Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng ống hút cỏ của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG  
ỐNG HÚT CỎ CỦA NGƯỜI TI U D NG TẠI TP. HCM  
Nguyễn Thiên Sinh Phúc, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thị Kim Yến  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Trần Thị Hoài P ươ   
TÓM TẮT  
Hiện nay ô nhiễm môi trường đang là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trên toàn cầu, đặc  
biệt là ô nhiễm môi trường do các loại rác thải bằng nhựa. Chính vì vậy nghiên cứu ‚Các yếu tố ảnh  
hưởng đến quyết định sử dụng ống hút cỏ của người tiêu dùng tại TP.HCM ‛được thực hiện nhằm  
xem xét ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng ống hút cỏ, nhằm giúp các  
doanh nghiệp tìm ra những giải pháp marketing phù hợp để kích thích người tiêu dùng mua sản  
phẩm ống hút cỏ, thay thế ống hút nhựa khó phân hủy, góp phần bảo vệ môi trường. Nghiên cứu  
này được khảo sát với 250 người dân sinh sống ở TP. Hồ Chí Minh, trong đó có 187 mẫu dữ liệu hợp  
lệ. Kết quả nghiên cứu cho ra 6 nhân tố, bao gồm: (1) Thái độ đối với ống hút cỏ, (2) Mối quan tâm  
tới môi trường, (3) Nhận thức hành vi kiểm soát, (4) Tính sẵn có của ống hút cỏ, (5) Chuẩn chủ quan,  
(6) Ảnh hưởng của marketing xanh.  
Từ khóa: Bảo vệ môi trường, sản phẩm xanh, ống hút cỏ, tiêu dùng xanh, marketing xanh.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Con người tạo ra của cải vật chất, con người tạo ra nền văn minh nhân loại, nhưng cũng chính con  
người lại là tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường thúc đẩy tiến trình biến đổi khí hậu. Theo Tổ  
chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) ước tính Việt Nam có khoảng 8 triệu tấn chất thải nhựa mỗi  
năm, bao gồm ống hút nhựa. Vấn đề chính là, ngoài tính tiện lợi, ống hút nhựa đem lại những ảnh  
hưởng xấu đến sức khỏe và môi trường. Đặc biệt, nhựa rất khó bị phân huỷ. Từ thực tế trên cho  
thấy, việc ‚Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm ống hút cỏ‛ là điều  
hết sức cấp bách và cần thiết nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ống hút cỏ của  
người tiêu dùng, tìm được điểm chung cũng như những điểm không tương đồng trong quyết định  
đó và có thể sử dụng những thông tin này để làm cơ sở để nghiên cứu tiếp về vấn đề sử dụng ống  
hút cỏ.  
2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT  
Sản phẩm xanh: Nimse và cộng sự cho rằng sản phẩm xanh là những sản phẩm sử dụng các  
vật liệu có thể tái chế, giảm thiểu tối đa phế thải, giảm sử dụng nước và năng lượng, tối thiểu bao bì  
và thải ít chất độc hại ra môi trường.  
1921  
Marketing xanh (green marketing) hay marketing môi trường: bao gồm tất cả các hoạt động được  
thiết kế để tạo ra và tạo điều kiện trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của con người  
đồng thời tối thiểu các tác động bất lợi đến môi trường tự nhiên (Polonsky, 1994).  
Ống hút cỏ: Được làm từ cây cỏ bàng (hay gọi là cây bàng, cây cói) với tên khoa học là Lepironia  
Articulate, có thân cứng, to khoảng 8”10 mm, thân cao khoảng 1 m. Cỏ bàng thường mọc ở vùng  
đất ngập nước như Đồng Tháp, Hà Tiên, Long An.  
Thái độ đối với ống hút cỏ: Thái độ đại diện cho niềm tin tích cực hay tiêu cực của con người và  
sự đánh giá về hành vi của mình. Thái độ nói đến sự đánh giá của con người về kết quả của một  
hành vi (Ajzen, 1991). Thuyết hành động hợp lý TRA và thuyết hành vi dự định TPB đã chứng minh rõ  
thái độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định hành vi của người tiêu dùng và đã được kiểm  
chứng qua nhiều nghiên cứu.  
Bảo vệ môi trường: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự  
sinh sống và sản xuất của con người. Với tư cách là một thực thể tự nhiên ” xã hội, con người sống  
trong môi trường tự nhiên và luôn tồn tại trong môi trường xã hội. Mọi sự xáo trộn về môi trường tự  
nhiên cũng như môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng sống của con người.  
Nhận thức kiểm soát hành vi: Phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và  
việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hoặc hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr. 183). Nhận thức  
kiểm soát hành vi cho biết nhận thức của con người về việc thể hiện hay không thể hiện hành vi khi  
bị kiểm soát.  
Tính sẵn có của ống hút cỏ: Kênh phân phối (hay còn gọi là marketing channel hoặc  
distribution channel) là tập hợp các tổ chức, cá nhân phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào công việc  
đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Tính sẵn có của sản phẩm giúp nhà sản xuất bao phủ thị  
trường bằng cách đưa sản phẩm đến những nơi có nhu cầu. làm chiếc cầu nối giữa người sản xuất  
ra sản phẩm và người sử dụng sản phẩm.  
Chuẩn chủ quan: Ajzen (1991) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjective Norms) hay còn gọi là ảnh  
hưởng xã hội là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay  
không thực hiện hành vi. Chuẩn mực chủ quan có thể được mô tả là nhận thức của cá nhân về các  
áp lực của xã hội đối với việc thực hiện hay không thực hiện một hành vi.  
Ảnh hưởng của marketing xanh: Marketing xanh (green marketing) hay marketing môi trường  
bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế để tạo ra và tạo điều kiện trao đổi nhằm đáp ứng nhu  
cầu và mong muốn của con người đồng thời tối thiểu các tác động bất lợi đến môi trường tự nhiên  
(Polonsky, 1994). Như vậy, các công cụ tiếp thị được thực hiện bởi các tổ chức môi trường là hoạt  
động marketing xanh.  
1922  
H nh 1: Mô h nh nghiên cứu dự kiến  
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Dựa vào nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã tổng hợp và đưa ra bảng câu hỏi khảo sát định lượng.  
Sau khi trải qua quá trình thảo luận nhóm, dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát  
gồm 30 câu hỏi. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích  
thước mẫu là 187 và tiến hành khảo sát người dân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minhphiếu khảo sát.  
Các thang đo trong mô hình lần lượt được đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám  
phá và để kiểm định mô hình, nghiên cứu này sử dụng hồiquy hồi quy tuyến tính bội. Việc phân tích  
dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0.  
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1 Kết quả đánh giá thang đo trước khi phân tích EFA  
Thang đo nhân tố Quyết định sử dụng ống hút cỏ có hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo là 0,828  
> 0,7 và tất cả các biến quan sát có hệ số tương quan biến ” tổng lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là  
0,3. Kết quả đánh giá thang đo trước khi phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho tất cả 6 nhân tố đều  
đủ điều kiện để thực hiện phân tích nhân tố khám phá. Khi xem xét tương quan trong tổng thể của  
từng biến quan sát trong tổng số 30 biến quan sát được đo lường, đạt tiêu chuẩn 27 biến trong  
phân tích nhân tố khám phá tiếp theo.  
4.2 Kết quả sau phân tích khám phá (EFA)  
Bảng 1: Kiểm định EFA ” EIGENVALUES lần cuối  
Giá trị Eigenvalues  
Chỉ số sau  hi tr ch  
Chỉ số sau  hi  oay  
T ch lũy  
Nhân  
T ch lũy  
T ch lũy  
Phương  
Phương  
Phương  
phương  
tố  
Tổng  
phương  
Tổng  
phương  
Tổng  
sai  
sai trích  
sai trích  
sai  
trích  
sai trích  
sai trích  
trích  
1
7.109  
2.126  
1.812  
30.908  
9.242  
7.877  
30.908  
40.150  
48.027  
7.109  
2.126  
1.812  
30.908  
9.242  
7.877  
30.908  
40.150  
48.027  
2.911  
2.822  
2.630  
12.656  
12.272  
11.435  
12.656  
24.928  
36.362  
2
3
1923  
Giá trị Eigenvalues  
Chỉ số sau  hi tr ch  
Chỉ số sau  hi  oay  
T ch lũy  
Nhân  
T ch lũy  
T ch lũy  
Phương  
Phương  
Phương  
phương  
tố  
Tổng  
phương  
Tổng  
phương  
Tổng  
sai  
sai trích  
sai trích  
sai  
trích  
sai trích  
sai trích  
trích  
4
5
6
7
1.494  
1.288  
1.184  
.895  
6.496  
5.601  
5.148  
3.893  
54.523  
60.124  
65.271  
69.164  
1.494  
1.288  
1.184  
6.496  
5.601  
5.148  
54.523  
60.124  
65.271  
2.264  
2.213  
2.172  
9.841  
9.624  
9.444  
46.204  
55.827  
65.271  
Bảng 2: Thông số thống kê trong mô hình hồi quy bằng phương pháp Ente  
Hệ số hồi quy chưa  
chuẩn hóa  
Hệ số hồi quy  
đã chuẩn hóa  
Thống    đa cộng  
tuyến  
Mô hình  
T
Sig.  
Hệ số  
Hệ số  
B
Sai số chuẩn  
Beta  
Tolerance  
VIF  
(Constant) -0.003  
0.193  
0.047  
0.039  
0.041  
0.040  
0.047  
0.037  
-0.018  
3.433  
5.922  
4.749  
2.673  
2.845  
3.405  
0.986  
0.001  
0.000  
0.000  
0.008  
0.005  
0.001  
TD  
BV  
0.161  
0.230  
0.195  
0.108  
0.133  
0.125  
0.194  
0.282  
0.250  
0.138  
0.155  
0.166  
0.581  
0.815  
0.667  
0.690  
0.623  
0.777  
1.720  
1.228  
1.498  
1.449  
1.605  
1.287  
NT  
TSC  
CCQ  
AH  
Giá trị hệ số R2 là 0,667, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với dữ liệu  
66,7%. Nói cách khác, 66,7% quyết định sử dụng ống hút cỏ của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí  
Minhlàdo mô hình hồi quy giải thích. Các phần còn lại là do sai số và các nhân tố khác.  
5 KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, quyết định sử dụng ống hút cỏ chịu sự ảnh hưởng của 6 nhân tố  
mà nhóm tác giả đã đề ra. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả xin được trình bày các kiến  
nghị nhằm nâng cao quyết định sử dụng ống hút cỏ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.  
Thứ nhất, hiện nay, sản phẩm ống hút cỏ được khá nhiều người biết đến nhưng quy mô sử dụng lại  
không nhiều. Vì thế, sự hỗ trợ của nhà nước là việc làm cần thiết nhằm tạo ra động lực giúp doanh  
nghiệp vượt qua những khó khăn trước mắt để nhanh chóng phát triển sản phẩm ống hút cỏ. Cụ  
thể Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về vốn cho sản xuất sản phẩm ống hút, xây dựng và hoàn  
thiện chính sách hỗ trợ giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm.  
Thứ hai, Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, khuyến  
khích sử dụng sản phẩm thay thế như ống hút cỏ. Cụ thể như phát huy vai trò của các tổ chức đoàn  
thể như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam,… trong công tác tuyên truyền vận  
động sử dụng ống hút cỏ trong sinh hoạt hàng ngày; khuyến khích và hỗ trợ các đơn vị, doanh  
1924  
nghiệp, các tổ chức môi trường trong việc phát động các chương trình marketing xanh với tính chất  
thường xuyên sâu rộng đến mọi người dân.  
Thứ ba, đa số các sản phẩm ống hút làm từ cỏ bàng được làm bằng phương pháp thủ công và  
được sử dụng khi còn tươi nên hạn sử dụng thường rất ngắn (nhiệt độ mát khoảng 5 ngày và nhiệt  
độ thường là 1 ngày) nên giải pháp được nhóm tác giả kiến nghị ở đây là sấy khô chúng. Quá trình  
sấy khô không những làm tăng độ chắc chắn của ống hút cỏ mà còn giúp kéo dài thời hạn của  
chúng.  
Thứ tư, so với những sản phẩm được sản xuất công nghiệp, các mặt hàng thân thiện môi trường  
đòi hỏi chi phí cao về nhân công dẫn đến giá ống hút cỏ đắt hơn nhiều so với ống hút nhựa. Với  
mức giá này, kiến nghị mà nhóm tác giả đưa ra là nên tập trung vào phân khúc khách hàng cao  
cấp như các sản phẩm cà phê, trà sữa…mang thương hiệu lớn; các nhà hàng, khách sạn ở các  
khu du lịch, nghỉ dưỡng, đặc biệt là các khu resort…Ngoài ra các nhà sản xuất ống hút cỏ cần tập  
trung nghiên cứu công nghệ sản xuất mới để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.  
Thứ năm, cần có nhiều chương trình khuyến mãi, nhiều hoạt động xúc tiến nhằm giới thiệu sản  
phẩm đến với khách hàng hơn như tổ chức nhiều đợt phát ống hút cỏ miễn phí cho người dân tận  
nhà, các trung tâm mua sắm hoặc phát trực tiếp cho khách hàng ở siêu thị nhằm giới thiệu và  
quảng bá rộng rãi cho khách hàng biết và mua sản phẩm.  
Một vài hạn chế trong kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong  
tương lai. Thứ nhất, phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát người dân ở TP. Hồ Chí Minh, ngoài  
ra số lượng mẫu khảo sát không nhiều cho nên tính đại diện mẫu chưa mang tính khái quát cao.  
Thứ hai, nhóm tác giả chỉ nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng sản phẩm  
ống hút cỏ theo hiểu biết của mình trong một phạm vi nhỏ. Rất có thể còn nhiều yếu tố tác động  
đến quyết định sử dụng ống hút cỏ khác để giúp các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản  
phẩm này tìm ra các giải pháp marketing hiệu quả hơn mà các nghiên cứu tiếp theo sẽ khám phá.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Ajzen, I. (1991), ‚The theory of planned behaviour‛, Organizational Behaviour and Human  
Decision Processes, (50) , 179”211.  
[2]  
[3]  
Axelrod, L.J. & Lehman,D.R. (1993), ‚Responding to environmental concern: what factors guide  
individualaction?‛, Journal of Environmental Psychology, (13), 149-159.  
Berg, C., Jonsson, I., & Conner, M., (2000), ‚Understanding choice of milk and bread for  
breakfast among Swedish children ages 11”15 years: An application of the theory of planned  
behavior‛, Appetite, (34), 5”19.  
[4]  
[5]  
Nimse, P., Vijayan, A., Kumar, A. & Varadarajan, C. (2007), A review of green product  
database, Enviromental Progress, 26(2), 131”137 .  
Polonsky. M. J. (1994), ‚An Introduction to Green Marketing‛, Electronic Green Journal, 1(2), 1-  
10.  
1925  
[6]  
[7]  
Rex, E., & Baumann, H. (2007), ‚Beyond ecolabels: What green marketing can learn from  
conventional marketing‛, Journal of Cleaner Production, 15, 567”576.  
Schultz, P. (2001), ‚The structure of environmental concern: Concern for self, other people, and  
the biosphere‛, Journal of Environmental Psychology, 21(4), 327-339.  
1926  
pdf 6 trang yennguyen 11800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng ống hút cỏ của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_quyet_dinh_su_dung_ong_hut_co_cua_n.pdf