Tài liệu Kỷ yếu các Đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2014
BỘ Y TẾ
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRUNG ƯƠNG
KỶ YẾU
CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA HỆ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
NĂM 2014
Hà Nội, 2015
1
CHỦ BIÊN
ThS.BS. Trần Quang Mai - Phó Giám đốc Phụ trách quản lý, điều hành
Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương
BIÊN TẬP
ThS.BS. Trịnh Ngọc Quang - Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương
ThS.BS. Lý Thu Hiền - Trưởng phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học
Ths.BS. Đào Thị Tuyết - Phó trưởng phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học
ThS. Phùng Thị Thảo - Cán bộ phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học
CN. Nguyễn Thị Lý - Cán bộ phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học
TRÌNH BÀY
HS. Vũ Bảo Ngọc - Cán bộ phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học
CN.Đặng Ngọc Bình - Cán bộ phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học
2
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
Nghiên cứu tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của
các bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2012
1.
5
Thực trạng sử dụng và kiến thức, thái độ của người uống rượu, bia
ở thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn năm 2014
Đánh giá hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe trong thay đổi
kiến thức, thái độ thực hành phòng chống tác hại thuốc lá của sinh
viên, giáo viên, nhân viên trường Đại học Thủ Dầu Một tỉnh Bình
Dương năm 2014
2.
3.
14
26
Thăm hộ gia đình kết hợp với tầm soát nguy cơ tiền đái tháo đường
và đái tháo đường type 2 ở đối tượng trên 45 tuổi tại phường Trần
Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn
4.
35
Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về phòng
chống lao của người dân thành phố Cà Mau năm 2013
Sáng kiến cải tiến kỹ thuật hướng dẫn tra cứu các mốc thời gian chăm
sóc sức khỏe bà bầu và trẻ em < 1 tuổi bằng tờ rơi
Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi của phụ nữ và nam giới
trong độ tuổi sinh đẻ về chăm sóc sức khỏe trước khi mang thai tại
thành phố Đà Nẵng
5.
6.
7.
43
50
54
Đánh giá kiến thức, thực hành của người dân về chăm sóc mắt đúng
cách trước và sau truyền thông tại một số huyện thị của tỉnh Hà
Giang trong 2 năm 2012-2014
8.
64
Đánh giá kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe của cộng tác viên
y tế cơ sở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh năm 2014
Nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc lá tại 4 quận huyện thành
phố Hải Phòng
Khảo sát hiểu biết, thái độ, hành vi của cộng đồng về phòng chống
tác hại của thuốc lá và luật luật phòng chống tác hại của thuốc lá tại
Hải Phòng năm 2014
9.
65
66
73
10.
11.
Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe hệ thống y tế
thôn bản tỉnh Hòa Bình năm 2014
12.
13.
14.
80
90
96
Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống Rubella của phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ tại thành phố Huế năm 2013 và các yếu tố liên quan
Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh cúm
A/H5N1 ở người của người dân tại 3 huyện Nam Đông, A Lưới và
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS của nam
quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố Nha Trang, Khánh Hòa
15.
107
3
Đánh giá thực trạng kiến thức và thái độ thực hành về phòng chống
suy dinh dưỡng trẻ em ở phụ nữ nuôi con dưới 5 tuổi tại xã Vân
Khánh, huyện An Minh
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về kỹ năng truyền thông
giáo dục sức khỏe của cán bộ y tế các xã, thị trấn huyện Tam
Đường 2013
Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ
có con dưới 10 tuổi tại thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm
Đồng năm 2014
16.
17.
18.
116
126
132
Khảo sát thực trạng hoạt động phòng tư vấn các đơn vị y tế tuyến
huyện năm 2014
Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về
phòng chống cúm gia cầm trên người của người dân huyện Châu
Thành, tỉnh Long An năm 2014
19.
20.
137
142
Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết
của người dân hai xã, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
năm 2013
21.
148
157
22. Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi về kết quả thực hiện vệ
sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ huyện Thuận Bắc, tỉnh
Ninh Thuận
Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống cúm A của học
sinh trường THCS Phù Đổng và THCS Sào Nam huyện Duy Xuyên
- tỉnh Quảng Nam
23.
158
Nghiên cứu tình hình thừa cân, béo phì của học sinh từ 6-10 tuổi tại
một số trường tiểu học thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Khảo sát tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sinh hoạt và nhà tiêu hợp
vệ sinh tại huyện Nông Cống, Thanh Hóa năm 2013
Nghiên cứu kiến thức, thực hành về làm mẹ an toàn của bà mẹ có
con dưới 24 tháng tuổi tại tỉnh Trà Vinh năm 2014
Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của
học sinh trường Trung học cơ sở Tam Khương, Đống Đa, Hà
Nội năm 2014
24.
25.
26.
27.
167
181
190
201
Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại các
tỉnh/thành phố trong cả nước năm 2014
28.
210
4
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH
NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ
CÓ CON TỪ 6-24 THÁNG TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG NĂM 2012
Nguyễn Thị Tâm, Văn Hiển Tài
Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh An Giang
Tóm tắt nghiên cứu
Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu góp phần làm
giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em. Có nhiều yếu tố liên quan đến thực hành nuôi
con bằng sữa mẹ. Việc nghiên cứu tình hình NCBSM và một số yếu tố liên quan
là cần thiết nhằm xác định tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về
NCBSM và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành
về NCBSM. Nghiên cứu thực hiện trên 300 bà mẹ tại huyện Phú Tân, trong thời
gian từ tháng 11/2012 đến tháng 8/2013.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bà mẹ có kiến thức về NCBSM tốt là 59%,
thái độ tích cực/ tốt về NCBSM là 76,7%. Tỉ lệ các bà mẹ cho trẻ bú sớm sau sinh
(BSSS) trong vòng 1 giờ đầu là 75,7%, tỉ lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn là 25,3%.
Nơi cư ngụ, trình độ học vấn, kiến thức chung về NCBSM có liên quan đến thái độ
NCBSM của các bà mẹ. Thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh liên quan đến thực hành
cho trẻ bú sớm sau sinh. Trình độ học vấn, qui mô gia đình, kinh tế gia đình và kiến
thức chung về NCBSM liên quan đến thực hành NCBSM hoàn toàn của các bà mẹ.
1. Đặt vấn đề
Một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh
dưỡng trẻ em là thực hành NCBSM, nhất là việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu. Theo thống kê của Viện Dinh dưỡng, cả nước có 61,7% trẻ bú mẹ
trong vòng 1 giờ đầu sau sinh; 19,6% trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [10].
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo các bà mẹ cho trẻ bú mẹ sớm trong
vòng 1 giờ đầu sau sinh, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục
cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 24 tháng hoặc lâu hơn [5], [6], [8], [10].
Các công trình nghiên cứu đều cho rằng sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự
phát triển của trẻ. Tuy nhiên, hiện nay các chương trình quảng cáo, tiếp thị về sữa
công thức đang được đẩy mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm ảnh
hưởng đến nhận thức và thực hành của các bà mẹ về NCBSM. Do vậy nghiên cứu
tình hình NCBSM trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi và
5
một số yếu tố liên quan tại huyện Phú Tân - tỉnh An Giang nhằm góp phần cung
cấp thông tin cho chương trình phòng chống suy dinh dưỡng tại địa phương.
2. Mục tiêu nghiên cứu
1. Xác định tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về NCBSM
trong 6 tháng đầu tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2012.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về
NCBSM trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 đến 24 tháng tuổi tại
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2012.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Bà mẹ có con từ 6 đến dưới 24 tháng tuổi có hộ khẩu
thường trú ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
3.2. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
3.3. Cỡ mẫu: Áp dụng công thức: n = Z2 .p.(1-p)/d2. Trong đó:
n: là số bà mẹ được phỏng vấn.
Z: là giới hạn khoảng tin cậy ở mức xác suất 95%, tương ứng với giá trị: Z = 1,96.
p: tỉ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu năm 2010 là 0,13 [3]
d = 0,04 (sai số cho phép).
Thay vào công thức tính được: n = 271, tăng 10% hao hụt, lấy tròn số ta được
n = 300.
3.4. Chọn mẫu: Huyện Tân Phú có tất cả 18 xã/thị trấn. Trong đó đã chọn được 4
xã trong huyện như sau:
- 02 xã đã được thực hiện mô hình tăng cường thực hành NCBSM tại cộng
đồng là xã Phú Thọ và Bình Thạnh Đông.
- 02 xã chưa được thực hiện mô hình tăng cường thực hành NCBSM tại
cộng đồng (theo phương pháp ngẫu nhiên).
- Đối tượng chọn theo phương pháp ngẫu nhiên dựa trên danh sách các bà
mẹ được lấy theo sổ theo dõi sinh tại trạm y tế xã.
3.5. Địa điểm: Huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
3.6. Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2012 đến tháng 08/2013.
3.7. Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ
tại hộ gia đình. Dữ liệu được xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS. Sử dụng
kiểm định khi bình phương để so sánh tỉ lệ các yếu tố liên quan đến kiến thức,
6
thái độ và thực hành NCBSM của các bà mẹ, đo lường mức độ kết hợp bằng tỉ
suất chênh OR.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trong số 300 đối tượng nghiên cứu, 68% đối tượng có độ tuổi từ 20 đến 30
tuổi; 100% là người dân tộc kinh. 86,3% các bà mẹ có trình độ học vấn từ trung
học cơ sở trở xuống. Chỉ 15% các bà mẹ làm nông nghiệp. 63,3% bà mẹ còn sống
theo gia đình truyền thống (nhiều thế hệ). có 56,7% bà mẹ có từ hai con trở lên.
13,3% đối tượng nghiên cứu thuộc hộ nghèo.
4.2. Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về NCBSM
Bảng 1: Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về NCBSM (n=300)
Tỉ lệ
Nội dung
Tần số
(%)
93,7%
54,7
83,0%
51,3
59,0
93,0
80
Biết cần phải cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
Kiến thức chung tốt về cho trẻ bú sớm sau sinh
Hiểu đúng khái niệm NCBSM hoàn toàn
Kiến thức chung tốt về NCBSM hoàn toàn
Kiến thức chung tốt về NCBSM
281
164
249
154
177
279
240
230
226
76
Thái độ tốt về cho trẻ bú sớm sau sinh
Thái độ tốt về NCBSM hoàn toàn
Thái độ chung tốt về NCBSM
76,7
75,3
25,3
Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh
Thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức chung tốt về cho trẻ bú sớm sau sinh là 54,7%,
kiến thức chung tốt về NCBSM hoàn toàn là 51,3%, kiến thức chung tốt về
NCBSM là 59%. Tỉ lệ bà mẹ đồng ý cho trẻ bú sớm sau sinh là 93%, tỉ lệ bà mẹ
đồng ý NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 80% và thái độ chung tốt (có
đồng ý cả 2 nội dung trên) là 76,7%. Tỉ lệ các bà mẹ cho trẻ bú mẹ trong vòng 1
giờ đầu sau sinh là 75,7%, tỉ lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn là 25,3%.
Nghiên cứu cũng cho thấy lý do chính khiến bà mẹ không cho con bú ngay
sau sinh là do mẹ mệt/ sinh mổ (49,3%), lý do được bà mẹ nêu ra nhiều nhất khi
7
không NCBSM hoàn toàn là sợ bé khát nước (58,9%), 6,3% cho rằng nuôi trẻ
bằng sữa ngoài tốt hơn.
4.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về NCBSM
Bảng 2: Các yếu tố liên quan đến kiến thức chung về NCBSM (n=300)
KT chung
KT chung
chưa tốt
Đặc điểm
Xã điểm
OR
p
tốt
125 (69,1%)
52 (43,7%)
36 (87,8%)
56 (30,9%)
67 (56,3%)
5 (12,2%)
Nơi cư
ngụ
2,876
0,001
Không xã điểm
Từ THPT trở lên
Trình độ
học vấn
6,026
0,198
0,001
0,001
Từ THCS trở
xuống
141 (54,4%) 118 (45,6%)
Nông dân
12 (26,7%)
33 (73,3%)
90 (35,3%)
Nghề
nghiệp
Nghề khác
165 (64,7%)
Nơi cư ngụ và trình độ học vấn có liên quan đến kiến thức chung về
NCBSM của các bà mẹ, sự khác biệt về kiến thức chung tốt của bà mẹ giữa các
nhóm có ý nghĩa thống kê (OR>1; p<0,05). Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy yếu tố nghề nghiệp có liên quan đến kiến thức chung về NCBSM có ý
nghĩa thống kê, cụ thể người làm nghề nông nghiệp sẽ có kiến thức thấp hơn
người làm nghề khác như công nhân, buôn bán, cán bộ… (OR=0,198; p = 0,001).
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến thái độ (TĐ) chung về NCBSM (n=300)
TĐ chung
TĐ chung
chưa tốt
Đặc điểm
OR
p
tốt
Xã điểm
153 (84,5%)
77 (64,7%)
37 (90,2%)
28 (15,5%)
42 (35,3%)
4 (9,8%)
Nơi cư
ngụ
2,981 0,001
3,163 0,027
0,432 0,013
Không xã điểm
Từ THPT trở lên
Trình độ
học vấn
Từ THCS trở xuống 193 (74,5%)
66 (25,5%)
17 (37,8%)
53 (20,8%)
8 (4,5%)
Nông dân
Nghề khác
Tốt
28 (62,2%)
202 (79,2%)
169 (95,5%)
Nghề
nghiệp
KT
21,471 0,001
chung
NCBSM
Chưa tốt
61 (49,6%)
62 (50,4%)
8
Các bà mẹ sống tại các xã điểm (xã có triển khai mô hình tăng cường
NCBSM) có thái độ chung về NCBSM tốt hơn các bà mẹ sống tại xã không triển
khai mô hình này, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR = 2,98; p= 0,001). Trình
độ học vấn, nghề nghiệp và kiến thức NCBSM cũng có mối liên quan đến thái độ
chung về NCBSM của các bà mẹ, sự khác biệt về tỉ lệ giữa các nhóm có thái độ
chung tốt có ý nghĩa thống kê (OR>1; p<0,05).
Bảng 4: Liên quan giữa thái độ với thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh (n=300)
Cho trẻ bú
sớm
Không cho
trẻ bú sớm
Đặc điểm
OR
p
Đồng ý
223 (79,9%)
4 (19,0%)
56 (20,1%)
17 (81,0%)
TĐ với việc
cho trẻ BSSS
16,924 0,001
Không đồng ý
Có sự khác biệt giữa bà mẹ có thái độ tốt về bú sớm sau sinh (BSSS) với
thực hành BSSS: các bà mẹ có thái độ tốt về BSSS cho trẻ BSSS cao gấp gần 17
lần các bà mẹ có thái độ không tốt (p<0,05).
Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa kinh tế gia đình, kiến thức
về BSSS với thực hành BSSS.
Bảng 5: Liên quan các yếu tố với thực hành NCBSM hoàn toàn (n=300)
Không
NCBSM
hoàn toàn
NCBSM
hoàn toàn
Đặc điểm
Từ THPT trở lên
OR
p
25 (61%)
16 (39%)
Trình độ
học vấn
6,373 0,001
Từ THCS trở
xuống
51 (19,7%)
208 (80,3%)
GĐ truyền thống
GĐ hạt nhân
Không nghèo
Nghèo
59 (31,1%)
17 (15,5%)
73 (28,1%)
3 (7,5%)
131 (68,9%)
93 (84,5%)
187 (71,9%)
37 (92,5%)
92 (59,7%)
132 (90,4%)
Qui mô
gia đình
2,464 0,003
4,815 0,005
6,354 0,001
Kinh tế
gia đình
Tốt
62 (40,3%)
14 (9,6%)
KT chung
NCBSM
hoàn toàn
Chưa tốt
9
Theo kết quả bảng 5, trình độ học vấn, qui mô gia đình, kinh tế gia đình và
kiến thức chung NCBSM hoàn toàn có liên quan đến thực hành NCBSM hoàn
toàn của các bà mẹ (OR>1; p<0,05).
5. Bàn luận
5.1. Kiến thức, thái độ, thực hành về NCBSM của bà mẹ
Các bà mẹ biết phải cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là
93,7%, kiến thức chung tốt của các bà mẹ về cho trẻ bú sớm sau sinh là 54,7%, tỉ
lệ này cao hơn nghiên cứu của Trương Hoàng Mối (51%) [2].
Các bà mẹ cũng hiểu đúng khái niệm NCBSM hoàn toàn là 83%, tỉ lệ này
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Phạm Thị Sơn năm 2010
là 63% [7], của Huỳnh Văn Nên năm 2011 là 70,5% [4]. Tỉ lệ bà mẹ hiểu đúng
thời gian bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 91,3%, kiến thức chung tốt (đạt từ
7-12 điểm) của các bà mẹ về NCBSM hoàn toàn là 51,3%.
Tỉ lệ bà mẹ đồng ý việc cho trẻ BSSS sẽ tốt cho sự phát triển của trẻ đạt là
80%, đồng ý NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu tốt cho sự phát triển của trẻ là
93%. Thái độ chung tốt (đồng ý cả 2 nội dung trên) là 76,7%, tỉ lệ này cao hơn so
với nghiên cứu của Trương Hoàng Mối (51%) [2].
Tỉ lệ các bà mẹ cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 75,7%,
cao hơn nghiên cứu của Huỳnh Văn Nên (74,5%) [4], Huỳnh Thảo Trường và
Huỳnh Trường Khải (25%) [9], Nguyễn Văn Kỳ và Nguyễn Thị Bài (67%) [1],
Phạm Thị Sơn năm 2012 (55,5%) [7].
Tỉ lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn là 25,3%. Tỉ lệ này trong nghiên cứu của
chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Văn Nên năm 2011 (27,50 [4],
nhưng cao hơn của Phạm Thị Sơn năm 2010 (7%) [7].
5.2. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về NCBSM
5.2.1. Các yếu tố liên quan đến kiến thức NCBSM của các bà mẹ
Nơi cư ngụ của mẹ có liên quan đến kiến thức NCBSM của bà mẹ. Tỉ lệ bà
mẹ ở xã điếm có kiến thức chung tốt về NCBSM là 69,1% cao hơn so với bà mẹ
ở nơi không phải là xã điểm là 43,7%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(OR=2,876; p<0,05).
Trình độ học vấn của mẹ có liên quan đến kiến thức chung NCBSM
của bà mẹ. Tỉ lệ bà mẹ trình độ học vấn từ THPT trở lên có kiến thức chung
tốt về NCBSM là 87,8% cao hơn so với bà mẹ trình độ học vấn từ THCS trở
10
xuống là 54,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR=6,026; P<0,05). Kết
quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thảo Trường và Huỳnh
Trường Khải [10].
5.2.2. Các yếu tố liên quan đến thái độ NCBSM của các bà mẹ
Nơi cư ngụ của mẹ có liên quan đến thái độ chung về NCBSM của bà mẹ.
Tỉ lệ bà mẹ ở xã điểm có thái độ chung tốt về NCBSM là 84,5% cao hơn so với
bà mẹ ở nơi không phải là xã điểm là 64,7%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(OR=2,981; p<0,05).
Trình độ học vấn của mẹ có liên quan đến thái độ chung NCBSM của bà
mẹ. Tỉ lệ bà mẹ trình độ học vấn từ THPT trở lên có thái độ chung tốt là 90,2%,
cao hơn so với bà mẹ trình độ học vấn từ THCS trở xuống là 74,5%, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (OR=3,163; p<0,05).
Kiến thức chung về NCBSM của bà mẹ có liên quan đến thái độ chung về
NCBSM của bà mẹ. Tỉ lệ bà mẹ ở nhóm kiến thức chung NCBSM tốt có thái độ
chung tốt là 95,5%, cao hơn nhiều so với bà mẹ ở nhóm kiến thức chung NCBSM
chưa tốt là 49,6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR=21,471; p<0,05).
5.2.3. Các yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM
Có mối liên quan giữa thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh của mẹ với thực
hành cho trẻ BSSS. Tỉ lệ bà mẹ đồng ý cho trẻ BSSS thực hành cho trẻ BSSS
là 79,9%, cao hơn so với bà mẹ không đồng ý cho trẻ BSSS là 19,0%, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR=16,924; p<0,05).
Trình độ học vấn của mẹ có liên quan đến thực hành NCBSM hoàn toàn.
Tỉ lệ bà mẹ có trình độ từ THPT trở lên thực hành NCBSM hoàn toàn là 61,0%,
cao hơn so với bà mẹ có trình độ từ THCS trở xuống là 19,7%, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (OR=6,373; P<0,05). Điều này cho thấy những bà mẹ có trình độ
học vấn cao hơn sẽ tiếp nhận thông tin, thay đổi nhận thức và hành vi về NCBSM
hoàn toàn tốt hơn các bà mẹ có trình độ học vấn thấp.
Quy mô gia đình có liên quan đến thực hành NCBSM hoàn toàn. Tỉ lệ
bà mẹ ở gia đình truyền thống NCBSM hoàn toàn là 31,1%, cao hơn so với
bà mẹ ở gia đình hạt nhân là 15,5%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(OR=2,464; p<0,05).
11
Kinh tế gia đình có mối liên quan đến thực hành NCBSM hoàn toàn. Tỉ lệ
bà mẹ ở gia đình không nghèo NCBSM hoàn toàn là 28,1%, cao hơn so với bà mẹ
ở gia đình nghèo là 7,5%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR=4,815; p<0,05).
Kiến thức chung về NCBSM hoàn toàn: có mối liên quan giữa kiến thức
chung về NCBSM hoàn toàn của mẹ và thực hành NCBSM hoàn toàn. Tỉ lệ bà
mẹ có kiến thức chung tốt thực hành NCBSMHT là 40,3%, cao hơn so với bà mẹ
có kiến thức chung chưa tốt là 9,6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(OR=6,354; p<0,05). Nghiên cứu của Trương Hoàng Mối cũng tương đồng với
nghiên cứu của chúng tôi [2].
6. Kết luận
Kiến thức chung tốt về NCBSM của các bà mẹ là 59%, thái độ chung tốt là
76,7%, tỉ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm sau sinh là 75,7%, tỉ lệ bà mẹ nuôi con bằng
sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 25,3%.
Nơi cư ngụ, trình độ học vấn của bà mẹ có liên quan đến kiến thức
NCBSM của các bà mẹ.
Nơi cư ngụ, trình độ học vấn, kiến thức NCBSM có liên quan đến thái độ
NCBSM của các bà mẹ.
Thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh có liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm
sau sinh của các bà mẹ.
Trình độ học vấn, qui mô gia đình, kinh tế gia đình và kiến thức chung về
NCBSM có liên quan đến NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ.
7. Khuyến nghị
Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về NCBSM đến
các đối tượng, đặc biệt cần lưu ý đối với đối tượng là gia đình nghèo, bà mẹ
có trình độ học vấn thấp.
Cần đa dạng hóa các hình thức truyền thông để giúp các bà mẹ thuận lợi
trong tiếp nhận thông tin về NCBSM. Duy trì công tác truyền thông của cán bộ y
tế và mạng lưới cộng tác viên ở xã. Tăng cường công tác truyền thông gián tiếp
như chuyên mục sức khỏe, tọa đàm trên đài truyền hình...
Tổ chức các lớp tập huấn về kiến thức, kỹ năng truyền thông cho nhân
viên y tế, đặc biệt là cán bộ chuyên trách dinh dưỡng tuyến cơ sở, lực lượng
cộng tác viên và tổ y tế để nâng cao hiệu quả tham vấn của bà mẹ về NCBSM.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Kỳ, Nguyễn Thị Bài và cộng sự (2008), Tình hình dinh dưỡng
trẻ em dưới 5 tuổi huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2006, tài liệu hội thảo
khoa học kỹ thuật khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lần III, tr. 16 - 20.
2. Trương Hoàng Mối, Võ Thị Kim Hoàn và Trương Thị Kim Hoàn (2012),
Khảo sát kiến thức và thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có
con rạ điều trị tại khoa nhi bệnh viện An Giang, Bệnh viện đa khoa trung
tâm An Giang.
3. Huỳnh Văn Nên (2010), Báo cáo kết quả mô hình tăng cường thực hành nuôi
con bằng sữa mẹ dựa vào cộng đồng năm 2010, Trung tâm Truyền thông giáo
dục sức khỏe An Giang.
4. Huỳnh Văn Nên (2012), Đánh giá kết quả mô hình tăng cường thực hành
nuôi con bằng sữa mẹ dựa vào cộng đồng năm 2011, Trung tâm Truyền thông
giáo dục sức khỏe An Giang.
5. Quỹ nhi đồng liên hợp quốc, Tổ chức y tế thế giới và Tổ chức khoa học và
văn hóa liên hợp quốc (2003), Những điều cần cho cuộc sống, tr. 39-59.
6. Quỹ nhi đồng liên hợp quốc và Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe
trung ương (2009), Giáo trình tuyền thông thay đổi hành vi về chăm sóc sức
khỏe bà mẹ trẻ em, tr. 27 – 32.
7. Phạm Thị Sơn (2010), Điều tra hộ gia đình về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ
sơ sinh và trẻ nhỏ tại 4 huyện dự án Bạn hữu trẻ em tỉnh An Giang năm 2010,
Sở Y tế An Giang, tr. 31-34, 54-62.
8. Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (1992), Bài giảng nhi khoa
tập I, thành phố Hồ Chí Minh, tr. 35-47.
9. Huỳnh Thảo Trường, Huỳnh Trường Khải (2008), Kiến thức, thái độ, thực
hành về chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ có con suy dinh dưỡng tại Trung tâm
Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh An Giang, tài liệu hội thảo khoa học kỹ thuật
khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lầm III, tr. 5 - 15.
10. Viện Dinh dưỡng (2009), Tài liệu hội nghị dinh dưỡng toàn quốc năm 2009,
tr. 45-47.
13
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ
CỦA NGƯỜI UỐNG RƯỢU, BIA Ở THỊ TRẤN CHỢ RÃ,
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN NĂM 2014
BSCK II. Tạc Văn Nam
Trung tâm Truyền thông GDSK Bắc Kạn
Tóm tắt nghiên cứu
Để có căn cứ xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng, chống tác hại của lạm
dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 tại tỉnh Bắc Kạn, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu: "Thực trạng sử dụng, kiến thức và thái độ của người uống rượu, bia tại thị
trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn". Bằng phương mô tả cắt ngang trên 400
đối tượng sử dụng rượu bia. Kết quả cho thấy có tới 25% số đối tượng lạm dụng
rượu bia. Tỷ lệ đối tượng có anh/em trai đang sử dụng rượu chiếm 37,8%, tiếp đó
là bố (35,8%). Lý do chủ yếu dẫn đến uống rượu bia nhiều nhất là khi gặp bạn
bè/người thân/khách chiếm 82%. Tỷ lệ đối tượng có thời gian sử dụng rượu bia từ
5 - 10 năm chiếm 29,25%; dưới 5 năm là 26,25%; 11- 20 năm là 25,25%, trên 20
năm là 19,0%. Thái độ đối với việc bỏ rượu bia, 60% đối tượng cho rằng có thể
bỏ được rượu bia. Trong khi đó 23,25% cho rằng không bỏ được. 100% các đối
tượng nghiên cứu đều cho rằng lạm dụng rượu bia (khi say rượu) có thể sẽ gây tai
nạn khi tham gia giao thông và ảnh hưởng đến sức khỏe; gây mất trật tự an ninh
là 57,3%; ảnh hưởng hạnh phúc gia đình chiếm 48,8%; Các đối tượng nghiên cứu
đều nêu được các loại bệnh tật có thể mắc khi lạm dụng rượu bia, lần lượt là:
Bệnh gan mật chiếm 80%; bệnh tim mạch 70%, nguy cơ tử vong 67,5%. Chỉ có
21,3% đối tượng muốn bỏ ngay; vẫn có 27,3% cho rằng không muốn bỏ; 22,2%
cho rằng sẽ bỏ nhưng không phải lúc này; lưỡng lự là 15,8%....
1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam nói chung, tỉnh Bắc Kạn nói riêng, quá trình đổi mới và phát
triển nền kinh tế trong những năm qua đã giúp cho đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao. Cùng với đó thì xu hướng sử dụng rượu, bia trong sinh hoạt hàng
ngày, trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công việc… đang ngày càng gia
tăng. Tình trạng sử dụng rượu, bia "tràn lan" ở một số nơi đã làm cho trật tự an
toàn xã hội, an toàn giao thông trở thành những vấn đề đáng báo động. Cũng từ
vấn đề này mà một số bệnh tật cũng có phần gia tăng do các yếu tố có liên quan
tới hành vi sử dụng nhiều rượu, bia của người dân.
Cho đến nay trên địa bàn toàn tỉnh chưa có một đề tài nghiên cứu về việc
sử dụng rượu, bia của người dân, cũng như đánh giá về hành vi của những người
14
thường xuyên sử dụng rượu. Bản thân những người thường xuyên sử dụng cũng
chưa biết mình đã uống rượu bia ở mức nào? Đã đến mức lạm dụng chưa? Tác
hại ra sao? Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Thực trạng sử
dụng và kiến thức, thái độ của người uống rượu, bia tại thị trấn Chợ Rã, huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn", nhằm khảo sát tình hình sử dụng và mức độ lạm dụng
rượu, bia của người dân nơi đây, đồng thời đánh giá về kiến thức và thái độ của
họ với hành vi này. Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở để các ngành, các cấp,
nhất là ngành y tế có cơ sở dữ liệu cụ thể để tham mưu cho UBND tỉnh về kế
hoạch phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020, bao gồm
rượu, bia và đồ uống có cồn khác, nhằm giảm tình trạng lạm dụng rượu bia và
giảm tác hại do việc sự dụng nhiều rượu bia gây ra đối với sức khỏe, tính mạng
cũng như trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
2. Mục tiêu nghiên cứu
1. Mô tả thực trạng sử dụng rượu, bia của người lớn đủ 16 tuổi trở lên đang
sinh sống tại thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
2. Mô tả kiến thức và thái độ của người lớn đủ 16 tuổi trở lên đang sinh sống
tại thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn về rượu, bia.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Người lớn đủ 16 tuổi trở lên đang sinh sống tại thị trấn Chợ Rã, huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Người đã từng sử dụng rượu hoặc hiện tại đang sử
dụng rượu bia thường xuyên, còn minh mẫn, có khả năng trả lời phỏng
vấn, tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Người không có khả năng tiếp xúc phỏng vấn hoặc từ
chối tham gia nghiên cứu.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Tại thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4-tháng 11/2014.
3.3. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang .
- Cỡ mẫu: Tính theo công thức:
pq
d 2
n Z12 / 2
.
15
Trong đó: Z: là chỉ số giới hạn của khoảng tin cậy 95% là 1,96; p = 0,5;
q = 1 – p = 0,5; d = sai số tối đa 5% = 0,05;
Thay vào các trị số ta có: n = 1,962.0,5.(1-0,5)/0,052 = 384. Với công thức
trên, cỡ mẫu được tính là 384, làm tròn là n=400.
3.4. Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS 18.0
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Tình hình sử dụng rượu bia của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Tình trạng sử dụng rượu bia của các đối tượng điều tra
Nam
Nữ
Chung
(n=400)
(n=326)
(n=74)
Sử dụng rượu bia
Tần
Tỷ lệ
Tần
số
Tỷ lệ Tần Tỷ lệ
số
315
95
(%)
(%)
95,9
6,8
số
(%)
96,5
25
Hiện tại còn uống rượu, bia
Lạm dụng rượu, bia.
96,7
29,1
71
5
386
100
96,5% đối tượng nghiên cứu hiện tại còn uống rượu bia. Tỷ lệ lạm dụng
rượu bia ở nam chiếm 29,1%, Nữ chiếm 6,8%. Tỷ lệ chung cho cả hai giới chiếm
25%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, Các thành viên khác trong gia đình cũng
uống rượu, bia, trong đó chủ yếu đàn ông trong gia đình (ông/bố/anh em trai)
(7,8%; 35,8%; 37,8%), phụ nữ có uống nhưng ít hơn nhiều (<10%).
Bảng 2: Lý do uống rượu bia của đối tượng
Số lượng
Lý do
Tỷ lệ (%)
(n = 386 )
Uống vì thích mùi vị của rượu bia
Uống vì cảm thấy thư giãn
45
48
11,3
12,0
12,8
82,0
7,3
Uống vì có chút rượu thấy tự tin hơn
Uống vì thói quen khi gặp bạn bè/người thân/khách
Uống vì cho là bổ/tăng cường sức khỏe
Uống vì có đồ ăn(đồ nhắm) ngon
51
328
29
83
20,8
9,5
Uống vì khi có rượu thấy ngủ ngon hơn
38
16
Lý do uống rượu bia nhiều nhất là vì thói quen khi gặp bạn bè/người
thân/khách (82%); tiếp đến là do có đồ ăn ngon (20,8%); chỉ 12,8% cho rằng thấy
tự tin hơn khi có chút rượu. Điều này cũng phù hợp với tần suất sử dụng rượu bia
hiện tại của các đối tượng cao nhất là khi gặp bạn bè (53,5%); Uống hằng ngày là
26%; tại các bữa tiệc là 20,5%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, thời điểm đối tượng uống nhiều rượu bia
nhất là những dịp đặc biệt đó là lễ tết (37%), bữa ăn tối (18,5%), uống cả ngày
(26%), bữa ăn trưa (6,4%). Vẫn còn 4,4% đối tượng trong khi làm việc, dừng làm
việc để uống rượu bia.
Bảng 3: Thời gian sử dụng rượu bia của đối tượng
Số lượng (n = 386 )
Tỷ lệ (%)
26,25
Số năm
< 5 năm
105
118
101
76
5 - 10 năm
11-20 năm
>20 năm
29,50
25,25
19,0
Thời gian sử dụng rượu bia của các đối tượng trong từ 5-10 năm chiếm cao
nhất 29,25%; dưới 5 năm là 26,25%; 11- 20 năm là 25,25%, và có tới 19,0%
người uống rượu trên 20 năm.
Bảng 4: Số lượng rượu, bia sử dụng hiện tại của đối tượng
Tần suất, số lượng rượu bia
Số lượng (n = 386 )
Tỷ lệ (%)
55,2
44,8
46,1
22,8
16,6
14,5
59,1
23,6
10,4
6,9
1 -2 lần/ ngày
213
173
178
88
Số lần uống trong
ngày
> 2 lần/ ngày
1-3 chén
Số chén rượu mỗi lần
uống (Chén tiêu chuẩn
30 ml)
4-6 chén
7 - 10 chén
>10 chén
≤ 1 cốc
64
56
228
91
Số cốc bia mỗi lần
uống (cốc 300ml)
2-3 cốc/lần
4-5 cốc/lần
>5 cốc/lần
40
27
Theo kết quả bảng 4, tỷ lệ đối tượng có số lần uống rượu bia nhiều hơn 2
lần/ngày chiếm 44,8%. Tỷ lệ đối tượng sử dụng 1-3 chén rượu/lần chiếm 46,1%.
17
Vẫn có tới 14,5% số đối tượng uống trên 10 chén rượu/lần. Tỷ lệ dùng ≤ 1 cốc
bia/lần chiếm 59,1%; 2-3 cốc/lần chiếm 23,6%; >5 cốc/lần chiếm 6,9%.
Bảng 5: Thực hành từ bỏ rượu, bia của đối tượng
Bỏ rượu, bia
Số lượng
240
93
Tỷ lệ (%)
Có thể bỏ được
60
23,25
16,75
48
Tự đánh giá
khả năng bỏ
rượu bia
Không thể bỏ được
Không biết/không chắc chắn
67
1 lần
184
34
Số lần thử bỏ
rượu không
thành công
(n=386)
2 - 3 lần
9
> 3 lần
22
6
Không nhớ
146
111
18
37
Do thói quen
29
Lý do không bỏ
được rượu bia
(n=386)
Không uống rượu thấy khó chịu
Khó từ chối khi có người mời
4,7
47
182
Uống vì giao tiếp trong công
việc/đối tác ngoại giao
67
17,3
Không biết lý do
8
2
60% số đối tượng hiện tại vẫn còn uống rượu bia cho rằng có thể bỏ được rượu
bia. Số cho rằng không thể bỏ được chiếm 23,25%; số đã thử bỏ 1 lần nhưng không
thành công chiếm 48%, trên 3 lần chiếm 6%. Lý do không bỏ được là do khó từ chối
khi có người khác mời chiếm cao nhất (47%), do thói quen chiếm 29%, do giao
tiếp/đối ngoại chiếm 17,3%, thấy khó chịu trong người nếu không uống chiếm 4,7%.
Bảng 6: Thu nhập của gia đình và chi tiêu cho rượu, bia
Ảnh hưởng của rượu bia
Số lượng
46
Tỷ lệ (%)
11,5
21
< 3triệu
3 - <4 triệu
Thu nhập bình
quân của gia đình
hàng tháng
84
4-5 triệu
90
22,5
45
(n = 400)
> 5 triệu
180
148
91
< 100,000đ
38,3
23,6
19,7
18,4
Chi tiêu cho bia
rượu/ tháng
100,000 - <200,000đ
200,000 - 300,000đ
> 300,000đ
(n=386)
76
71
18
Thu nhập bình quân trong tháng của các gia đình ở mức trên 5 triệu đồng
chiếm tỷ lệ cao nhất (45%). Mức dưới 3 triệu/tháng vẫn chiếm tới 11,5%. Trong
đó chi tiêu cho việc mua rượu, bia hàng tháng ở mức dưới 100.000 đ/tháng
chiếm 38,3%, từ 100.000- dưới 200.000 đ/tháng chiếm 23,6%, từ 200.000-
300.000đ/tháng chiếm 19,7%; Trên 300.000 đ/tháng chiếm 18,4%.
4.2. Đánh giá về kiến thức và thái độ của các đối tượng điều tra về rượu bia
Bảng 7: Tác hại chung của lạm dụng rượu, bia
Số lượng
Tác hại của rượu bia
Gây mất an ninh trật tự
Tỷ lệ (%)
(n = 400)
229
57,3
48,8
39,5
100
100
34,8
27
Ảnh hưởng hạnh phúc của gia đình
Thiếu văn minh
195
158
400
400
139
108
Gây tai nạn khi tham gia giao thông
Ảnh hưởng đến sức khoẻ (gây bệnh tật)
Ảnh hưởng đến kinh tế
Ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội.
Con cái hư hỏng
69
05
17,25
1,25
Không ảnh hưởng gì
Trong số 400 đối tượng nghiên cứu thì 100% đều cho rằng việc lạm dụng
rượu bia có thể sẽ gây tai nạn và ảnh hưởng đến sức khỏe (bệnh tật); gây mất
trật tự an ninh là 57,3%; ảnh hưởng hạnh phúc gia đình chiếm 48,8%. Ảnh
hưởng đến kinh tế gia đình và cộng đồng xã hội được đánh giá ở mức độ thấp
hơn (34,8% và 27%).
Bảng 8: Tác hại của rượu, bia đến sức khoẻ
Số lượng
Tác hại của rượu bia
Tỷ lệ (%)
(n = 400)
320
Bệnh Gan mật
80
70
Bệnh tim mạch
Bệnh tiêu hoá
280
227
56,8
27,8
51,5%
67,5
2
Bệnh thận/tiết niệu
Bệnh ung thư
111
206
Nguy cơ tử vong
Không tác hại gì
270
8
19
Các đối tượng nghiên cứu đều nêu được các loại bệnh tật có thể mắc khi
lam dụng rượu bia, lần lượt là: Bệnh gan mật chiếm 80%; bệnh tim mạch 70%;
nguy cơ tử vong 67,5%; bệnh đường tiêu hóa 56,8%; ung thư 51,5%, bệnh thận
tiết niệu 27,8%. Vẫn còn 2% cho rằng không tác hại gì.
Bảng 9: Thái độ của đối tượng về sử dụng rượu, bia
Số lượng
Thái độ
Tỷ lệ (%)
(n = 400)
Uống nhiều rượu bia không/ không chắc đã có hại
Nên uống rượu bia trong các cuộc hội họp, tiệc tùng
Uống cũng được/Không uống cũng không sao
Không thích khi có người khuyên bỏ rượu
104
26,0
51,0
26,8
35,5
204
107
142
Hơn một nửa đối tượng nghiên cứu cho rằng nên uống rượu bia trong các
cuộc hội họp, tiệc tùng, lễ tết (51%). 26% cho rằng uống không có hại và 26,8%
khẳng định uống cũng không sao. Đặc biệt có tới 35,5% đối tượng nghiên cứu
không thích có người khuyên bỏ rượu.
Bảng 10: Thái độ của những người thân và người trong gia đình
về hành vi uống rượu bia của đối tượng
Thái độ
Số lượng (n = 386)
Tỷ lệ (%)
31,8
Tức giận
123
188
66
Khuyên cai bỏ
Không quan tâm
Không biết phản ứng
48,7
17,1
9
2,4
Có tới 48,7% người thân trong gia đình khuyên cai rượu/bia (điều mà đối
tượng nghiện rượu không muốn), gần 32% có thái độ tức giận.
Bảng 11: Mong muốn từ bỏ rượu bia của đối tượng
Thái độ
Muốn bỏ ngay
Số lượng (n = 386)
Tỷ lệ (%)
82
105
86
21,3
27,2
22,2
15,8
8,3
Không muốn bỏ
Sẽ bỏ nhưng chưa phải lúc này
Lưỡng lự
61
Không quan tâm
32
Không biết, không trả lời
20
5,2
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kỷ yếu các Đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_ky_yeu_cac_de_tai_nghien_cuu_khoa_hoc_cua_he_truyen.pdf

