Thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
PGS. TS. Phùng Văn Khoa, PGS.TS. Trần Ngọc Hải, PGS.TS. Nguyễn Hải Hòa
Trường Đại học Lâm nghiệp
Tóm tắt
Hiện nay, môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, trong khi tình hình vi
phạm các quy định của nhà nước trong công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, cháy rừng, phá
rừng trái pháp luật và chống người thi hành công vụ còn diễn ra ở nhiều nơi, gây bức xúc trong xã hội,
mặc dù rừng đã được giao quyền quản lý cho tổ chức cá nhân ở nhiều nơi, song chưa được quản lý chặt
chẽ, đời sống của người làm nghề rừng còn gặp nhiều khó khăn đã tác động tiêu cực đến công tác quản
lý bảo vệ và phát triển rừng. Diện tích rừng lớn nhưng lực lượng kiểm lâm quản lý bảo vệ rừng lại
mỏng, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến công tác quản lý tài nguyên rừng gặp rất
nhiều khó khăn. Để giải quyết những vấn đề trên, việc tìm giải các giải pháp phát triển nguồn nhân lực
trong lĩnh vực tài nguyên rừng và môi trường tại các trường đại học có ý nghĩa rất quan trọng và nên
được chú trọng nhiều hơn nữa trong thời gian tới. Một số nhóm giải pháp nên được xem xét và triển
khai bao gồm, nhóm giải pháp dài hạn có tính chiến lược, nhóm giải pháp tăng cường phối hợp đào tạo
và nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường với các đơn vị đào tạo; và nhóm
giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo.
Từ khóa: Đào tạo, môi trường, nhân lực, sinh viên, tài nguyên rừng.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số và hiện
đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào.
Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành
nông nghiệp, nông thôn của đất nước, ngành Lâm nghiệp cũng đang từng bước
chuyển mình phát triển. Các nguồn lực đều được ưu tiên cho công cuộc này, đặc biệt
là nguồn nhân lực giữ vị trí then chốt, quyết định cho sự thành bại của sự phát triển.
Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có nguồn nhân lực tốt. Tuy nhiên, trong lĩnh vực
quản lý tài nguyên rừng và môi trường hiện nay nguồn nhân lực vừa thừa lại vừa
thiếu; thừa là thừa lao động chân tay, lao động giản đơn; thiếu là thiếu lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; thiếu người có kiến thức quản lý, tổ chức giỏi.
Trong khi đó việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường chưa thực hiện tốt,
tình trạng phá rừng, khai thác rừng tự nhiên, sử dụng đất Lâm nghiệp trái phép còn
diễn ra hết sức phức tạp, năng suất, chất lượng, giá trị sản xuất thấp, chất lượng và
tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục suy giảm. Khoảng 80% rừng tự nhiên
là rừng nghèo kiệt, rừng trồng chủ yếu là rừng gỗ nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu về
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, điều đó đều tác động xấu và cản trở sự phát
triển trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường. Để giải quyết vấn đề này
61
cần đòi hỏi việc đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo về chất lượng, số lượng đáp ứng
yêu cầu thực tiễn đặt ra. Trong bài viết này, nhóm tác giả chỉ ra một số vấn đề thực
trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường, từ đó đưa
giải pháp nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao trong những năm tới.
2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ TÀI
NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
Theo số liệu công bố gần đây thì diện tích đất có rừng của nước ta tương đối
lớn, có trên 14,4 triệu ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm trên 10,2 triệu ha
và rừng trồng trên 4,2 triệu ha [3], do vậy việc quản lý bảo vệ tốt tài nguyên rừng và
môi trường là rất cấp bách và cần thiết, mang tính chiến lược, nhất là trong bối cảnh
tác động của biến đổi về khí hậu hiện nay. Để duy trì và bảo vệ nguồn tài nguyên
rừng và môi trường, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải pháp
về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường đóng
vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều bất cập trong đào tạo nguồn
nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường, cụ thể:
- Mặc dù diện tích rừng tương đối lớn, nhu cầu cần nguồn nhân lực cao, song
số lượng sinh viên theo học lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt là quản lý tài nguyên rừng
và môi trường còn ít hơn so với ngành khác. Do vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu về
nguồn nhân lực quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.
- Sinh viên các ngành lâm nghiệp nói chung và ngành quản lý tài nguyên rừng
và môi trường, mặc dù tốt nghiệp với tấm bằng khá giỏi, kiến thức chuyên môn tương
đối tốt, nhưng trên thực tế chưa đáp ứng tốt được yêu cầu thực tế của xã hội đặt ra.
- Giáo trình giảng dạy trong các trường đại học có đào tạo về lĩnh vực quản lý
tài nguyên rừng và môi trường còn thiếu, chất lượng chưa đảm bảo, chủ yếu là các
giáo trình cũ trước đây, tuy đã chỉnh sửa, bổ sung nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu đặt ra, đội ngũ cán bộ giảng dạy hiện nay vẫn còn thiếu, chưa đảm bảo chất lượng
theo yêu cầu.
- Chương trình đào tạo nội dung chưa gắn với thực tiễn, chưa tăng thời lượng
thực hành rèn nghề, bổ sung thêm các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
làm việc nhóm,… thiếu các chuyên đề chuyên sâu, cập nhật kiến thức mới, công nghệ
mới, phương pháp mới, giờ thực hành, thực tập tại cơ sở còn ít.
- Trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, chưa sử dụng ngoại ngữ tốt trong công việc
chuyên môn.
3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
Nhằm đáp ứng tốt nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực
quản lý tài nguyên rừng và môi trường, một số giải pháp định hướng lâu dài và cụ thể
nên được triển khai như sau:
62
3.1. Nhóm giải pháp mang tính chiến lược
- Nên xây dựng và thực hiện chiến lược đào tạo và nâng cao năng lực cho cán
bộ lâm nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường các cấp,
đặc biệt là ở cấp xã. Coi trọng đào tạo con em dân tộc thiểu số và đào tạo liên thông,
bồi dưỡng, đào tạo lại cán bộ quản lý bảo vệ tài nguyên rừng ở vùng sâu, vùng xa,
chú trọng đào tạo khuyến lâm cho người nghèo.
- Có chính sách ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các địa phương dân
tộc ít người miền núi vùng sâu vùng xa, có diện tích rừng lớn, đồng bào chủ yếu sống
bằng nghề rừng nhằm bảo vệ tài nguyên rừng tận gốc. Ngoài ra, chúng ta nên chú
trọng đào tạo nhân lực có trình độ cao, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo,
trang bị cho sinh viên kiến thức hiện đại, kết hợp giữa học tập lý thuyết và kỹ năng
thực hành, gắn Nhà trường với xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Lâm nghiệp
nói chung và trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường nói riêng, chủ
động hội nhập quốc tế để bắt kịp trình độ các trường đại học trên thế giới.
- Nâng cao năng lực, cơ sở vật chất cho các trường đào tạo về lâm nghiệp. Xây
dựng đề án đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo lâm nghiệp cả về cơ cấu,
chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và cơ chế quản lý để nâng cao chất
lượng đào tạo, phấn đấu một số lĩnh vực đạt chuẩn quốc tế.
- Xây dựng các chương trình đào tạo ngắn hạn theo chuyên đề, ưu tiên đào tạo
nông dân, công nhân, người làm công tác bảo vệ tài nguyên rừng tại cơ sở.
- Nên có các chính sách khuyến khích và quan tâm hơn nữa công tác quy
hoạch, đào tạo các nhà khoa học và cán bộ giảng dạy chuyên sâu trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên rừng và môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học trẻ
tham gia nghiên cứu và giảng dạy.
- Phát triển các loại hình đào tạo từ xa để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu
ngày càng tăng, sớm đưa giáo dục môi trường rừng vào các chương trình giảng dạy
của các trường học phổ thông trong cả nước.
- Nên có định hướng đào tạo nhiều kỹ sư lâm nghiệp chuyên sâu trong lĩnh vực
quản lý tài nguyên rừng và môi trường, có khả năng quản lý, tổ chức phát triển bền
vững tài nguyên môi trường và các chức năng nghiệp vụ khác của rừng.
3.2. Nhóm giải pháp về tăng cường hợp tác, phối hợp trong đào tạo, nghiên cứu
với đơn vị sử dụng lao động trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
- Đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về mối quan hệ giữa đào tạo gắn liền
với nhu cầu của thị trường và đơn vị sử dụng lao động, như các nghiên cứu của nhóm
tác giả Nguyễn Đức Anh (2017), Nguyễn Thị Thu Phương và Ngô Thị Tân Hương
(2018) [1,5].... Kết quả cho thấy hiện nay các cơ sở đào tạo đang khó khăn trong
tuyển sinh do chưa thực sự bám sát thị trường lao động, nhu cầu của nhà tuyển dụng.
Các nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết, phối hợp giữa cơ sở
đào tạo với các đơn vị sử dụng lao động để nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới
63
mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng nâng
cao năng lực thực hành cho sinh viên, đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác quốc tế trong
nghiên cứu và đào tạo.
- Các chương trình đào tạo của nhà trường phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng
cán bộ của đơn vị sử dụng lao động, muốn vậy nhà trường cần phải nắm được nhu
cầu của các đơn vị sử dụng lao động và trên cơ sở đó để có kế hoạch đào tạo phù hợp.
Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp thông tin cho nhà trường và có
thể tham gia vào việc soạn thảo giáo trình đào tạo sinh viên, nhằm đáp ứng những
kiến thức chuyên môn đúng với thực tiễn mà đơn vị sử dụng lao động đang cần ở sinh
viên sau khi ra trường [4,2].
- Cần thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến quy trình đổi mới
công nghệ để điều chỉnh chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, đối tượng đào tạo
cho phù hợp. Sự điều chỉnh hợp lý kịp thời sẽ giúp cho nhà trường có kết quả đào tạo
tốt hơn, từ đó giúp cho các đơn vị sử dụng lao động được tiếp nhận cán bộ giỏi góp
phần nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động [6].
- Định kỳ cần có những buổi hội thảo liên quan đến trao đổi kinh nghiệm giữa
cán bộ chuyên môn, quản lý của đơn vị sử dụng lao động với nhà trường, đây là việc
làm cần thiết cho cả nhà trường và đơn vị sử dụng lao động [2].
- Tăng thời lượng thực tập của sinh viên tại các đơn vị sử dụng lao động, bổ
sung các môn học kỹ năng để tạo sự nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành cho
sinh viên [2].
- Tổ chức việc đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại theo nhu cầu của đơn vị sử dụng
lao động.
- Đơn vị sử dụng lao động tại địa bàn thực tập thực tế cho sinh viên, có thể
tham gia hướng dẫn sinh viên thực tập theo chuyên đề phù hợp với năng lực và thế
mạnh của đơn vị sử dụng lao động [7].
- Cần có những buổi sinh hoạt ngoại khóa để giao lưu giữa sinh viên với đơn
vị sử dụng lao động nhằm tạo điều kiện để sinh viên tìm hiểu nắm bắt được những
kiến thức thực tế từ đơn vị sử dụng lao động.
- Đơn vị sử dụng lao động sẽ hỗ trợ trao học bổng cho một số sinh viên nghèo
học giỏi xuất sắc ở một số lĩnh vực liên quan đến ngành nghề của đơn vị sử dụng lao
động, đồng thời sẽ có kế hoạch tuyển dụng những sinh viên này vào làm việc tại đơn
vị sử dụng lao động sau khi tốt nghiệp ra trường.
3.3. Nhóm giải pháp về đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đào tạo
Trong những năm tới, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới về chương trình đào tạo,
giáo trình, linh hoạt trong các hình thức đào tạo nói chung, đào tạo lại cho đội ngũ cán
bộ đương chức tại xã, phường, thị trấn và trong các đơn vị sử dụng lao động với các
nội dung cụ thể sau:
64
Một là, về cấu trúc chương trình đào tạo chuyên ngành quản lý tài nguyên rừng
và môi trường, cần cân đối thời gian giữa các học phần theo hướng ưu tiên thời gian
cho sinh viên khảo sát thực địa; nghiên cứu, phân tích các mẫu tại các phòng thí
nghiệm theo các đề tài nghiên cứu khoa học, qua đó trang bị kỹ năng cho sinh viên
trong công tác quan sát, thu thập, phân tích, đánh giá các vấn đề về môi trường trong
thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên có kỹ năng hoạt động thực tiễn từ khi còn học
trong trường. Vì hiện nay nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, đi vào thực tế công tác
chỉ có kiến thức lý thuyết chuyên môn, còn kỹ năng trong hoạt động thực tiễn thì rất
hạn chế, dẫn đến công tác tham mưu, đề xuất với cơ quan chuyên môn, với cấp ủy,
chính quyền, với doanh nghiệp còn rất hạn chế.
Hai là, về hình thức đào tạo, cần linh hoạt nhiều hình thức đào tạo như đào tạo
chính quy tập trung tại trường; đào tạo cho cán bộ theo hình thức vừa học vừa làm tại
các địa phương; đào tạo từ xa; bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên sâu,... vừa đảm
bảo đào tạo theo quy chuẩn chung, vừa đảm bảo đào tạo theo nhu cầu xã hội, đặc biệt
là đối với nhu cầu cấp thiết về đào tạo chuyên sâu và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ
cấp xã và doanh nghiệp.
Ba là, về cơ cấu ngành và cấp trình độ đào tạo, cần có sự khảo sát đánh giá
đúng nhu cầu cán bộ chuyên ngành ở từng lĩnh vực: nghiên cứu khoa học, quản lý
chuyên ngành, đội ngũ nhân viên, kỹ thuật viên, v.v. ở từng địa bàn, vùng, miền, để
có kế hoạch tuyển sinh và đào tạo, bồi dưỡng với số lượng theo từng cấp trình độ cho
phù hợp, đảm bảo cân đối trong cơ cấu về cấp trình độ đào tạo, về chuyên ngành đào
tạo đáp ứng với yêu cầu thực tiễn của xã hội.
3.4. Nhập khẩu một số chương trình đào tạo quốc tế thuộc lĩnh vực quản lý tài
nguyên rừng và môi trường
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thị trường lao động không những đòi hỏi sinh
viên lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường ra trường phải có trình độ
chuyên môn cao và khả năng ngoại ngữ tốt. Do vậy, việc nhập khẩu hay xây dựng
chương trình đào tạo chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng và chuyên ngành Quản
lý tài nguyên và Môi trường giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh (chương trình tiên
tiến), liên kết đào tạo với các trường đại học uy tín trên thế giới như Mỹ, Úc,
Đức,…là bước đi đúng đắn và rất cần thiết, sẽ mở rộng cách cửa hội nhập quốc tế cho
sinh viên trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường. Ngoài ra, sinh viên
sau khi tốt nghiệp chương trình tiên tiến sẽ có nhiều cơ hội xin được học bổng đi du
học sau đại học, cơ hội xin việc làm sẽ cao. Bài học kinh nghiệm từ ngành Quản lý
Tài nguyên thiên nhiên chương trình tiên tiến thuộc Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng
và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp là một minh chứng. Đây là chương trình
nhập khẩu hoàn toàn từ Trường Đại học Colorada State University, Mỹ được giảng
dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh đã và đang khẳng định chất lượng đào tạo, sinh viên ra
trường đáp ứng được yêu cầu cao của thị trường lao động. Kết quả khảo sát, đánh giá
sinh viên đã tốt nghiệp của chương trình này cho thấy sinh viên ra trường có tỷ lệ
65
việc làm cao, chất lượng công việc tốt và có mức thu nhập đáng nể trong môi trường
làm việc đa dạng thuộc các cơ quan trong nước và quốc tế.
4. KẾT LUẬN CHUNG
Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đơn vị sử dụng lao động có một vai
trò rất quan trọng đối với sự phát triển giáo dục và kinh tế xã hội của đất nước nói
chung, đối với cơ sở đào tạo trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường
nói riêng. Đào tạo đáp ứng yêu cầu đơn vị sử dụng lao động không phải là vấn đề tự
đặt ra của một trường đại học mà phải là vấn đề có tính xã hội, nhằm đảm bảo cân
bằng nguồn lao động cũng như đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực. Hơn
nữa, việc đáp ứng yêu cầu các đơn vị sử dụng lao động còn dẫn tới việc các trường
đại học cần phải đổi mới và cập nhật chương trình đào tạo của mình sao cho vừa đảm
bảo nhu cầu lao động nói chung, vừa đáp ứng những đòi hỏi cụ thể về nghề nghiệp
đối với đầu ra của mình. Trên cơ sở thực trạng nguồn nhân lực về lĩnh vực quản lý tài
nguyên rừng và môi trường, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi
trường, bao gồm nhóm giải pháp về chiến lược, định hướng lâu dài; nhóm giải pháp
về tăng cường hợp tác, phối hợp trong đào tạo với các cơ sở sử dụng lao động; nhóm
giải pháp về đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Anh (2017), Giải pháp quản lý hoạt động hợp tác giữa trường
đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật điện tử, truyền
thông, Tạp chí Giáo dục, 429: 11-15.
2. Hoàng Phương Bắc (2018), Một số giải pháp tăng cường đào tạo gắn liền
với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình, Tạp
chí Giáo dục, 6:100-103.
3. Bộ NN&PTNT (2019), QĐ 911/QĐ-BNN-TCLN 2019 công bố hiện trạng
rừng toàn quốc.
4. Nguyễn Đình Luận (2015), Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam: Thực
trạng và khuyến nghị, Giáo dục và Đào tạo, 22:82- 87.
5. Nguyễn Thị Thu Phương và Ngô Thị Tân Hương (2018), Thực trạng công
tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay,
Tạp chí Giáo dục, 423:4-8.
6. Nguyễn Trọng Sơn (2016), Cơ sở khoa học về quản lý đào tạo nghề theo
hướng chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu nhân lực, Tạp chí Giáo dục, 5: 86-89.
7. Nguyễn Nữ Tường Vi (2020), Liên kết nhà trường- doanh nghiệp trong đào
tạo nhân lực du lịch: các hình thức và khuyến nghị, Tạp chí Công thương.
66
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_va_de_xuat_giai_phap_phat_trien_nguon_nhan_luc_tr.pdf

