tân Phú) và  
6 quận mới (quận 2, 7, 9, 12, Bình Tân, Quận  
Thủ Đức). Vì vậy ngoài phần phân tích tổng  
thể, bài báo cũng sẽ phân tích so sánh giữa  
hai khu vực hành chính này.  
ꢀ =  
(2)  
ꢁổꢂꢃ ꢄố ꢅꢆꢇꢈꢉ ꢋùꢂꢃ ꢅℎâꢂ ꢉꢊạꢆ  
Hệ số Kappa (K) được sử dụng như  
thước đo đánh giá độ chính xác phân loại  
ảnh. Nó thể hiện sự khác nhau cơ bản giữa  
những gì có thực về sai số độ lệch của ma  
trận và tổng số thay đổi được chỉ ra bởi hàng  
và cột theo công thức (3):  
Kết quả tính thống kê diện tích và tỷ lệ  
phần trăm của từng lớp phủ bề mặt từ thuật  
toán phân loại cho 19 quận TPHCM được  
trình bày trong bảng 1 và hình 1. Tổng quát  
cho thấy, vào năm 2017, kiểu đối tượng thực  
vật chiếm tỷ lệ lớn nhất với khoảng 40,26%  
so với diện tích toàn khu vực 19 quận; tiếp  
đến là kiểu mặt không thấm có diện tích gần  
xấp xỉ lớp phủ thực vật với tỷ lệ 38,68%. Tuy  
nhiên, khi thống kê so sánh giữa 13 quận nội  
thành cũ và 6 quận nội thành mới, có sự khác  
biệt lớn giữa tỷ lệ các lớp phủ bề mặt. Cụ thể,  
tại khu vực nội thành cũ, kiểu thực vật chỉ  
(3)  
Trong đó:  
- r : Số lượng cột trong ma trận ảnh;  
- xii : Số lượng pixel quan sát được tại  
hàng i và cột i (trên đường chéo chính);  
- xi+ : Tổng pixel quan sát tại hàng i;  
- x+i : Tổng pixel quan sát tại cột i;  
59  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI, SỐ 29-08/2018  
chiếm 22,62% trong khi ở vùng 6 quận mới đất trống), trên hình 2 cho thấy, khu vực đô  
tỷ lệ diện tích là gấp đôi đạt 47,39%; trái thị trung tâm của Thành phố, cây xanh rất  
ngược với kiểu thực vật là kiểu mặt không thưa thớt, phân bố rải rác và chủ yếu tập  
thấm, khi ở 6 quận mới tỷ lệ này chỉ chiếm trung tại các công viên trọng điểm như công  
28,79% thì ở vùng nội thành cũ lại cao hơn viên Hoàng Văn Thụ, công viên 30-4…, còn  
gấp đôi với 63,19%. Rõ ràng có sự khác biệt lại hầu như là đất đô thị. Trong khi đó, phần  
về sự phát triển đô thị ở hai khu vực này.  
diện tích ngoại vi thuộc 6 quận mới lại chiếm  
ưu thế lớn về phát triển mảng xanh. Đất đô  
thị ở khu vực 6 quận mới không nhiều.  
Khi xem xét tập trung phân bố không  
gian xanh (gồm ba kiểu đối tượng, trong đó  
“đất đô thị” là tích hợp mặt không thấm và  
Bảng 1. Thống kê lớp phủ bề mặt 19 quận TPHCM.  
THỰC VẬT MẶT NƯỚC ĐẤT ĐÔ THỊ  
ĐẤT TRỐNG  
Khu vực  
hành chính  
Tỷ lệ  
Diện tích  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ  
Diện tích  
Tỷ lệ  
(%)  
Diện tích (m2)  
Diện tích (m2)  
(%)  
(m2)  
(%)  
(%)  
(m2)  
13 quận cũ  
6 quận mới  
32.147.400  
22,62  
5.753.000  
4,05  
7,74  
89.827.400  
63,19  
28,79  
14.257.100 10,03  
56.430.100 16,04  
166.763.100 47,39 27.220.800  
101.294.100  
Tổng 19  
quận  
198.910.500 40,26 32.973.800  
6,67  
191.121.500  
38,68  
70.687.200 14,31  
(Ghi chú: Đường màu đỏ là ranh giới của 13 quận nội thành cũ)  
Bảng 2. Cơ cấu phần trăm diện tích của từng lớp phủ theo từng đơn vị quận của TPHCM.  
THỰC VẬT  
NƯỚC  
ĐẤT ĐÔ THỊ  
ĐẤT TRỒNG  
Diện  
tích tự  
nhiên  
(km2)  
Quận  
Diện tích  
Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ  
Diện tích  
Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ  
(ha)  
(%)  
(ha)  
(%)  
(ha)  
(%)  
(ha)  
(%)  
Q1  
7,73  
4,92  
166,22  
69,24  
21,50  
14,07  
9,16  
46,82  
7,07  
6,06  
1,44  
12,39  
0,64  
1,55  
9,13  
0,07  
0,94  
0,65  
1,61  
0,40  
10,81  
0,17  
492,83  
367,94  
301,73  
316,03  
556,94  
849,58  
450,38  
400,17  
1.188,02  
1.371,90  
389,48  
1.092,15  
1.205,59  
63,76  
74,78  
72,18  
74,01  
77,46  
44,30  
78,74  
77,85  
53,08  
69,50  
79,81  
52,61  
75,07  
68,02  
45,23  
23,68  
35,87  
72,19  
320,02  
43,92  
45,66  
326,71  
195,73  
21,86  
94,98  
131,84  
8,80  
9,19  
5,67  
8,40  
10,04  
16,69  
7,68  
8,88  
14,60  
9,92  
4,48  
4,58  
8,21  
Q3  
Q4  
4,18  
38,28  
51,77  
2,75  
Q5  
4,27  
69,80  
16,35  
9,97  
Q6  
7,19  
71,70  
11,17  
175,10  
0,40  
Q8  
19,18  
5,72  
569,95  
74,81  
29,72  
13,08  
12,76  
31,81  
19,49  
14,73  
32,40  
15,44  
Q10  
Q11  
5,14  
65,58  
4,82  
Tân Bình  
Gò Vấp  
Phú Nhuận  
Bình Thạnh  
Tân Phú  
22,38  
19,74  
4,88  
712,00  
384,71  
71,86  
14,55  
31,81  
1,95  
20,76  
16,06  
672,60  
247,99  
224,32  
2,77  
Tổng 13  
quận cũ  
142,15  
3.214,74  
22,62  
575,3  
4,05  
8.982,74  
63,19 1.425,71 10,03  
Q2  
49,74  
35,69  
114  
2.298,50  
1.197,62  
6.597,38  
2.657,27  
1.954,02  
1.971,52  
46,21  
33,56  
638,98  
669,08  
12,85  
18,75  
9,60  
1,87  
1,07  
3,47  
1.176,56  
1.034,66  
1.726,50  
1.747,32  
2.335,36  
2.109,01  
23,65  
28,99  
853,74  
639,49  
17,16  
17,92  
Q7  
Q9  
57,87 1.094,40  
15,14 2.017,42 17,70  
Q12  
52,78  
51,89  
47,76  
50,35  
37,66  
41,28  
98,64  
55,32  
33,11  
45,01  
44,16  
783,61  
837,37  
511,38  
14,85  
16,14  
10,71  
Bình Tân  
Thủ Đức  
165,66  
Tổng 6 quận  
mới  
351,86 16.676,31 47,39 2.722,08  
494,01 19.891,05 40,26 3.297,38  
7,74  
6,67  
10.129,41 28,79 5.643,01 16,04  
19.112,15 38,69 7.068,72 14,31  
Tổng 19  
quận  
60  
Journal of Transportation Science and Technology, Vol 29, Aug 2018  
Hình 1. Bản đồ phân bố lớp phủ bề mặt khu vực 19  
quận TPHCM năm 2017.  
Hình 2. Bản đồ phân bố không gian xanh khu vực 19  
quận TPHCM năm 2017.  
3.2.2. Hiện trạng phân bố theo từng  
quận  
vực để quy hoạch đô thị hóa và phát triển các  
khu công nghiệp tại quận Bình Tân, quận  
Thủ Đức và quận 12 cũng phần nào khiến tỷ  
lệ trung bình của kiểu mặt không thấm của  
khu vực 6 quận lên tới 28,79%, gần gấp đôi  
so với tỷ lệ đất trống là 16,04%. Trong đó,  
quận Bình Tân chiếm tỷ lệ kiểu mặt không  
thấm cao nhất với 45,01%, quận Thủ Đức  
chiếm 44,16 % và quận 12 là 33,11%. Thấp  
nhất là quận 9 với chỉ 15,14%.  
Bảng 2 minh họa cơ cấu phần trăm lớp  
phủ theo từng đơn vị quận. Kết quả cho thấy  
khu vực trung tâm đô thị TPHCM (13 quận  
nội thành cũ), vào năm 2017, có đến 8/13  
quận có tỷ lệ diện tích kiểu mặt không thấm  
chiếm trên 70%, trong đó cao nhất là quận  
Phú Nhuận với 79,81%, kế tiếp là quận 10 và  
quận 11 với tỷ lệ lần lượt là 78,74% và  
77,85%. Quận 8 chiếm tỷ lệ lại thấp nhất với  
3.3. Chỉ số KGX đô thị và những  
44,30%. Diện tích phân bố thấp nhất tìm thấy hệ quả của việc giảm mảng xanh  
ở hai quận: Quận 4 với chỉ 9,16% và quận 6  
với tỷ lệ 9,97%. Ngược lại, quận Bình Thạnh  
có diện tích phân bố KGX chiếm tỷ lệ cao  
nhất với 32,40%, tiếp đó là các quận Tân  
Bình và quận 8 với tỷ lệ lần lượt là 31,81%  
và 29,72%. Các quận còn lại chiếm tỷ lệ chủ  
yếu từ 10% - 20%.  
3.3.1.Tính toán chỉ số KGX đô thị  
Chỉ số KGX trên đầu người đã được sử  
dụng như một chỉ số đánh giá chất lượng môi  
trường và quy hoạch không gian đô thị tại  
các nước trên thế giới. Theo đó, nghiên cứu  
này đã đánh giá chất lượng KGX đô thị tại  
TPHCM đầu năm 2017 thông qua chỉ số diện  
Riêng ở khu vực 6 quận mới, do được tích cây xanh trên đầu người.  
chuyển từ huyện lên quận và tách đơn vị  
hành chánh không lâu và chính sách phát  
triển của Thành phố đã bắt đầu có chú trọng  
đến cân bằng môi trường sinh thái đô thị nên  
thảm thực vật chiếm diện tích đáng kể. Phần  
lớn các quận mới đều có tỷ lệ diện tích KGX  
trên 40%. Đặc biệt, quận 9 với diện tích thảm  
thực vật lớn nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất là  
57,87%. Tiếp đó là quận 12 với tỷ lệ 50,35%,  
quận 2 với tỷ lệ 46,21% và quận Thủ Đức  
với tỷ lệ 41,28%. Thấp nhất là hai quận:  
Quận 7 với tỷ lệ 33,56% và quận Bình Tân là  
37,66%. Tuy vậy, tỷ lệ này của quận 7 và  
quận Bình Tân vẫn cao hơn tỷ lệ trung bình  
của khu vực 13 quận nội thành cũ. Dù chưa  
được phát triển nhiều song việc mở rộng khu  
Theo thống kê, dân số 19 quận TPHCM  
(không tính 5 huyện) năm 2015 là 6.616.684  
người [4] (do số liệu thống kê cuối năm 2016  
chưa được công bố, nên nghiên cứu này đã  
sử dụng số liệu thống kê của cuối năm 2015).  
Kết quả tính toán chỉ số mảng xanh đô thị  
trên đầu người khu vực TPHCM đầu năm  
2017 chỉ đạt trung bình với tổng chỉ số là  
30,06 m2/người. Tuy nhiên, con số này chủ  
yếu do sự góp phần của tỷ lệ mảng xanh khu  
vực 6 quận mới, còn khu nội thành cũ chỉ số  
đều dưới 15m2/người. Theo tiêu chuẩn thiết  
kế quy hoạch cây xanh sử dụng trong các đô  
thị của nước ta TCVN 9257:2012 [9] thì tỷ lệ  
tiêu chuẩn diện tích đất cây xanh sử dụng  
công cộng cho đô thị đặc biệt dao động trong  
61  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI, SỐ 29-08/2018  
khoảng 12-15 m2/người. Như vậy, tính trên phân ngưỡng này một phần dựa vào quyết  
19 quận TPHCM thì tiêu chuẩn mảng xanh định 24/QĐ-TTg năm 2010 [8] với các  
đô thị trên đầu người đều vượt TCVN nhóm: 0-2; 2-7; 7-12; 12-25; 25-50; >50  
9257:2012. Tuy nhiên, phân tích cho từng m2/người. Theo Quyết định này, chỉ tiêu  
quận thì điều này lại hoàn toàn khác.  
dành cho 13 quận nội thành cũ với đất cây  
xanh chỉ là 2,4 m2/người, còn chỉ tiêu của 6  
quận nội thành mới là 7,1 m2/người. Như  
vậy, tính tới thời điểm hiện tại, chỉ số KGX  
trên người của khu vực 6 quận mới đều đạt  
chỉ tiêu của Quyết định, thậm chí vượt gấp  
nhiều lần. Còn đối với khu vực nội thành cũ,  
chỉ có quận 4 với chỉ số 2,05 m2/người là  
dưới 2,4 m2/người, còn lại 12 quận đều đạt  
chỉ tiêu theo quy hoạch của thành phố. Tuy  
nhiên, đây vẫn là con số quá nhỏ và không đủ  
để bảo đảm môi trường trong lành cần thiết  
để cho cuộc sống. Trong khi trên thế giới,  
tiêu chuẩn KGX đô thị quy định cho cuộc  
sống trong lành và an toàn phải đạt 20 -  
25m2/người.  
Kết quả tính toán trong bảng 3 cho thấy:  
6 quận nội thành mới có tổng diện tích tự  
nhiên là 166.763.100 m2, lớn gấp năm lần  
khu nội thành cũ nhưng dân số lại ít  
(2.473.179 người), chiếm chỉ số mảng xanh  
rất cao với trung bình cả khu vực lên tới  
67,43 m2/người. Cao nhất là quận 9 với  
227,01 m2/người và quận 2 với 156,18  
m2/người. Thấp nhất là quận Bình Tân với  
28,46 m2/người. Các quận còn lại đều có chỉ  
số nằm trong khoảng từ 35-50 m2/người.  
Như vậy, cả 6 quận mới của TPHCM đều có  
chỉ số mảng xanh vượt chuẩn so với TCVN  
9257:2012.  
Trong khi đó, 13 quận nội thành cũ với  
diện tích 3.214,74 ha nhưng dân số lại đông  
gấp đôi so với 6 quận mới (4.143.505 người),  
chiếm chỉ số mảng xanh rất thấp, trung bình  
chỉ 7,76 m2/người. Cao nhất trong khu vực là  
quận Tân Bình với 15,51 m2/người. Tiếp đến  
là quận Bình Thạnh với 13,78 m2/người và  
quận 8 với 13,19 m2/người. Đáng chú ý, các  
quận ở khu đô thị trung tâm như quận 4,  
quận 6, quận 11 đều dưới 3 m2/người: quận 4  
chiếm chỉ số thấp nhất khu vực với chỉ 2,05  
m2/người, quận 6 là 2,77 m2/người và quận  
11 là 2,84 m2/người. Các quận còn lại chỉ  
dao động trong khoảng từ 3-10 m2/người.  
Với chỉ số thống kê như trên, khu vực 13  
quận nội thành cũ của TPHCM đang thiếu  
diện tích cây xanh trầm trọng. So sánh với  
tiêu chuẩn trong TCVN 9257:2012, chỉ có 3  
quận có chỉ số cao nhất (quận Tân Bình,  
quận Bình Thạnh và quận 8) là đáp ứng được  
ngưỡng quy định 12-15 m2/người, trong đó  
quận Tân Bình có chỉ số vượt ngưỡng là nhờ  
đất cây xanh thuộc sân golf sân bay Tân Sơn  
Nhất, trong khi đó, ở khu vực dân cư thì cũng  
thiếu trầm trọng đất cây xanh [8].  
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, cây  
xanh đô thị đóng một vai trò rất quan trọng  
trong việc mang lại lợi ích cho con người, xã  
hội và môi trường trong đô thị. Cây xanh đô  
thị có tác dụng hấp thụ bức xạ nhiệt của mặt  
trời, làm giảm các “đảo nhiệt”; hấp thụ CO2  
và các khí độc hại trong môi trường, tạo ra  
các KGX nhằm duy trì cảnh quan xanh cho  
thành phố. Cây xanh, mặt nước trong đô thị  
có thể làm giảm nhiệt độ không khí từ 3,3oC  
đến 3,9oC khi diện tích đất cây xanh đạt 20%  
đến 50% diện tích đất đô thị. Hiệu quả tổng  
hợp của bóng mát và bay hơi có thể làm giảm  
đi 17% đến 57% năng lượng cần thiết cho hệ  
thống điều hòa không khí khi tăng 25% diện  
tích che phủ thảm thực vật. Cây xanh đô thị  
có thể hấp thụ từ 40% đến 50% cường độ  
bức xạ mặt trời. Đặc biệt, cây xanh hai bên  
đường phố có thể giảm lượng bụi trong  
không khí đối với những tầng trên của nhà  
cao tầng từ 30 - 60%. Trung bình 1 ha rừng  
hay vườn cây rậm rạp có thể hấp thụ 1.000kg  
CO2 và thải ra 730 kg O2 mỗi ngày. Như  
vậy, mỗi người dân đô thị cần diện tích  
khoảng 10m² cây xanh hoặc 25m² thảm cỏ để  
đảm bảo không khí trong lành cho cuộc sống.  
Để thấy rõ vị trí phân bố mảng xanh,  
nghiên cứu phân chia kết quả thống kê chỉ số  
đã tính toán ở bảng 3 thành 6 ngưỡng phân  
loại theo giá trị từ thấp lên cao và thành lập  
bản đồ phân bố chỉ số KGX theo đơn vị hành  
chính cho 19 quận TPHCM (Hình 3). Cơ sở  
62  
Journal of Transportation Science and Technology, Vol 29, Aug 2018  
điểm tiêu biểu về ô nhiễm không khí của  
thành phố cho thấy 89% mẫu kiểm tra không  
khí không đạt tiêu chuẩn cho phép, luôn ở  
mức nguy hại cao cho sức khỏe con người,  
trong đó luợng bụi lơ lửng sinh ra từ khói,  
bụi đang là nhân tố gây ô nhiễm nghiêm  
trọng hàng đầu trên địa bàn. Nhất là tại khu  
vực xung quanh ngã tư An Sương, nơi mà chỉ  
số đo tại mọi thời điểm trong ngày đều không  
đạt yêu cầu, có thời điểm vượt chuẩn gấp 5  
lần. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không  
khí do chì cũng gia tăng nhanh chóng, cao  
nhất thành phố là xung quanh ngã sáu Gò  
Vấp. Ngoài ra, nồng độ NO2 đo được tại các  
trạm quan trắc cũng vượt tiêu chuẩn cho  
phép và đang có biểu hiện gia tăng tần suất  
[3].  
Hình 3. Bản đồ phân bố chỉ số KGX theo đơn vị hành  
chính 19 quận TPHCM.  
3.3.2.Hệ quả của việc giảm mảng xanh  
đô thị tại TPHCM  
Đô thị hóa ở TPHCM với tốc độ mở  
rộng của Thành phố là 4% hằng năm, đây là  
tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với  
các khu đô thị khác của Việt Nam. Tại nhiều  
vùng đô thị hóa nhanh, những vành đai xanh  
bảo vệ môi trường không được quy hoạch và  
bảo vệ. Chỉ tiêu đất để trồng cây xanh trong  
các đô thị quá thấp, mới đạt khoảng 2  
m2/người, đặc biệt là TPHCM, không đạt quy  
chuẩn và chỉ bằng 1/10 chỉ tiêu cây xanh của  
các thành phố tiên tiến trên thế giới [2].  
Thiếu KGX còn ảnh hưởng đến sức khỏe  
của người dân như ngạt do suy hô hấp, nhiễm  
độc máu, thậm chí tử vong. Bệnh về đường  
hô hấp có tỷ lệ người mắc cao nhất (17.3%)  
trong cơ cấu năm 2015 bệnh tật tại Việt Nam  
(gồm: Bệnh hô hấp, sinh đẻ, bệnh hệ tuần  
hoàn, bệnh hệ tiêu hóa, bệnh nhiễm khuẩn và  
ký sinh) và có tỷ lệ tử vong đứng thứ 2  
(16.9%) sau bệnh hệ tuần hoàn [1].  
Hệ quả là, không khí ngột ngạt, nóng  
bức sẽ tạo điều kiện cho hiện tượng đảo nhiệt  
xảy ra, kéo theo những cơn mưa ngày càng  
lớn và làm gia tăng số lượng cơn bão đến  
Thành phố. Mùa mưa kéo dài những năm gần  
đây của Thành phố và kỷ lục 20 cơn bão  
trong nước năm 2017 vừa qua là minh chứng  
rõ nhất cho hậu quả của hiện tượng này.  
Những cơn mưa này là hậu quả từ suy giảm  
mảng xanh đô thị, nhưng cũng chính nó là  
tác động trực tiếp gây ra những tai nạn ảnh  
hưởng đến cây đường phố và ngập lụt đô thị.  
Việc suy giảm cây xanh tại TPHCM là đô thị  
vốn đã dễ ngập lụt vào mùa mưa, giờ sẽ càng  
trầm trọng hơn. Bởi khi mưa xuống cành cây,  
lá cây, rễ cây sẽ giúp tích nước, làm chậm  
quá trình nước đổ ào xuống. Khi cây lâu năm  
bị mất, cây mới trồng chưa kịp ra tán, sẽ  
không còn gì chắn giữ nên mưa cứ ào ào trút  
thẳng xuống và thoát không kịp.  
3.4. Hướng giải pháp  
Nhằm giải quyết và khắc phục tình trạng  
ngày càng thu hẹp của không gian xanh,  
Thành phố cần thực hiện các biện pháp nhằm  
củng cố, mở rộng và phát triển hệ thống công  
viên và cây xanh, phục vụ ngày càng tốt hơn  
đời sống tinh thần của người dân. Các giải  
pháp dựa trên yếu tố lâu dài và tức thời,  
nghiên cứu đặt ra xây dựng theo bốn công cụ  
quản lý môi trường bao gồm:  
• Công cụ pháp lý;  
• Công cụ truyền thông, giáo dục;  
• Công cụ kỹ thuật;  
• Công cụ kinh tế.  
Như vậy, có thể thấy được vai trò rất  
quan trọng và không thể thiếu của KGX  
trong đời sống của cư dân đô thị. Tuy nhiên,  
để hình thành được hệ thống KGX đạt chuẩn  
trong đô thị theo quy hoạch, cần phải có  
quyết tâm chính trị rất lớn của chính quyền  
và sự đồng thuận của cộng đồng dân cư đô  
thị. Ngoài việc bảo tồn, phát triển không gian  
xanh, chính quyền Thành phố cần phải hoàn  
Hiện nay, tình hình ô nhiễm không khí  
trên địa bàn Thành phố đang diễn biến ngày  
càng phức tạp. Cụ thể qua kết quả đo đạc tại  
sáu trạm quan trắc không khí đặt tại các địa  
63  
TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI, SỐ 29-08/2018  
thiện hơn nữa các quy định, chính sách về nay cũng như nhằm kiểm soát quá trình phát  
quản lý quy hoạch - kiến trúc, phát triển hệ triển đô thị xanh tại TPHCM  
thống công viên cây xanh. Nhà nước cần có  
các chính sách về tài chính để khuyến khích  
nhà đầu tư thực hiện các dự án KGX theo  
quy hoạch. Ngoài ra, cần tăng cường công  
tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của  
người dân về vai trò và tầm quan trọng của  
công viên cây xanh trong đô thị. Khi đó  
chính quyền Thành phố không chỉ nhận được  
sự đồng thuận cao của người dân và doanh  
nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện  
quy hoạch KGX, mà còn đảm bảo cho sự  
phát triển đô thị một cách bền vững, hướng  
đến mục tiêu trở thành Thành phố sống tốt,  
văn minh, hiện đại, nghĩa tình.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Báo Nhân Dân (2017), “Ô nhiễm không khí  
nghiêm trọng đe dọa sức khỏe con người,”,  
Available:  
2202-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong-de-doa-  
suc-khoe-con-nguoi.html. [truy cập 01 July  
2017]  
[2] Bộ Tài nguyên Môi Trường (2017), Báo cáo hiện  
trạng môi trường quốc gia 2016, Bộ Tài nguyên  
Môi Trường. Hà Nội, 196 trang.  
[3] Chi cục BVMT TPHCM (2017), “TP.Hồ Chí  
Minh: 89% mẫu kiểm tra chất luợng không khí  
vuợt tiêu chuẩn quy định”,  
d=252&subcatid=0&newsid=235&langid=0,  
[truy cập 01 July 2017]  
Giải pháp ưu tiên cụ thể là: (1) Tăng  
cường mảng xanh đô thị bằng cách: Trồng  
bồn hoa, vệ cỏ, trồng cây trên dải phân  
cách…; (2) Sử dụng nguồn lực từ Nhà nước:  
xây dựng các công trình xanh, công viên cây  
xanh…; (3) Kêu gọi sự tham gia từ người  
dân: Trồng các mảng xanh di động, mảng  
xanh treo tường, mảng xanh trên mái nhà….  
[4] Cục Thống kê TPHCM (2015), “Báo cáo Tình  
hình kinh tế - xã hội TP. Hồ Chí Minh năm  
2015”,  
niengiamthongke-nam2015, [truy cập 15-11-  
2017]  
[5] Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam  
(2013), “Quy hoạch phát triển đô thị xanh ở Việt  
Nam”,  
hoach-do-thi/9463-quy-hoach-phat-trien-do-thi-  
xanh-o-viet-nam.html [truy cập 01 July 2017]  
[6] Maman Poshesh, A.R (2007), Evaluation  
Revealed that the Spatial Landscape of Isfahan in  
both 1386 and 1302 Period by Satellite Images  
and GIS. In Proceedings of the 3th National  
Conference of Urban Green Space and  
Landscape, Tehran, Iran, 10–12 June 2007  
[7] Hoàng Xuân Thành (2009), Thành lập bản đồ  
thảm thực vật trên cơ sở phân tích, xử lý ảnh  
viễn thám. Tạp chí khoa học kỹ thuật thủy lợi và  
môi trường, 29 (6/2010), 27-33.  
[8] Thủ tướng chính phủ (2010). Quyết định Phê  
duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng  
thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025. Thủ  
tướng chính phủ, số 24/QĐ-TTg. Hà Nội.  
[9] Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9257 : 2012 (2012),  
Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong  
các đô thị - tiêu chuẩn thiết kế  
[10] Đặng Trung Tú và cộng sự (2015), “Sử dụng ảnh  
LANDSAT đa thời nghiên cứu diễn biến đô thị  
hóa của thành phố Đà Nẵng phục vụ quy hoạch  
bảo vệ môi trường đô thị” (online),  
o-th, [truy cập 20-11-2017]  
4. Kết luận  
Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ  
nhanh ở TPHCM, kéo theo đó là sự thu hẹp  
mảng xanh và gia tăng diện tích đất đô thị đã  
dẫn đến những hệ quả khó lường cho chất  
lượng sống của người dân và chất lượng môi  
trường. Nghiên cứu đã sử dụng phép toán  
phân loại từ công cụ viễn thám, đánh giá bốn  
đối tượng thực phủ chính của Thành phố  
gồm: Thực vật; mặt nước; mặt không thấm  
của đất đô thị và đất trống cho 19 quận nội  
thành thành phố (13 quận nội thành cũ và 6  
quận mới). Kết quả thống kê lớp phủ bề mặt  
và tính toán chỉ số KGX cho thấy việc phân  
bố KGX của TPHCM không đồng đều. Mảng  
xanh đô thị tập trung nhiều tại 6 quận mới, là  
khu vực chưa bị đô thị hóa nhiều. Trong khi  
đó, khu vực 13 quận nội thành cũ chiếm chỉ  
số KGX rất thấp. Việc không đáp ứng đủ tiêu  
chuẩn mảng xanh gây ảnh hưởng đến  
TPHCM một số hệ quả như mùa mưa hàng  
năm kéo dài, bão lũ gia tăng kéo theo ngập  
lụt, ngã đổ cây xanh,… đã gây thiệt hại về  
người và của. Do đó, từ kết quả và hệ quả  
trên, nghiên cứu đã đưa ra một số hướng  
khắc phục tình trạng thiếu hụt cây xanh hiện  
Ngày nhận bài: 21/5/2018  
Ngày chuyển phản biện: 23/5/2018  
Ngày hoàn thành sửa bài: 13/6/2018  
Ngày chấp nhận đăng: 20/6/2018  
pdf 8 trang yennguyen 16640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng không gian xanh - thước đo chất lượng môi trường hướng đến phát triển đô thị xanh cho thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_khong_gian_xanh_thuoc_do_chat_luong_moi.pdf