Thực trạng chăm sóc thai sản và các yếu tố liên quan trong phụ nữ đến khám và sinh đẻ tại Khoa phụ sản Bệnh viện Đa khoa huyện Thới Bình năm 2010-2011

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC THAI SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN  
TRONG PHỤ NỮ ĐẾN KHÁM VÀ SINH ĐẺ TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH  
VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỚI BÌNH NĂM 2010 – 2011  
BS. Nguyễn Trọng Bài, BS. Phạm Kim Thoa  
Trung tâm Truyền thông GDSK Cà Mau, BVĐK Thới Bình Cà Mau  
Tóm tắt nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu xác định thực trạng chăm sóc thai sản và các yếu tố liên quan  
đến chăm sóc thai sản của phụ nữ tại huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau. Tiến hành nghiên  
cứu cắt ngang, từ tháng 01/2010-06/2011, trên 466 đối tượng là phụ nữ trong huyện đến  
khám thai và sinh đẻ tại khoa phụ sản, bệnh viện đa khoa huyện Thới Bình. Kết quả cho  
thấy: Tỷ lệ khám thai là 68,2%, khám đủ 3 lần/thai kỳ là 51,9%; 52,5% phụ nữ sinh đẻ  
tại bệnh viện huyện, 27,2% sinh đẻ tại trạm y tế xã, 11,1% sinh đẻ ở bệnh viện tỉnh và  
trung ương, tuy nhiên vẫn còn 8,9% đẻ tại nhà và 6,8% không phải là CBYT đỡ đẻ;  
89,5% sau sinh được uống vitamine A, 90,7% được cán bộ y tế khám trong vòng 7 ngày  
sau sinh. Các yếu tố nhóm tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp có liên quan đến thực  
hành chăm sóc thai sản.  
1. Đặt vấn đề  
Mang thai và sinh sản là quá trình sinh lý, tuy nhiên tử vong có liên quan đến thai  
sản là vấn đề sức khỏe lớn rất được quan tâm. Hằng năm trên thế giới, ước tính có  
khoảng 500.000 đến 600.000 phụ nữ chết có liên quan đến thai sản; Tỷ lệ đó ở Việt  
Nam ở vào khoảng 135/100.000 trẻ đẻ sống. Hơn một nửa số tử vong này có thể tránh  
được nếu chăm sóc thai sản tốt. Tỉnh Cà Mau là một tỉnh nghèo, ở Miền Nam, gồm 08  
huyện thị. Thới Bình là huyện nông thôn ở vùng sâu và còn nhiều khó khăn của Cà  
Mau, nên việc chăm sóc sức khỏe nói chung và thai sản nói riêng còn những hạn chế.  
Tổng số phụ nữ 15-49 có chồng 22.821 người, tỷ lệ 69,42%, Tổng số trẻ đẻ ra sống  
2200 trẻ (năm 2009). Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên năm 2008 và 2009 là 1,24%. Cuộc  
sống của người dân nơi đây còn khó khăn và còn nhiều phong tục lạc hậu. Việc tiếp cận  
và sử dụng dịch vụ y tế nói chung cũng như dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em  
còn hạn chế. Vào những năm 90 của thế kỷ trước các bà mẹ của 14 xã trong huyện thực  
hành trong Chăm sóc sức khoẻ Bà mẹ trẻ em còn nhiều vấn đề quan tâm như: Không  
chăm sóc trước sinh, đẻ tại nhà mà không có sự giúp đỡ của người có chuyên môn,  
không được chăm sóc sau sinh, chế độ dinh dưỡng cho trẻ còn kém, tỉ lệ suy dinh dưỡng  
là 15,33 % (năm 2009).  
Từ những thực tế trên, để đánh giá một cách đầy đủ thực trạng chăm sóc thai sản  
ở phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, làm cơ sở, đánh giá công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản tại  
địa phương, có cơ sở lập kế hoạch, hành động can thiệp với mục đích chính là giảm tử  
vong mẹ, đảm bảo sinh đẻ an toàn cho mẹ và con tại tỉnh Cà Mau nói chung và huyện  
Thới Bình nói riêng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài “Thực trạng chăm sóc  
123  
thai sản và các yếu tố liên quan ở phụ nữ đến khám bệnh và sinh đẻ tại khoa phụ sản  
Bệnh viện đa khoa huyện Thới Bình năm 2010-2011”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu chung  
Nghiên cứu thực trạng về thực hành chăm sóc thai sản và các yếu tố liên quan ở  
phụ nữ đến khám bệnh và sinh đẻ tại khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa huyện Thới Bình  
năm 2010-2011.  
2.2. Mục tiêu cụ thể  
1. Mô tả thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của phụ nữ đến khám bệnh và  
sinh đẻ tại khoa phụ sản bệnh viện đa khoa huyện Thới Bình.  
2. Phân tích các yếu tố liên quan tới thực hành chăm sóc thai sản của phụ nữ đến  
khám bệnh và sinh đẻ tại khoa phụ sản bệnh viện đa khoa huyện Thới Bình.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, có chồng, sinh sống tại huyện  
Thới Bình, đến khám thai hoặc sinh đẻ tại khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa huyện  
Thới Bình.  
3.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2010 đến tháng 5/2011.  
3.4. Xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng các phần mềm thống kê SPSS và Epi Info.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thực trạng thực hành  
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu nằm trong độ tuổi 21- 35 tuổi, chiếm 76,2%. Chủ  
yếu là người dân tộc kinh 98,5%. Trình độ học vấn chủ yếu là THCS, chiếm 49,1% và  
tiểu học chiếm 24,7% và đại học/trên đại học chỉ có 3%. Mặc dù địa bàn nghiên cứu là  
nông thôn nhưng mặt bằng về học vấn của phụ nữ là tương đối cao. Còn 9 người (1,9%)  
không biết chữ.  
Nghề nghiệp là công nhân viên chức chiếm 10,9%, chủ yếu làm ruộng/rẫy (53,9)  
và nội trợ (24,2%), phù hợp với cơ cấu kinh tế của một huyện.  
Bảng 1: Đặc điểm tiền sử về số lần mang thai, sinh đẻ  
Đặc điểm  
Số lần mang thai (n=466)  
< 3 lần  
Số lượng  
Tỷ lệ (%)  
399  
67  
85,6  
14,4  
≥ 3 lần  
Số lần đẻ tính chung (n=466)  
124  
< 3 lần  
≥ 3 lần  
459  
7
98,5  
1,5  
Số lần đẻ của nhóm đã từng đẻ (n=162)  
<3 lần  
155  
95,7  
4,3  
≥ 3 lần  
7
Số con sống hiện tại (n=158)  
< 3 con  
151  
7
95,6  
4,4  
≥ 3 con  
Số con trung bình  
1,36  
Số lần mang thai chủ yếu là lần 1 (62,9%) và 2 (22,7%), 3 lần trở lên chiếm tỷ lệ  
thấp (14,4%), người mang thai nhiều nhất là 7 lần (một người). 65,2% chưa sinh lần  
nào, đã sinh 1 lần (tỷ lệ 24,5%), nhóm chưa sinh và sinh dưới 3 lần là 98,5%; 1,5% là  
sinh lần thứ 3 trở lên, trong đó người sinh nhiều nhất là 5 lần (1 người). Trong số 162  
người đã từng sinh đẻ có 95,7% sinh dưới 3 lần, 4,3% sinh từ 3 lần trở lên.  
Trong nghiên cứu, số lần mang thai trung bình là 1,15 lần, số lần đẻ trung bình là  
1,01, trong nhóm những người đã từng sinh đẻ có số lần đẻ trung bình là 1,04 và số con  
sống trung bình là 1,36 con.  
Trong 466 đối tượng tham gia nghiên cứu, có 66,1% (308) đã khám thai trong lần  
mang thai này và 33,5% (156) không đi khám.  
Bảng 2: Số lần khám thai trong một thai kỳ  
Số lần khám thai  
1 lần/thai kỳ  
Tần số (n=318)  
Tỷ lệ (%)  
15,8  
49  
100  
161  
8
2 lần/thai kỳ  
32,3  
3 lần trở lên/thai kỳ  
Không nhớ/không trả lời  
51,9  
3,4  
Bảng 2 cho thấy, trong 318 đối tượng đã từng đi khám thai, số phụ nữ mang thai đi  
khám từ 3 lần trở lên trong một thai kỳ chiếm tỷ lệ cao nhất (51,9%), khám 1 lần trong  
một thai kỳ chiếm tỷ lệ thấp nhất (15,8%).  
Số lần khám thai trung bình trong một thai kỳ của phụ nữ mang thai trong nghiên cứu là  
2,56 lần.  
Tuy không có số liệu mới, nhưng so với số liệu điều tra nhân khẩu học năm 1997 thì tỷ  
lệ khám thai và khám thai đủ 3 lần của nghiên cứu cao hơn so với cả nước và trong khu  
vực.  
Tính chung trong 466 đối tượng tham gia nghiên cứu, có 80,9% đã tiêm phòng uốn ván  
khi mang thai còn 19,1% không tiêm. Tỷ lệ tiêm uốn ván 2 lần trong một thai kỳ cao  
nhất (87,3%), 1 lần là 11,1% và 3 lần là 1,3%.  
125  
0,3%  
Dưới 3 tháng  
Trên 3 tháng  
Không biết  
48,0%  
51,7%  
Biểu đồ 1. Thời gian uống viên sắt trong một thai kỳ  
Thai phụ có uống viên sắt trong thai kỳ, nhưng chỉ có 48% là uống từ 3 tháng trở  
lên, còn lại 51,7% uống viên sắt không đủ 3 tháng.  
Bảng 3: Nơi sinh của bà mẹ  
Nơi sinh  
Tần số (n=162)  
Tỷ lệ (%)  
27,2  
Trạm y tế  
44  
85  
18  
14  
1
Bệnh viện huyện  
BV tỉnh/TW  
Tại nhà  
52,5  
11,1  
8,6  
Khác (chòi, tư nhân...)  
0,6  
Trong số những thai phụ đã sinh con thì đa số chọn bệnh viện huyện chiếm  
52,5%, trạm y tế xã 27,2%, bệnh viện tỉnh/TW 11,1%. Vẫn còn 8,9% đẻ tại nhà và 6,8%  
không phải là CBYT đỡ đẻ.  
Trong số 162 người đã sinh con thì có 129 người thực hiện chăm sóc trong sinh  
đạt yêu cầu, chiếm tỷ lệ 79,6%.  
Bảng 4: Chăm sóc sau sinh  
Nội dung  
Tần số (n=162)  
Tỷ lệ (%)  
Uống vitamin A sau sinh  
Có  
145  
17  
89,5  
10,5  
Không  
Được cán bộ y tế khám trong vòng 7 ngày sau sinh  
Có  
147  
15  
90,7  
9,3  
Không  
Tỷ lệ phụ nữ được uống vitamin A sau sinh là 89,5%. Được khám trong vòng 7  
ngày sau sanh là 89,5%. Được cán bộ y tế khám trong vòng 7 ngày sau sanh là 90,7%.  
Mức đạt chung thực hành chăm sóc sau sinh là 89,5%.  
126  
4.2. Mối liên quan đến hành vi chăm sóc thai sản  
Bảng 5: So sánh thực hành chăm sóc trước sinh theo nhóm tuổi và nghề nghiệp của  
bà mẹ  
Mức độ Không  
2, p  
Đạt  
Tổng  
Đặc điểm  
Nhóm tuổi mẹ  
20 tuổi  
21-35 tuổi  
>35 tuổi  
đạt  
36  
93  
51  
262  
12  
87  
2=12,306  
p<0,005  
355  
24  
12  
Tổng  
141  
325  
466  
Nghề nghiệp của mẹ  
Làm ruộng  
Công chức  
Buôn bán  
Nội trợ  
96  
8
155  
43  
251  
51  
2 =17,424  
p<0,005  
5
18  
23  
25  
7
88  
113  
28  
Nghề khác  
Tổng  
21  
141  
325  
466  
Bà mẹ nhóm tuổi 21-35 chăm sóc trước sinh đạt yêu cầu cao hơn các nhóm tuổi  
khác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,005).  
Nhóm nghề nghiệp CBCC có thực hành chăm sóc trước sinh đạt yêu cầu chiếm  
84,3%, nhóm buôn bán 78,3%, nội trợ 77,9%, và nhóm làm ruộng có tỷ lệ đạt thấp nhất  
là 61,7%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,005).  
Các yếu tố khác như dân tộc, trình độ học vấn, kinh tế gia đình chưa đủ bằng  
chứng nói lên mối liên quan giữa các yếu tố này với kiến thức chăm sóc thai sản trước  
sinh.  
Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ với uống bổ sung viên sắt trước  
sinh (2=8,28, p < 0,005); giữa nhóm tuổi và khám thai của các thai phụ (2=8,11, p <  
0,05); giữa nhóm tuổi và thực hành uống viên sắt của các thai phụ, (2=6,40, p < 0,05);  
giữa nghề nghiệp và thực hành tiêm ngừa uốn ván từ trước của các thai phụ (2=19,85,  
p < 0,005).  
Bảng 6: So sánh thực hành chăm sóc trong khi sinh theo nhóm tuổi của bà mẹ  
Mức độ Không  
2, p  
Đạt  
Tổng  
Nhóm tuổi mẹ  
20 tuổi  
21-35 tuổi  
>35 tuổi  
đạt  
0
5
5
25  
8
113  
11  
138  
19  
2=7,122 p  
< 0,005  
Tổng  
33  
129  
162  
127  
Bà mẹ khi sinh ở nhóm 21-35 tuổi có thực hành tốt chăm sóc khi sinh đạt 81,9%,  
tỷ lệ đạt ở nhóm >35 tuổi là 57,9%. Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống  
kê (2=7,122; p < 0,05). Các yếu tố khác như: dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp  
của mẹ, mức kinh tế gia đình, thực hành trước sinh, tuy có sự khác biệt về tỷ lệ mức đạt  
trong sinh nhưng chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.  
5. Kết luận  
5.1. Thực hành chăm sóc thai sản  
-
-
-
Tỷ lệ khám thai cao là 68,2%. Trung bình 2,56 lần/thai phụ.  
Tỷ lệ có thực hành khám thai đúng (≥3lần/thai kỳ) đạt 51,9%.  
Tỷ lệ có thực hành tiêm ngừa đúng đạt 88,6%; (35,4% đã được tiêm ngừa uốn ván  
trước khi mang thai).  
-
Tỷ lệ có thực hành uống viên sắt đúng đạt 48%.  
5.2. Yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành chăm sóc thai sản  
Chăm sóc trước sinh:  
Nhóm tuổi và nghề nghiệp có mối liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ  
trong chăm sóc trước sinh.  
-
Những bà mẹ làm công nhân viên chức có thực hành chăm sóc trước sinh cao hơn  
các bà mẹ ở nhóm nghề khác (2 =17,424; P < 0,005).  
-
Có mối liên quan giữa trình độ của bà mẹ và thực hành uống bổ sung viên sắt  
trước sinh (2=8,28, p=0,004).  
Chăm sóc trong khi sinh:  
-
-
-
Nhóm bà mẹ 21-35 tuổi có kiến thức, thực hành chăm sóc trong khi sinh cao hơn  
các nhóm tuổi khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (2=7,122; p < 0,005).  
Chưa đủ bằng chứng nói lên mối liên quan giữa các yếu tố dân tộc mẹ, trình độ  
học vấn của mẹ, mức kinh tế gia đình với kiến thức chăm khi sinh của bà mẹ.  
Không tìm được mối liên quan nào với kiến thức và thực hành chăm sóc sau sinh.  
6. Kiến nghị  
Cần nâng cao vai trò trách nhiệm của y tế cơ sở, nhất là tuyến xã trong việc phát  
hiện, quản lý thai nghén, cung cấp thêm kiến thức cho phụ nữ, vận động phụ nữ có thai  
tiêm phòng uốn ván sơ sinh và tuyên truyền về công dụng của viên sắt để cho chị em  
phụ nữ hiểu được tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe thai sản, nhằm củng cố và  
nâng cao hơn nữa những hành vi và những thói quen tốt cho phụ nữ trong huyện. Nhất  
là kiến thức về chăm sóc trước sinh vì thực tế số có khám thai chỉ có 68,2% và khám  
thai đủ 3 lần/thai kỳ chỉ 51,9%.  
128  
Ngành y tế và các ngành dân số, thanh niên, phụ nữ và toàn xã hội nên thường  
xuyên có kế hoạch tuyên truyền, vận động nâng cao dân trí, giáo dục kiến thức, thay đổi  
thái độ thực hành cho phụ nữ về chăm sóc thai sản, cần tập trung nhiều hơn cho các  
nhóm đối tượng ở độ tuổi ≤20, ≥35 tuổi. Chú trọng tới truyền thông nhằm hạn chế tình  
trạng sinh nhiều con…Làm được điều này sẽ góp phần không nhỏ để nâng cao chất  
lượng chăm sóc thai sản, chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ sơ sinh giảm  
được những nguy cơ lâu dài về sức khỏe cho bản thân người phụ nữ và những gánh  
nặng cho gia đình và cộng đồng xã hội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y tế (2007), Báo cáo kết quả nghiên cứu hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ  
CSSKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số Tây nguyên.  
2. Bộ Y tế (2004), Tổng kết công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2003 và phương  
hướng năm 2004, Vụ sức khỏe sinh sản, NXB Y học, Hà Nội.  
3. Bộ Y tế (2004), Niên giám thống kê y tế, Tr109-113, NXB Y học, Hà Nội.  
4. Bộ Y tế (2003), Thực trạng làm mẹ an toàn ở Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội.  
5. Bộ Y tế (2002), Hướng dẫn chuẩn quốc gia về sức khỏe sinh sản, Vụ sức khỏe sinh  
sản, NXB Y học, Hà Nội.  
6. Bộ Y tế (2000), Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010.  
7. Bộ Y tế - Vụ BVSKBMTE-KHHGĐ (1997), Một số thường quy về chăm sóc  
SKBMTE/KHHGĐ, Chương trình hợp tác y tế Việt Nam - Thuỵ Điển, Lĩnh vực  
BMTE-KHHGĐ.  
8. Vương Tiến Hòa (2001), Sức khoẻ sinh sản, NXB Y học, Hà Nội  
9. Vụ BMTE – KHHGĐ (2002), Báo cáo nghiên cứu về tử vong mẹ, tr.49, 52.  
10. Cao Ngọc Thành, Võ Văn Thắng (2008), Giáo trình sau đại học Quản lý sức khỏe  
sinh sản, Đại học Y Dược Huế.  
129  
pdf 7 trang yennguyen 12480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng chăm sóc thai sản và các yếu tố liên quan trong phụ nữ đến khám và sinh đẻ tại Khoa phụ sản Bệnh viện Đa khoa huyện Thới Bình năm 2010-2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_cham_soc_thai_san_va_cac_yeu_to_lien_quan_trong_p.pdf