Thành phần loài và phân bố cua (Brachyura) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá

No.21_June 2021 |p.124-130  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
SPECIES COMPOSITION OF CRAB IN MANGROVE ECOSYSTEM  
OF HAU LOC DISTRICT, THANH HOA PROVINCE  
Hoang Ngoc Khac1,*, Vu Minh Giap1, Vu Tuan Loc1, Nguyen Thanh Binh2  
1Hanoi University of Natural Resources and Environment, Vietnam  
2Vietnam Institure of Seas and Island, Vietnam  
Article info  
Abstract  
Researching on crab species composition in the mangrove ecosystem of Hau Loc  
district was carried out in December 2020 at 19 sites representing the habitats in the  
study area. Research results have identified 26 species of crustaceans belonging to  
the infraorder Brachyura. These species belong to 19 genera, 8 families. The family  
with the most species is Sesarmidae with 7 species of 6 genera, followed by  
Dotillidae and Varunidae with 5 species of 4 genera. The remaining families all have  
1 genus, and 1-3 species. The families Sesarmidae, Dotillidae and Varunidae are  
typical families for coastal mangrove ecosystems in Vietnam. Newly recorded the  
presence of Neosarmatium smithi, Perisesarma maipoense, Sarmatium germaini,  
Chiromantes dehaani, ... There are mainly widely distributed species such as  
Perisesarma bidens, Parasesarma plicatum, Metaplax elegans, Metaplax longipes,  
Macrophthalmus tomemtosus, etc. In the bare areas outside the mangroves towards  
the sea, the main species of Metaplax elegans, Macrophthalmus tomemtosus are  
found, species in the family Dotillidae such as Dotilla wichmanni, Scopimera  
bitympana, Ilyoplax formosensis, Ilyoplax ningpoensis; Newly planted lowland  
forest habitat, sparse trees encountered some species such as Metaplax elegans,…; In  
mangroves, the species mainly Perisesarma bidens, Parasesarma plicatum,...; The  
habitat of perennial plantations often appear large-sized species such as  
Neosarmatium smithi, Sarmatium germaini, ...; High-shore habitat along the  
mangrove forest often appear crab species that dig deep burrows on hard ground  
such as Helice latimera, Perisesarma maipoense, Chiromantes dehaani, Uca  
arcuata, ...  
Recieved:  
29/3/2021  
Accepted:  
3/5/2021  
Keywords:  
Species composition,  
distribution, crab,  
mangrove, Hau Loc,  
Thanh Hoa  
124  
No.21_June 2021 |p.124-130  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CUA (BRACHYURA) TRONG  
HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HOÁ  
Hoàng Ngọc Khắc1, Vũ Minh Giáp1, Vũ Tuấn Lộc1, Nguyễn Thanh Bình2  
1Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội  
2Viện nghiên cứu biển và hải đảo  
*Địa chỉ email: [email protected]u.vn  
Thông tin bài viết  
Ngày nhận bài:  
Tóm tắt  
Nghiên cứu về thành phần loài cua trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện  
Hậu Lộc được thực hiện vào 12/2020 tại 19 điểm đại diện cho các sinh cảnh  
trong khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 26 loài giáp  
xác thuộc phân bộ cua trong khu vực HST RNM huyện Hậu Lộc. Các loài  
trong đó thuộc 19 giống, 8 họ. Họ có nhiều loài nhất là họ cáy rừng Sesarmidae  
với 7 loài thuộc 6 giống, tiếp đến họ dã tràng Dotillidae và họ cua rạm  
Varunidae đều có 5 loài thuộc 4 giống. Các họ còn lại đều có 1 giống (từ 1-3  
loài). Các họ Sesarmidae, Dotillidae và Varunidae đều là các họ đặc trưng, điển  
hình cho các HST RNM ven biển ở Việt Nam. Đã ghi nhận mới sự có mặt của  
loài Cáy đỏ (Neosarmatium smithi), Cáy maipo (Perisesarma maipoense), cáy  
tròn (Sarmatium germaini), cáy lông (Chiromantes dehaani), ... Các loài gặp ở  
đây chủ yếu đều là những loài phân bố rộng như Perisesarma bidens,  
29/3/2021  
Ngày duyệt đăng:  
3/5/2021  
Từ khóa:  
Thành phần loài, phân bố,  
cua, rừng ngập mặn, Hậu  
Lộc, Thanh Hoá  
Parasesarma  
plicatum,  
Metaplax  
elegans,  
Metaplax  
longipes,  
Macrophthalmus tomemtosus,… Tại các bãi trống ngoài RNM về phía biển chủ  
yếu gặp các loài mày mạy (Metaplax elegans), sà sạ (Macrophthalmus  
tomemtosus), các loài trong họ dã tràng (Dotillidae) như cua lính, dã tràng lớn,  
dã tràng nâu, vái trời; Sinh cảnh rừng thấp mới trồng, cây thưa bắt gặp một số  
loài như Metaplax elegans,…; Trong RNM gặp chủ yếu là các loài cáy  
Perisesarma bidens, Parasesarma plicatum,...; Sinh cảnh rừng trồng lâu năm,  
nền đáy cao hơn, độ che phủ lớn hơn thường xuất hiện các loài có kích thước  
lớn như cáy đỏ (Neosarmatium smithi), cáy tròn (Sarmatium germaini),…;  
Sinh cảnh bãi cao ven rừng ngập mặn thường xuất hiện các loài cua đào hang  
sâu trên nền đất cứng như cù kỳ (Helice latimera), Perisesarma  
maipoense, Chiromantes dehaani, Uca arcuata,…  
125  
H.N.Khac/ No.21_Jun 2021|p.124-130  
có cua như công trình đánh giá sơ bộ về một số  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
nhóm giáp xác lớn (Malacostraca) và thân mềm  
(Mollusca) ở sông Lèn và bãi triều cửa sông ven  
biển thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, từ năm  
2010. Từ đó đến nay chưa có dẫn liệu nghiên cứu  
nào về nhóm cua ở khu vực này. Trong bài báo này  
này chúng tôi tiến hành xác định thành phần loài và  
phân bố của cua trong hệ sinh thái rừng ngập mặn  
huyện Hậu Lộc. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa làm  
cơ sở kiểm kê sự đa dạng cua trong hệ sinh thái  
rừng ngập mặn, góp phần đề xuất bảo tồn và phát  
triển nguồn lợi cua trong khu vực.  
Hậu Lộc là một huyện ven biển của tỉnh Thanh  
Hoá. Vùng ven biển huyện có bãi bồi rộng do phù  
sa của sông Lèn và sông Trường Giang bồi lắng.  
Đây là khu vực thuận lợi cho sự phát triển của cây  
ngập mặn. Rừng ngập mặn (RNM) huyện Hậu Lộc  
hiện nay tập trung chủ yếu ở xã Đa Lộc với diện  
tích khoảng 300ha với loài bần chua (Sonneratia  
caseolaris) và trang (Kandelia obovata) chiếm ưu  
thế, phát triển thành các đai dọc theo đê quốc gia  
tiến dần ra biển [2]. Đây là môi trường thuận lợi  
cho sự phát triển của các nhóm động vật đáy, trong  
đó có nhóm cua (Brachyura).  
II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG  
PHÁP NGHIÊN CỨU  
Cua là nhóm loài phổ biến trong hệ sinh thái  
(HST) rừng ngập mặn, chúng đóng vai trò rất quan  
trọng trong hệ sinh thái rừng, như là sinh vật phân  
giải phế phẩm từ cây, cua đào hang giúp cho thông  
khí, giải phóng các loại khí trong đất, ... [7]. Đối  
với con người, cua là nguồn thực phẩm quan trọng  
và là nguồn lợi phát triển kinh tế cho người dân địa  
phương. Với vai trò quan trọng của cua trong rừng  
ngập mặn, đã có các nghiên cứu liên quan đến các  
loài động vật đáy trong khu vực này [2], trong đó  
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện vào 12/2020 tại 19  
điểm thu mẫu trong khu vực rừng ngập mặn xã Đa  
Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá (hình 1). Các  
điểm thu mẫu đại diện cho các sinh cảnh: (1) Bãi  
thấp ngoài RNM; (2) Rừng 5 tuổi, rừng thưa, cây  
thấp; (3) Rừng 5-9 tuổi; và (4) Rừng trên 9 tuổi; (5)  
Bãi cao ven rừng.  
Hình 1. Sơ đồ các vị trí khảo sát, nghiên cứu  
Các bước thu thập thông tin và mẫu cua: Xác  
định vị trí => Khoanh ô thu mẫu => Thu bắt  
mẫu cua.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp thu mẫu  
126  
H.N.Khac/ No.21_Jun 2021|p.124-130  
Sau khi xác định được vị trí cần thu mẫu, dùng  
RNM huyện Hậu Lộc (bảng 1). Các loài trong đó  
thuộc 19 giống, 8 họ. Họ có nhiều loài nhất là họ  
cáy rừng Sesarmidae với 7 loài thuộc 6 giống,  
chiếm gần 1/3 tổng số giống và số loài cua ở  
KVNC, tiếp đến họ dã tràng Dotillidae và họ cua  
rạm Varunidae đều có 5 loài (thuộc 4 giống). Các  
họ còn lại đều có 1 giống (từ 1-3 loài). Các họ  
Sesarmidae, Dotillidae và Varunidae đều là các họ  
đặc trưng, điển hình cho các HST RNM ven biển ở  
Việt Nam.  
thước dây xác định ô tiêu chuẩn theo diện tích  
10mx10m, trong đó lập 5 ô thu mẫu kích thước (1m  
x 1m) ở 4 góc và ở chính giữa.  
Mẫu cua được thu trên cây (nếu có), trên mặt  
đất và sâu trong đất [10]. Các mẫu cua chủ yếu  
được thu trực tiếp bằng tay, thu bằng kẹp nếu cua  
chui trong hốc cây, hốc rễ, hoặc đào bằng xẻng nhỏ  
đối với cua sống ở nền đất rắn hơn.  
Mẫu thu được ở mỗi ô vuông cho vào một túi  
nilon hoặc một lọ đựng mẫu có đề nhãn. Nhãn ghi  
các thông tin: Địa điểm, thời gian, tọa độ, sinh  
cảnh, đặc điểm thảm thực vật…  
Nhìn chung về thành phần loài cua ở RNM ven  
biển huyện Hậu Lộc tương đối ít so với các vùng  
khác thuộc ven biển miền Bắc như: RNM Nghĩa  
Hưng (Nam Định), RNM Giao Thuỷ (Nam Định),  
RNM Tiền Hải, RNM Thái Thuỵ (Thái Bình)  
(Đ.V.Nhượng, H.N.Khắc, 2001) [5], [6].  
2.2.2. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu  
Mẫu sống được rửa sạch bằng nước, sau đó  
chụp ảnh làm mẫu, rồi định hình và bảo quản mẫu  
trong cồn 90o.  
Về diện tích cho thấy khu vực RNM ven biển  
huyện Hậu Lộc có diện tích hẹp hơn, chỉ còn vào  
khoảng hơn 300ha, trong khi đó diện tích RNM ở  
Nghĩa Hưng khoảng 2000ha (Đ.V.Nhượng,  
H.N.Khắc, 2001) nên sự so sánh chỉ có tính chất  
tương đối. Về tính chất nền đáy: Vùng này nằm  
ngay cạnh cửa sông Lèn, bãi bồi chủ yếu là phù  
sa, thành phần cơ giới nền đáy là bùn sét với các  
mức độ từ bùn đặc đến loãng ở các vị trí khác  
nhau. Hơn nữa, bề mặt nền đáy trong toàn khu vực  
này gần như bằng phẳng, độ dốc từ ven đê, đầm  
nuôi thuỷ sản ra tới mép nước rất thấp. Độ cao và  
độ che phủ của cây ngập mặn khác nhau và thấp  
dần từ đê biển ra phía ngoài bãi bồi sát mép nước.  
Độ mặn ở khu vực cửa sông thấp hơn so với phía  
các khu vực khác.  
Những mẫu có kích thước bé cần bảo quản  
trong ống nghiệm nhỏ để tránh vỡ nát và mất mẫu.  
Định danh mẫu cua: Hầu hết các loài cua có  
thể định danh dựa vào các đặc điểm hình thái  
ngoài của cơ thể tới nhóm loài. Sử dụng các tài  
liệu để định danh mẫu cua: Dai Ai-yun (1991) [3],  
Jocelin Crane (1975) [1], Peter K.L.Ng (1998) [8],  
Sakai T. (1937) [9].  
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kế toán  
học và phần mềm Excel. Mẫu sau khi được cố định,  
bảo quản sẽ được lưu giữ tại phòng thí nghiệm  
trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.  
III. KꢀT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thành phần loài cua  
Phân tích các mẫu vật đã xác định được 26 loài  
giáp xác thuộc phân bộ cua trong khu vực HST  
Bảng 1. Thành phần loài cua trong HST RNM huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá  
Sinh cảnh  
Bãi  
bùn  
Rừng Rừng Rừng Bãi cao  
TT  
Tên khoa học  
Tên tiếng Việt  
Họ Cua vuông  
thấp dưới 5  
5-9  
trên 9  
ven  
ngoài  
tuổi  
tuổi  
tuổi  
rừng  
rừng  
(1) Grapsidae  
Metopograpsus quadridentatus  
Cáy xanh càng  
tím  
1.  
2.  
x
x
Stimpson, 1858  
Metopograpsus latifron s (White, 1847)  
Cáy tím  
127  
H.N.Khac/ No.21_Jun 2021|p.124-130  
TT  
Tên khoa học  
Tên tiếng Việt  
Họ cua rạm  
Sinh cảnh  
(2) Varunidae  
Eriocheir sinensis H. Milne Edwards,  
1853  
3.  
Cà ra  
x
x
4.  
5.  
6.  
7.  
Cù kỳ xám  
Mày mạy  
x
x
x
x
Helice latimera Parisi, 1918  
x
x
x
x
x
x
x
Metaplax elegans de Man, 1888  
Metaplax longipes Stimpson, 1858  
Suồi suội  
Cua Rạm  
x
x
x
Varuna litterata (Fabricius, 1798)  
(3) Sesarmidae  
Họ cáy rừng  
Chiromantes dehaani (H. Milne  
Edwards, 1853)  
Cáy hôi, cáy  
lông  
8.  
Clistocoeloma merguiense de Man,  
1888  
9.  
Cáy sần  
Cáy đỏ  
x
x
x
x
x
Neosarmatium smithi (H. Milne  
Edwards, 1853)  
10.  
11.  
12.  
Sarmatium germaini (A. Milne-  
Edwards, 1869)  
Cáy tròn  
Cáy gió, cáy  
xanh  
Perisesarma bidens (De Haan, 1835)  
Perisesarma maipoense Soh, 1978)  
x
x
x
x
13.  
14.  
Cáy maipo  
Parasesarma plicatum (Latreille, 1803)  
Cáy mực  
x
(4) Dotillidae  
Họ dã tràng  
15.  
16.  
17.  
18.  
Dotilla wichmanni de Man, 1892  
Ilyoplax formosensis Rathbun, 1921  
Ilyoplax ningpoensis Shen, 1940  
Scopimera bitympana Shen, 1930  
Cua lính nhỏ  
Vái trời nâu nhỏ  
Vái trời nâu lớn  
Dã tràng lớn  
x
x
x
x
x
x
x
x
x
Tmethypocoelis ceratophora (Koelbel,  
1897)  
19.  
Vái trời  
x
x
x
(5) Macrophthalmidae  
Họ cáy bùn  
Macrophthalmus pacificus  
pacificus Dana, 1851  
20.  
21.  
Cáy xạ  
Sà sạ  
x
x
x
x
Macrophthalmus tomentosus  
tomentosus Eydoux & Souleyet, 1842  
(6) Ocypodidae  
Họ Cua cát  
Còng đỏ  
22.  
23.  
24.  
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
Uca arcuata (De Haan, 1835)  
Uca borealis Crane, 1975  
Còng vuông  
Còng xanh  
Họ Cua lính  
Cua lính  
Uca paradussumieri Bott, 1973  
(7) Mictyridae  
25. Mictyris brevidactylus Stimpson, 1858  
(8) Portunidae  
x
Họ cua bơi  
Cua bùn  
26. Scylla serrata (Forskål, 1775)  
TỔNG  
x
x
13  
14  
11  
12  
9
128  
H.N.Khac/ No.21_Jun 2021|p.124-130  
So sánh với các nghiên cứu trước đây của  
chúng thường hoạt động trên bề mặt sàn rừng để  
kiếm ăn, ... hoặc leo lên cây ngập mặn. Chúng chỉ sử  
dụng hang làm nơi trú ẩn. Tại những sinh cảnh rừng  
trồng lâu năm, nền đáy cao hơn, độ che phủ lớn hơn  
thường xuất hiện các loài có kích thước lớn như cáy  
đỏ (Neosarmatium smithi), cáy tròn (Sarmatium  
germaini),… thỉnh thoảng bắt gặp cua bùn (Scylla  
serrata) loại có cỡ nhỏ.  
Hoàng Ngọc Khắc và nnk (2010) [4], kết quả  
nghiên cứu này thấy sự có mặt của loài Cáy đỏ  
(Neosarmatium smithi), Cáy maipo (Perisesarma  
maipoense), cáy tròn (Sarmatium germaini), cáy  
lông (Chiromantes dehaani), ... Lý do có sự khác  
nhau này do nghiên cứu trước đây chủ yếu đề cập  
tới các nhóm sinh vật đáy khu vực cửa sông Lèn và  
hệ thực vật ngập mặn khi đó đang được phục hồi  
được vài năm. Đến nay, sau hơn 10 năm, diện tích  
rừng ngập mặn, tuổi rừng và mật độ cây rừng, sự đa  
dạng thành phần thực vật đều được tăng lên chắc  
chắn làm thay đổi môi trường sống, đặc biệt là đặc  
điểm nền đáy của bãi triều ven biển đã được phù sa  
nâng cao lên, đặc điểm thành phần cơ giới chuyển  
dần từ bùn cát, hoặc cát bùn dần sang nền đáy sét,  
cũng như thảm thực vật che phủ nhiều hơn.  
Sinh cảnh bãi cao ven rừng ngập mặn thường  
xuất hiện các loài cua đào hang sâu trên nền đất  
cứng như cù kỳ (Helice latimera), Perisesarma  
maipoense, Chiromantes dehaani, Uca arcuata, …  
Qua kết quả ở bảng trên cho thấy tại sinh  
cảnh bãi bùn thấp ngoài rừng có số loài nhiều hơn  
sinh cảnh có rừng (rừng 5-9 tuổi và rừng trên 9  
tuổi. Điều này không phải vô lý ví các loài sống ở  
khu vực bãi bùn thấp ngoài rừng chủ yếu là những  
nhóm loài ăn mùn bã đã được phân huỷ thành  
những mảnh rất nhỏ lẫn trong trầm tích được đẩy từ  
rừng ngập mặn ra, còn ở sinh cảnh rừng 5-9 tuổi và  
rừng trên 9 tuổi chủ yếu là các nhóm loài cua thuộc  
họ Sesarmidae, chúng ăn mùn bã hữu cơ thô từ lá  
cây rơi rụng, thậm chí ăn cả lá cây tươi.  
3.2. Đặc điểm phân bố của cua trong KVNC  
Mặc dù RNM không rộng, đặc điểm nền đáy  
cũng như về độ mặn nước biển không có sự khác  
biệt nhiều, tuy nhiên dựa vào đặc điểm các thảm  
thực vật, mức độ gần hay xa cửa sông, độ cao thấp  
của nền đáy cũng như mức độ xa bờ ta cũng có thể  
chia các loại sinh cảnh: Sinh cảnh bãi bùn thấp  
ngoài rừng ngập mặn, sinh cảnh RNM dưới 5 tuổi,  
sinh cảnh RNM từ 5 – 9 tuổi, sinh cảnh cây lâu năm  
trên 9 tuổi và sinh cảnh bãi cao ven rừng.  
KꢀT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu về thành phần loài cua  
trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Hậu Lộc,  
tỉnh Thanh Hoá đã xác định được 26 loài giáp xác  
thuộc phân bộ cua. Các loài trong đó thuộc 19  
giống, 8 họ. Họ có nhiều loài nhất là họ cáy rừng  
Sesarmidae với 7 loài thuộc 6 giống, tiếp đến họ dã  
tràng Dotillidae và họ cua rạm Varunidae đều có 5  
loài thuộc 4 giống. Các họ còn lại đều có 1 giống,  
và từ 1-3 loài. Các họ Sesarmidae, Dotillidae và  
Varunidae đều là các họ đặc trưng và điển hình cho  
các HST RNM ven biển ở Việt Nam. Đã ghi nhận  
mới sự có mặt của loài Cáy đỏ (Neosarmatium  
smithi), Cáy maipo (Perisesarma maipoense), cáy  
tròn (Sarmatium germaini), Cáy lông (Chiromantes  
dehaani), ...  
Các loài gặp ở đây chủ yếu đều là những loài  
phân bố rộng như Perisesarma bidens, Parasesarma  
plicatum, Metaplax elegans, Metaplax longipes,  
Macrophthalmus tomemtosus, …  
Tại các bãi bùn thấp ngoài RNM về phía biển  
chủ yếu gặp các loài cua thường gặp ở đây như mày  
mạy (Metaplax elegans), sà sạ (Macrophthalmus  
tomemtosus), Macrophthalmus pacificus; các loài  
trong họ dã tràng (Dotillidae) như cua lính  
(Mictyris brevidactylus), dã tràng lớn (Scopimera  
bitympana), dã tràng nâu (Ilyoplax ningpoensis),  
vái trời (Ilyoplax formosensis); các loài còng thuộc  
họ cua cát (Ocypodidae), ...  
Các loài gặp ở đây chủ yếu đều là những  
Sinh cảnh rừng dưới 5 tuổi, cây trồng còn thưa  
bắt gặp một số loài như Metopograpsus  
quadridentatus, Metaplax elegans, … được bắt gặp  
ở khu vực rừng mới trồng.  
loài phân bố rộng như Perisesarma bidens,  
Parasesarma  
plicatum,  
Metaplax  
elegans,  
Metaplax longipes, Macrophthalmus tomemtosus,…  
Tại các bãi trống ngoài RNM về phía biển chủ yếu  
gặp các loài mày mạy (Metaplax elegans), sà sạ  
(Macrophthalmus tomemtosus), các loài trong họ dã  
tràng (Dotillidae) như cua lính, dã tràng lớn, dã  
Trong sinh cảnh RNM 5 – 9 tuổi và trên 9 tuổi  
gặp chủ yếu là các loài cáy Perisesarma bidens,  
Parasesarma plicatum, ... Tuy đào hang nhưng  
129  
H.N.Khac/ No.21_Jun 2021|p.124-130  
tràng nâu, vái trời; Sinh cảnh rừng thấp mới trồng,  
University,  
Hanoi,  
Natural  
Science  
and  
Technology, 26(2S):152-158, Vietnam.  
cây thưa bắt gặp một số loài như Metaplax elegans,  
…; Trong RNM gặp chủ yếu là các loài cáy  
Perisesarma bidens, Parasesarma plicatum, ...;  
Sinh cảnh rừng trồng lâu năm, nền đáy cao hơn, độ  
che phủ lớn hơn thường xuất hiện các loài có kích  
thước lớn như cáy đỏ (Neosarmatium smithi), cáy  
tròn (Sarmatium germaini), …; Sinh cảnh bãi cao  
ven rừng ngập mặn thường xuất hiện các loài cua  
đào hang sâu trên nền đất cứng như cù kỳ (Helice  
latimera), Perisesarma maipoense, Chiromantes  
dehaani, Uca arcuata, …  
[5] Nhuong, D.V., Khac, H.N. (2001).  
Biodiversity of benthic fauna in coastal mangroves  
of Thai Binh - Nam Dinh. Scientific seminar “  
Scientific conference on Biodiversity, economy -  
society and propaganda and education in coastal  
areas for mangrove restoration in Thai Binh and  
Nam Dinhh”, 11-28, Vietnam.  
[6] Nhuong, D.V., Khac, H.N. (2004).  
Preliminary data on crab species in the Red River  
estuary mangroves. Journal of Biology, 24(4):13-  
19, Vietnam.  
REFERENCES  
[1] Crane, J. (1975). Fiddler crabs of ther  
world. Ocypodidae: genus Uca. Princeton  
University press, New Jesey, 537-631.  
[7] Pestana, D.F., Pꢀlmanns, N., Nordhaus,  
I., et al. (2017). The influence of crab burrows on  
sediment salinity during the dry season in a  
Rhizophora- dominated mangrove forest in North  
Brazil. Hydrobiologia, 803: 295 – 305.  
[2] Cuc, N.T.K., Hien, H.T. (2020),  
Community-based mangrove rehabilitation and  
management in Hau Loc district, Thanh Hoa  
province. Journal of Irrigation and Environmental  
Science, 69:43-49, Vietnam.  
[8] Peter, K.L.Ng. (1998). Crabs. The living  
Marine Resources of the Western Central Pacific.  
Food and Agriculture Organization of the United  
Nations. Rome, 2:1045-1155.  
[3] Dai, A., Yang, S.L. (1991). Crabs of the  
China seas. China Ocean Press Beijing, 118-558.  
[9] Sakai, T. (1937). Studies on the crabs of  
Japan, 611-174.  
[4] Khac, H.N., Hung, N.D., Ha, B.T.T.,  
Thien, N.T. (2010). Preliminary assessment of  
some groups of large crustaceans (Malacostraca)  
and molluscs (Mollusca) in the Len river and  
coastal tidal flats Hau Loc district, Thanh Hoa  
province. Science Journal of Vietnam National  
[10] Sasekuma, A. (1984). Methods for the  
study of mangrove fauna. The mangrove ecosystem:  
Research methods. Unesco, 145-159.  
130  
pdf 7 trang yennguyen 98380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thành phần loài và phân bố cua (Brachyura) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthanh_phan_loai_va_phan_bo_cua_brachyura_trong_he_sinh_thai.pdf