Thiết lập vùng EBSA - Cách tiếp cận mới trong bảo tồn biển Việt Nam

THIẾT LẬP VÙNG EBSA - CÁCH TIẾP CẬN MỚI  
TRONG BẢO TỒN BIỂN VIỆT NAM  
DƯ VĂN TOÁN,  
HOÀNG ĐÌNH CHIỀU  
Tóm tắt: Hiện nay, nhiều quốc gia thành công trong việc bảo vệ hệ sinh thái biển đặc thù dựa vào các  
vùng đặc thù sinh học hoặc sinh thái (EBSA: Ecologically or Biologically Significant Marine Area).  
Các tiêu chí đánh giá vùng EBSA: tính đặc hữu, duy nhất; là nơi cư trú của các loài quý hiếm, nguy  
cấp; tính đa dạng sinh học cao; tính nguyên sơ ít bị tác động của con người... Việt Nam hiện chưa có  
những nghiên cứu về vùng EBSA. Bảo tồn biển và hệ sinh thái đặc thù của Việt Nam dựa vào khoanh  
vùng địa lý để thành lập các khu bảo tồn biển. Nội dung bài báo này giới thiệu về lịch sử hình thành,  
quy trình xét duyệt, các tiêu chí để xác định vùng EBSA; so sánh các loại hình khu bảo vệ, bảo tồn  
biển và thực trạng bảo tồn biển tại Việt Nam, từ đó đề xuất cách tiếp cận và áp dụng vùng EBSA phù  
hợp với một số hệ sinh thái biển của Việt Nam.  
Từ khoá: bảo tồn biển, EBSA, đa dạng sinh học, sinh cảnh, sinh thái  
EBSA-A NEW APPROACH FOR MARINE CONSERVATION IN VIETNAM  
Abstract: Nowadays, many countries have succeeded in protecting significant marine ecosystems  
based on specific biological or ecological areas (EBSA: Ecologically or Biologically Significant  
Marine Area). EBSA evaluation criteria include uniqueness or rarity; the habitat of rare and  
endangered species; high biodiversity, and pristine nature with little human impact. Viet Nam has not  
yet undertaken any studies using EBSA principles. At present, marine conservation of specific  
ecosystems in Vietnam is based on geographical zoning to establish marine protected areas. This  
article introduces how the principles were established, the review process and the criteria for  
determining EBSA area. It also considers the types of marine protected areas, marine conservation  
areas, and the current status of marine conservation in Vietnam which may be a valid approach for  
the application of EBSA principles to suitable marine ecosystems of Viet Nam.  
Keywords: Marine conservation, EBSA, biodiversity, habitat, ecology  
1. Đặt vấn đề  
trung vào bảo tồn hệ sinh thái (HST) và tài  
nguyên biển [5].  
Mỗi quốc gia có những mục đích khác nhau  
trong việc thành lập các khu bảo tồn biển. Tại  
New Zealand, các khu bảo tồn biển tập trung  
nhiều vào bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH); tại  
Canada, các khu bảo tồn biển tập trung vào bảo  
vệ tài nguyên sinh vật phục vụ nghề cá thương  
phẩm [9]; tại Mỹ, giá trị văn hoá và cộng đồng  
được đề cập nhiều trong các khu bảo tồn biển.  
Tại Việt Nam, các khu bảo tồn biển (MPA) tập  
Việt Nam được đánh giá là một trong 10  
trung tâm ĐDSH biển, trong 20 vùng biển có  
nguồn lợi hải sản phong phú trên thế giới. Vùng  
biển Việt Nam đã phát hiện được khoảng 12.000  
loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu HST điển  
hình. Tuy nhiên, các HST và ĐDSH biển đang  
bị ảnh hưởng tiêu cực do biến đổi khí hậu và các  
tác động của con người.  
3
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Cách tiếp cận bảo tồn ĐDSH biển của Việt  
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên  
cứu  
Nam dựa nhiều vào khoanh vùng địa lý, từ đó  
hình thành các khu bảo tồn biển cấp tỉnh, liên  
tỉnh hoặc quốc gia. Cách tiếp cận này đơn giản  
cho việc quản lý hành chính. Tuy nhiên, Việt  
Nam có đường bờ biển dài, diện tích vùng biển  
rộng, có thể hình thành nhiều vùng đặc thù sinh  
thái khác nhau, do vậy việc khoanh vùng địa lý  
sẽ không thực sự đạt hiệu quả trong bảo vệ vùng  
đặc thù sinh học, vùng sinh thái quan trọng cho  
vòng đời loài di cư, loài đặc hữu.  
Bài báo sử dụng các tài liệu Hội nghị quốc tế,  
các kết quả nghiên cứu của các tổ chức, các học  
giả quốc tế về EBSA [1-6], kết quả nghiên cứu  
của một số đề tài của Viện Nghiên cứu Hải sản,  
Tổng cục Thủy sản. Bài báo sử dụng phương  
pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu, so  
sánh các loại hình bảo tồn biển trên thế giới,  
đánh giá thực trạng bảo tồn biển tại Việt Nam  
làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp,  
kiến nghị.  
Vùng biển đặc thù sinh học hoặc sinh thái (gọi  
tắt là vùng EBSA) đang được tiếp cận và sử dụng  
nhiều trên thế giới. Khái niệm vùng EBSA được  
đưa ra bởi Công ước Liên hợp quốc về ĐDSH  
(Công ước CBD) nhằm bảo tồn ĐDSH và HST ở  
các vùng biển trên thế giới mà không phụ thuộc  
nhiều vào ranh giới quốc gia. Các vùng EBSA  
phải đạt đầy đủ các tiêu chí theo quy định, phù  
hợp với luật pháp quốc tế, luật biển của Liên hợp  
quốc, được các quốc gia hoặc các tổ chức liên  
minh công nhận. Chính vì vậy, các vùng EBSA  
cũng là công cụ bảo tồn có giá trị pháp lý quốc tế  
cao, được sự đồng thuận của các quốc gia. Đồng  
thời, các vùng EBSA cung cấp cơ sở khoa học  
cho các quốc gia trong quy hoạch không gian  
biển hoặc trao đổi hợp tác quản lý, bảo tồn các  
khu vực nằm ngoài vùng tài phán [4].  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Tổng quan về vùng EBSA  
Lịch sử hình thành  
Năm 2004, các bên tham gia Công ước CBD  
đã xây dựng kế hoạch thành lập các khu bảo tồn  
biển liên vùng. Từ đó, hình thành khái niệm  
vùng đặc thù sinh học hoặc sinh thái  
(Ecologically or Biologically Significant  
Marine Area), là cơ sở khoa học cho việc quy  
hoạch không gian biển và các hoạt động liên  
quan đến bảo tồn nằm trong và ngoài vùng tài  
phán quốc gia [4].  
Từ năm 2011 đến 2014, Ủy ban liên minh  
Công ước CBD đã tổ chức 9 hội nghị vùng có  
sự tham gia của các chuyên gia thuộc 92 quốc  
gia và 79 vùng lãnh thổ. Kết quả của các hội  
nghị đã nhận định, có 204 khu vực biển (khoảng  
1/3 diện tích đại dương thế giới) đáp ứng được  
các tiêu chí của vùng EBSA (Hình 1). Ngoài ra,  
các vùng EBSA sẽ tiếp tục được các quốc gia, tổ  
chức liên minh cập nhật, bổ sung dựa trên các số  
liệu khoa học mới nhất.  
Vùng biển Đông có tính ĐDSH cao, có lợi  
ích chung cho Việt Nam và khu vực nên việc  
hợp tác quản lý, bảo tồn ĐDSH là rất cần thiết.  
Do vùng EBSA chưa được nghiên cứu phổ biến  
ở Việt Nam, nên bài báo này sẽ trình bày, làm rõ  
các nội dung cơ bản về quá trình hình thành,  
trình tự đánh giá và tiêu chí công nhận vùng  
EBSA; kết hợp với phân tích, so sánh giữa các  
loại hình khu bảo vệ, bảo tồn biển và thực trạng  
bảo tồn biển tại Việt Nam để gợi mở cách tiếp  
cận áp dụng vùng EBSA phù hợp với điều kiện  
Việt Nam.  
Quy trình xét duyệt  
Việc xác định các vùng EBSA là bước quan  
trọng cho việc tiếp cận quy hoạch vùng bảo tồn  
phù hợp cho từng quốc gia và liên vùng biển  
giữa các quốc gia. Hàng năm các hội nghị khu  
vực tổ chức họp để các quốc gia (hoặc liên minh  
quốc gia) đệ trình hồ sơ vùng EBSA và các vấn  
đề có liên quan.  
4
Dư Văn Toán, Hoàng Đình Chiều - Thiết lập vùng EBSA - Cá ch tiếp cận mới …  
Hình 1. Các vùng EBSA đã được công nhận và mô tả (năm 2015)  
Nguồn: Nicholas J. Bax, 2015 [6]  
Từ năm 2010, quy trình đăng kí xác nhận  
vùng EBSA yêu cầu chuẩn bị một số bước sau  
(COP 10 - Conference of the Parties 10) [2]:  
- Các quốc gia (hoặc liên minh quốc gia) xác  
định vùng EBSA tiềm năng đạt các tiêu chí, phù  
hợp với luật pháp quốc tế và luật biển của Liên  
hợp quốc.  
- Khi hồ sơ đáp ứng tiêu chuẩn, Ban tư vấn  
và hỗ trợ khoa học kỹ thuật của Công ước CBD  
sẽ chuẩn bị báo cáo đánh giá gửi hội nghị COP.  
- Báo cáo cuối cùng sẽ được gửi tới Đại Hội  
đồng Liên hợp quốc, nhóm làm việc Ad Hoc  
Open và các tổ chức chính phủ liên quan để xem  
xét và chấp thuận.  
- Trình bày hồ sơ tại các hội thảo khu vực để  
đạt sự đồng thuận của các quốc gia và các bên  
liên quan.  
Các tiêu chí đánh giá  
Công ước CBD đã đưa ra 7 tiêu chí đánh giá  
để lựa chọn vùng EBSA (Bảng 1).  
Bảng 1. Các tiêu chí đánh giá lựa chọn vùng EBSA theo Công ước CBD  
Tiêu chí  
Giải thích  
Ví dụ  
- Là khu vực có chứa những loài, quần thể, quần xã duy  
nhất, hiếm hoặc đặc hữu cho vùng;  
- Hoặc là khu vực chứa sinh cảnh duy nhất hoặc khác  
biệt hoặc hình thành HST;  
- Hoặc là khu vực chứa đặc điểm đặc biệt về địa mạo,  
hải dương học.  
- Miệng núi lửa thủy  
nhiệt  
- Các quần xã đặc hữu  
quanh khu vực rạn san  
hô vòng (Atoll)  
1. Đặc hữu, duy nhất  
(Unique)  
2. Đặc biệt quan trọng cho  
vòng đời các loài (Life  
history)  
- Bãi đẻ, bãi giống  
- Vùng săn mồi  
- Vùng trú đông  
Là khu vực cần thiết cho một quần thể nào đó tồn tại và  
phát triển.  
- Là khu vực có sinh cảnh cho sự sống và tái tạo quần - Quần xã loài nguy cấp ở  
đàn các loài suy thoái, nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng; khu vực đảo san hô vòng  
- Là khu vực tập trung nhiều loài suy thoái, nguy cấp, có - Bãi đẻ, bãi giống các  
3. Nơi cư trú quan trọng của  
các loài quý hiếm, nguy cấp  
(Endangered)  
nguy cơ tuyệt chủng.  
loài nguy cấp  
5
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
- Khu vực cho các loài tạo  
ra sinh cảnh (san hô, hải  
- Là khu vực có chứa tỷ lệ khá cao các sinh cảnh hoặc các miên)  
loài nhạy cảm, dễ bị tổn thương dẫn đến suy thoái, cạn - Khu vực cho các loài có  
4. Đặc biệt nhạy cảm và hồi  
phục chậm (Fragility)  
kiệt bởi các tác động của con người hoặc thiên tai;  
chu kỳ sống dài, sức sinh  
- Hoặc là khu vực có chứa sinh cảnh, loài có khả năng tái sản thấp (cá mập)  
tạo, hồi phục rất chậm.  
- Khu vực dễ bị tổn  
thương bởi ô nhiễm  
(vùng băng đá)  
- Vùng nước trồi  
Là khu vực có chứa các loài, quần thể, quần xã có năng  
suất sinh học tự nhiên cao (mật độ sinh vật phù du cao,  
giàu dinh dưỡng, Chlorophyll-a…).  
5. Năng suất sinh học cao  
(Productivity)  
- Vùng nước xoáy  
- Vùng núi thủy nhiệt  
- Vùng núi ngầm  
- Vùng núi ngầm  
- Vùng nước xoáy  
6. Đa dạng sinh học cao  
Là khu vực có đa dạng HST, đa dạng thành phần loài, đa - Vùng HST san hô nước  
(Biodiversity)  
dạng nguồn gen cao.  
lạnh  
- Vùng HST hải miên biển  
sâu  
- Là khu vực còn khá nguyên sơ, tự nhiên ít bị tác động - Vùng HST tự nhiên  
của con người; chưa bị khai thác  
- Hoặc là khu vực sinh thái đã được bảo vệ và phục hồi - Vùng bảo tồn biển đã  
7. Tính nguyên sơ, ít bị tác  
động của con người  
(Naturalness)  
thành công.  
phục hồi HST thành công  
Nguồn: Hội nghị các bên COP 9/20 [2]  
Hình 2. Đánh giá vai trò (theo tỷ lệ %) của các tiêu chí lựa chọn vùng EBSA  
Nguồn: Nicholas J. Bax, 2015 [6]  
Trong 7 tiêu chí lựa chọn vùng EBSA, tiêu  
chí tính nguyên sơ ít bị tác động của con người  
được đánh giá thấp nhất (31%) so với các tiêu  
chí khác (51-70%), hai tiêu chí tính đặc hữu và  
tính liên quan đến vòng đời của loài được đánh  
giá cao nhất (Hình 2). Như vậy có thể nhận thấy,  
các vùng EBSA tập trung nhiều vào những sinh  
cảnh đặc thù liên quan đến vòng đời của các loài  
6
Dư Văn Toán, Hoàng Đình Chiều - Thiết lập vùng EBSA - Cá ch tiếp cận mới …  
và nơi cư trú quan trọng của các loài quý hiếm,  
nguy cấp.  
Trong các khu bảo tồn, khu di sản thế giới  
(WHS) là khác biệt nhất, phải đáp ứng những  
tiêu chuẩn quốc tế, đặc trưng cho lịch sử phát  
triển trái đất, liên quan đến các quá trình diễn  
biến sinh thái học. Các vùng EBSA, MPA,  
PSSA khá tương đồng về các tiêu chí (Bảng 2).  
Trong đó, vùng EBSA tập trung nhiều vào sinh  
cảnh quan trọng, đặc thù cho chu kỳ sống của  
loài hoặc những HST dễ bị tổn thương, khả năng  
phục hồi chậm, có năng suất sinh học cao. Khu  
MPA thường tập trung nhiều vào ĐDSH và  
khoanh vùng địa lý, lãnh thổ cụ thể. Khu PSSA  
tập trung nhiều vào những khu vực đặc biệt nhạy  
cảm sinh thái có liên quan nhiều đến các hoạt  
động kinh tế - xã hội, thường đại diện cho vùng  
địa lý, lãnh thổ cụ thể nào đó.  
3.2. So sánh tiêu chí đánh giá các khu bảo  
vệ, bảo tồn sinh thái biển  
Trên thế giới có nhiều mô hình bảo tồn biển do  
các tổ chức đề xuất theo các tiêu chí khác nhau.  
Các khu vực bảo vệ, bảo tồn sinh thái biển đang  
được thế giới áp dụng nhiều là: Khu đặc thù sinh  
học hoặc sinh thái (EBSA) của Công ước CBD;  
Khu bảo tồn biển (MPA - Marine Protected Area)  
của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN);  
Khu đặc biệt nhạy cảm (PSSA - Particularly  
Sensitive Sea Area) của Tổ chức Hàng hải quốc tế  
(IMO); Khu di sản thế giới (WHS - World  
Heritage Site) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và  
Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO).  
Bảng 2. So sánh tiêu chí đánh giá các khu bảo vệ, bảo tồn sinh thái biển  
STT  
EBSA (của CBD)  
MPA (của IUCN)  
PSSA (của IMO)  
WHS (của UNESCO)  
Đáp ứng giá trị tiêu  
Tập trung vào phạm chuẩn ở phạm vi thế  
vi vùng biển đặc hữu, giới (độc nhất, quan  
Đặc hữu, duy nhất (tập trung vào các Tập trung vào vùng  
cấp độ: loài, quần thể, quần xã, sinh địa lý đặc thù và sinh  
cảnh, HST, đặc điểm hải dương học, cảnh đặc hữu, duy  
1
duy nhất.  
trọng nhất, khác biệt  
nhất).  
địa mạo học).  
nhất.  
Phải là khu vực điển  
hình thể hiện các giai  
đoạn chính của lịch sử  
trái đất.  
2
3
--  
--  
--  
Bãi giống, bãi đẻ, bãi  
ương, con đường di  
cư, sinh cảnh quan  
trọng cho các quần  
thể cá.  
Đặc biệt quan trọng cho vòng đời Yêu cầu có bãi giống,  
các loài (tập trung nhiều vào bãi đẻ, khu vực con non,  
bãi giống, sinh thái của con non, sinh vùng kiếm ăn, vùng  
Quá trình tiếp diễn  
của sinh thái học trong  
sự tiến hóa và phát  
triển của HST, loài.  
thái của các loài di cư).  
sinh sản.  
Nơi cư trú quan trọng của các loài  
Chứa những sinh cảnh  
quý hiếm, nguy cấp (sinh cảnh cho Có xuất hiện sinh Xuất hiện sinh cảnh thiên nhiên nhất,  
sự sống và tái tạo quần đàn các loài cảnh cho loài quý cho loài quý hiếm và quan trọng nhất cho  
4
5
đang suy thoái, nguy cấp, có nguy cơ hiếm và nguy cấp.  
tuyệt chủng).  
nguy cấp.  
bảo tồn nguyên vị  
ĐDSH.  
Đặc biệt nhạy cảm và hồi phục chậm  
(các sinh cảnh hoặc các loài nhạy  
cảm, dễ bị tổn thương dẫn đến suy --  
thoái, cạn kiệt và khả năng tái tạo, hồi  
phục rất chậm).  
Tính dễ bị tổn  
thương.  
--  
7
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Năng suất sinh học cao (mật độ sinh  
vật phù du cao, giàu dinh dưỡng,  
Chlorophyll-a…).  
Quan tâm quá trình Có quan tâm đến  
6
7
--  
sinh học, sinh thái.  
năng suất sinh học.  
Đa dạng sinh học (đa dạng HST, đa Đa dạng HST, đa  
dạng thành phần loài, đa dạng nguồn dạng loài, đa dạng  
Nhắc chung đến  
ĐDSH.  
--  
gen).  
nguồn gen.  
Tính nguyên sơ, ít bị tác động của  
Khu vực hoàn toàn tự  
con người (khu vực còn khá nguyên Có quan tâm đến Có quan tâm đến tính nhiên, cảnh quan đẹp  
8
9
sơ hoặc đã được bảo vệ, phục hồi tính nguyên sơ.  
nguyên sơ.  
và tính nghệ thuật  
thành công).  
thiên nhiên cao.  
Thường là một đơn Thường là một đơn vị Thường là một đơn vị  
vị chức năng sinh chức năng sinh học, chức năng sinh học,  
học, thực thể sinh thực thể sinh thái ở thực thể sinh thái ở  
thái ở một vùng địa một vùng địa lý rõ một vùng địa lý rõ  
--  
lý rõ ràng.  
ràng.  
ràng.  
Tính phụ thuộc (phụ  
thuộc nhiều vào hoạt  
động KT-XH và tác  
động của con người).  
10 --  
11 --  
--  
--  
Đại diện cho vùng Đại diện cho vùng địa  
địa sinh học cụ thể. sinh học cụ thể.  
--  
Nguồn: Adrian P., 1999 [1]; Dearden P., 2005 [3]; UNESCO, 2008 [8]  
3.3. Thực trạng các khu bảo tồn biển ở Việt  
Nam  
Thực hiện Quy hoạch tổng thể hệ thống khu  
bảo tồn biển Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn đã thành lập 10 khu bảo tồn biển,  
dự kiến thành lập thêm 6 khu bảo tồn biển trong  
thời gian tới (Bảng 3).  
Hoạt động phục hồi sinh thái biển, nguồn lợi  
biển và bảo vệ các loài quý hiếm ở Việt Nam  
chủ yếu dựa vào việc thành lập các khu bảo tồn  
biển, trong đó tập trung vào mục tiêu bảo tồn  
ĐDSH biển và ít quan tâm đến các tiêu chí khác.  
Bảng 3. Danh sách các khu bảo tồn biển Việt Nam  
Diện tích (ha)  
Tổng Biển  
STT  
Tên gọi khu bảo tồn biển/tỉnh  
Năm thành lập  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Đảo Trần/Quảng Ninh  
Cô Tô/Quảng Ninh  
Bạch Long Vĩ/Hải Phòng  
Cát Bà/Hải Phòng  
Hòn Mê/Thanh Hoá  
4.200  
7.850  
20.700  
20.700  
6.700  
2.490  
17.039  
8.265  
3.900  
4.000  
10.900  
10.900  
6.200  
2.140  
7.626  
6.716  
7.113  
20.000  
12.000  
7.352  
2020  
2020  
2013  
2010  
Chưa  
2010  
Chưa  
2005  
2016  
Chưa  
2001  
2015  
Cồn Cỏ/Quảng Trị  
Hải Vân - Sơn Chà/TT Huế - Đà Nẵng  
Cù Lao Chàm/Quảng Nam  
Lý Sơn/Quảng Ngãi  
Nam Yết/Khánh Hoà  
Vịnh Nha Trang/Khánh Hoà  
Núi Chúa/Ninh Thuận  
7.925  
10  
11  
12  
35.000  
15.000  
29.865  
8
Dư Văn Toán, Hoàng Đình Chiều - Thiết lập vùng EBSA - Cá ch tiếp cận mới …  
13  
14  
15  
16  
Phú Quý/Bình Thuận  
Hòn Cau/Bình Thuận  
Côn Đảo/Bà Rịa - Vũng Tàu  
Phú Quốc/Kiên Giang  
18.980  
12.500  
29.400  
33.657  
16.680  
12.390  
23.000  
18.700  
Chưa  
2011  
2002  
2007  
Nguồn: Quyết định 742, 2010 [7]  
Đến năm 2020, một số khu bảo tồn biển đã đi  
vào hoạt động được 20 năm (ví dụ Vịnh Nha  
Trang) và đã trải qua 10 năm triển khai thực hiện  
Quy hoạch tổng thể các khu bảo tồn biển Việt  
Nam. Tuy nhiên, hiện nay chưa có những nghiên  
cứu nào đánh giá tổng thể, rà soát lại thực trạng  
của các khu bảo tồn biển đã thành lập trong việc  
bảo vệ sinh thái, nguồn lợi biển, sinh kế của  
cộng đồng dân cư và hiệu quả của công tác quản  
lý các khu bảo tồn biển.  
biển di sản thiên nhiên thế giới. Tuy nhiên, các  
hoạt động du lịch, tàu thuyền qua lại nhiều có  
thể ảnh hưởng xấu đến HST biển khu vực này.  
Đồng thời, các quy hoạch vùng nuôi, không gian  
biển chưa khoa học có thể gây ô nhiễm môi  
trường, mất cân bằng sinh thái. Để duy trì và  
phát triển khu EBSA này cần có những định  
hướng phát triển kinh tế biển xanh, quản lý tốt  
các hoạt động du lịch, hạn chế hoạt động nuôi  
trồng ven bờ, ven rạn san hô và tiến tới nuôi biển  
ngoài khơi.  
Ngoài các khu bảo tồn biển, Việt Nam có một  
khu di sản thiên nhiên thế giới (WHS) liên quan  
đến tài nguyên biển là Vịnh Hạ Long; có một  
vùng EBSA được công nhận là quần thể khu vực  
Cát Bà - Hạ Long; chưa có khu vực đặc biệt  
nhạy cảm (PSSA) được công nhận.  
- Các HST ven bờ, ven đảo và HST hang  
ngầm: Hiện tại các HST ven bờ, ven đảo đã được  
tiếp cận theo MPA. Các HST hang ngầm chưa  
được nghiên cứu sâu và có thể là tiềm năng của  
vùng EBSA do còn giữ được tính nguyên sơ, ít  
bị tác động của con người, có thể chứa những  
loài đặc hữu, duy nhất.  
Như vậy, có thể nhận thấy Việt Nam đã tiếp  
cận tập trung bảo tồn ĐDSH theo vùng địa lý  
ven bờ hoặc ven đảo cụ thể, không căn cứ quá  
nhiều vào đặc trưng sinh học, sinh thái. Vì vậy,  
việc nghiên cứu khoanh vùng EBSA có thể là  
một hướng tiếp cận bảo tồn hiệu quả, hỗ trợ cho  
các khu bảo tồn biển hình thành các mạng lưới  
dựa trên đặc thù sinh thái học. Đặc biệt, vùng  
EBSA có thể tiếp cận bảo tồn theo vùng rộng  
lớn hoặc theo đặc thù sinh cảnh ở khu vực nào  
đó (như khu bãi cạn, gò đồi ngầm ở Trường Sa).  
3.4. Tiếp cận bảo tồn biển dựa vào vùng  
EBSA ở Việt Nam  
- Vùng bãi đẻ, bãi giống phân bố ở khu vực  
rộng lớn: Đây là bãi đẻ, bãi giống của nhiều loài  
quý hiếm đặc thù, kéo dài theo vùng sinh thái và  
không tập trung tại một vùng địa lý hẹp. Những  
vùng này sẽ không phù hợp cho việc khoanh khu  
MPA. Chính vì vậy, cần tiếp cận bảo tồn theo  
hướng khoanh vùng EBSA tiềm năng (như vùng  
biển Côn Đảo, Phú Quốc - Nam Du).  
- Các HST bãi cạn, gò đồi ngầm hoặc HST  
biển sâu: Đây là khu vực chưa được nghiên cứu  
nhiều và không quá phù hợp với việc thành lập  
các khu MPA. Khu vực này là những vùng rất  
tiềm năng để đề xuất công nhận vùng EBSA do  
hầu như chưa bị tác động của con người, giữ  
được tính nguyên sơ. Đặc biệt ở đây có nhiều  
HST đặc thù (như HST san hô vùng nước lạnh,  
HST thảm bọt biển) và nhiều loài mới chưa được  
ghi nhận trên thế giới. Mới đây, Thủ tướng  
Trên cơ sở phân tích các tiêu chí công nhận  
vùng EBSA, kết hợp đánh giá thực trạng bảo tồn  
biển Việt Nam, xin đề xuất một số gợi mở cách  
tiếp cận bảo tồn biển dựa vào vùng EBSA phù  
hợp với điều kiện Việt Nam như sau:  
- Vùng Cát Bà - Hạ Long: Đây là khu vực đã  
được công nhận vùng EBSA do nằm trong vùng  
9
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Chính phủ đã phê duyệt Chương trình nghiên  
Việt Nam có một vùng EBSA được công  
nhận là quần thể Cát Bà - Hạ Long. Một số vùng  
biển ở Việt Nam phù hợp nhất với việc khoanh  
vùng EBSA tiềm năng như HST ven bờ, ven  
đảo, HST hang ngầm, HST khu vực bãi đẻ, bãi  
giống vùng biển Côn Đảo, Phú Quốc - Nam Du,  
HST bãi cạn, gò đồi ngầm ở vùng biển Trường  
Sa, HST biển sâu ở biển Đông và vùng nước lịch  
sử hoặc khu vực nằm ngoài vùng tài phán.  
Cơ quan quản lý cần định hướng tiếp cận bảo  
tồn biển, kết hợp giữa khu bảo tồn biển và khu  
đặc thù sinh học, sinh thái, từ đó hình thành  
mạng lưới sinh thái hỗ trợ lẫn nhau bảo tồn  
ĐDSH và tài nguyên biển trong và ngoài vùng  
tài phán quốc gia.  
cứu bãi cạn, gò đồi ngầm và biển sâu trong giai  
đoạn 2020 - 2025 (Quyết định số 28/QĐ-TTg  
ngày 07/01/2020). Đây là cơ hội để thu thập đầy  
đủ cơ sở khoa học cho việc đề xuất các vùng  
EBSA ở Việt Nam (như các gò đồi ngầm ở vùng  
biển Trường Sa).  
- Các vùng nước lịch sử hoặc khu vực nằm  
ngoài vùng tài phán: Những khu vực này có thể  
rất phù hợp cho việc thiết lập vùng EBSA để trao  
đổi hợp tác quản lý, bảo tồn ĐDSH và sinh thái  
giữa các quốc gia, mang lại lợi ích chung cho  
các thế hệ tương lai.  
4. Kết luận và kiến nghị  
Vùng EBSA sẽ là công cụ hiệu quả cho việc  
bảo vệ các HST đặc thù, sinh cảnh quan trọng.  
Đặc biệt, đây là cách tiếp cận bảo vệ những vùng  
sinh cảnh còn nguyên sơ, chưa chịu tác động  
nhiều từ các hoạt động của con người.  
Đối với các đơn vị nghiên cứu, cần tiếp cận  
nghiên cứu thu thập cơ sở khoa học các khu vực  
đáp ứng đủ các tiêu chí của vùng EBSA, đề xuất  
công nhận để hoạt động bảo tồn, duy trì phát  
triển lâu dài.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Adrian Phillips (1999), Guidelines for Marine Protected Areas. World Commission on Protected Areas of IUCN – The  
World Conservation Union, Black Bear Press Ltd., Cambridge, ISBN: 2-8317-0505-3, 127 p.  
2. COP 9/20 (2008), Ninth meeting of the Conference of the Parties to the Convention on Biological Diversity, 19 -30  
May, 2008 at Bonn, Germany.  
3. Dearden P. and Topelko K. N. (2005), Establishing criteria for the identification of ecologically and biologically  
significant areas on the high seas, Fisheries and Oceans Canada, 31 p.  
4. Dunn D. C. et al. (2014), The Convention on Biological Diversity’s ecologically or biologically significant areas: origins,  
development, and current status, Marine Policy, 49: p.137–145.  
5. Luật Thuỷ sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017.  
6. Nicholas J. Bax et al. (2015), Results of efforts by the Convention on Biological Diversity to describe ecologically or  
biologically significant marine areas, Conservation Biology Journal, Vol. 30, No.3, p.571-581.  
7. Quyết định số 742/QĐ-TTG ngày 26/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn  
biển Việt Nam đến năm 2020.  
8. UNESCO (2008), Operational Guidelines for the Implementation of the World Heritage Convention, United Nations  
Educational - Scientific amd Cultural Organisation, Intergovernmental Committee for the protection of the world cultural and  
natural heritage, 173 p.  
9. Vu Hai Dang (2014), Marine Protected Areas Network in the South China Sea: Charting a Course for Future Co-operation,  
Martinus Nijhoff Publisher, p.11.  
Thô ng tin tá c giả:  
Nhật ký tò a soạn  
Ngày nhận bài: 18/1/2021  
Biên tập: 5/2021  
Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu biển và hải đảo  
Hoàng Đình Chiều, Viện Nghiên cứu Hải sản  
Email: [email protected]; [email protected]m; Điện thoại: 0372.886686  
Địa chỉ liên hệ: 67 Chiến Thắng Str, Hà Đông, Hà Nội, Viet Nam  
10  
pdf 8 trang yennguyen 16280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiết lập vùng EBSA - Cách tiếp cận mới trong bảo tồn biển Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthiet_lap_vung_ebsa_cach_tiep_can_moi_trong_bao_ton_bien_vie.pdf