Tài liệu Acog Guideline: Hội chứng buồng trứng đa nang

Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) là  
một rối loạn đặc trưng bởi tình trạng cường  
androgen rối loạn rụng trứng và buồng trứng  
có nhiều nang. Nguyên nhân PCOS vẫn chưa  
rõ và điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng  
theo kinh nghiệm. PCOS có thể gây ra các rối  
loạn chuyển hoá như đái tháo đường, bệnh  
tim mạch và các bệnh lý khác, do đó cần chú ý  
đến các bệnh lý này khi quyết định điều trị  
PCOS lâu dài. Bài viết này nhằm kiểm tra các  
bằng chứng tốt nhất cho việc chẩn đoán và  
điều trị PCOS.  
ACOG Guideline  
HỘI CHỨNG BUỒNG  
TRỨNG ĐA NANG  
TÓM TẮT CÁC KHUYẾN CÁO  
VÀ KẾT LUẬN  
Những khuyến cáo và kết luận sau dựa  
trên bằng chứng khoa học thống nhất  
và đáng tin cậy (Mức độ A):  
Tăng cường tập thể dục kết hợp với thay  
đổi chế độ ăn cho thấy giảm nguy cơ đái tháo  
đường tương đương hoặc tốt hơn so với  
dùng thuốc.  
Tác dụng tăng nhạy cảm insulin sẽ làm  
giảm nồng độ androgen tuần hoàn, tăng tỷ lệ  
phóng noãn và tăng dung nạp glucose.  
Biên dịch:  
[1]  
Bsnt. Lê Hữu Thắng ,  
[1]  
Sv.Nguyễn Thị Mỹ Thơm .  
[1]  
Sv. Tôn Thị Thanh Tâm ,  
Lựa chọn điều trị đầu tay kích thích phóng  
noãn được khuyến cáo là kháng estrogen  
clomiphene citrate.  
[1]  
Sv. Phan Kiều Linh ,  
[1]  
Sv. Võ Thị Lệ  
Hiệu Đính:  
Ths.Bs Nguyễn Hoàng Long[2]  
Kết hợp eflornithine với liệu pháp laser  
hiệu quả hơn so với liệu pháp laser đơn  
thuần trong điều trị chứng rậm lông.  
Những khuyến cáo và kết luận dưới  
đây dựa trên bằng chứng khoa học hạn  
chế và chưa thống nhất (Mức độ B):  
[1] Câu lạc bộ Sản Phụ khoa – Đại học Y Dược Huế.  
[2] Bộ môn Phụ Sản – Đại Học Y Dược Huế  
TỔNG QUAN  
Những phụ nữ được chẩn đoán PCOS nên  
được sàng lọc đái tháo đường type 2, giảm  
dung nạp glucose lúc đói bằng glucose sau 2  
giờ làm nghiệm pháp dung nạp 75g glucose.  
Phụ nữ PCOS nên được sàng lọc nguy cơ  
tim mạch bằng cách xác định BMI, nồng độ  
lipid và lipoprotein lúc đói, và các yếu tố  
nguy cơ hội chứng chuyển hóa.  
Tỷ lệ mới mắc, định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn  
đoán  
Chưa có định nghĩa PCOS nào được chấp nhận  
rộng rãi và trong những năm gần đây tiêu  
chuẩn chẩn đoán ngày càng nhiều (bảng 1).  
Tiêu chuẩn Rotterdam đã thay thế cho tiêu  
chuẩn của Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ  
(NIH) (1), đưa siêu âm buồng trứng vào phác  
đồ chẩn đoán (2). Các tiêu chuẩn siêu âm  
trong chẩn đoán buồng trứng đa nang được  
quyết định bởi hội đồng thuận các chuyên gia  
(hộp 1) (3). Các tiêu chuẩn này bị chỉ trích do  
đưa vào các dấu hiệu nhẹ làm tăng tỷ lệ hiện  
mắc PCOS và có thể làm việc điều trị trở nên  
phức tạp hơn. Theo tiêu chuẩn của AES, cường  
adrogen là yếu tố cần thiết để chẩn đoán kết  
hợp với các triệu chứng khác.  
Giảm cân làm tăng tỉ lệ mang thai,  
giảm tình trạng rậm lông, cũng như tăng  
dung nạp glucose và cải thiện nồng độ lipid.  
Dùng clomiphene với metformin có thể  
tăng tỉ lệ mang thai, đặc biệt ở những phụ  
nữ béo phì PCOS.  
Nếu dùng clomiphene citrate thất bại kết  
quả thai kì, khuyến cáo điều trị lựa chọn thứ  
2 là gonadotropins ngoại sinh hoặc phẫu  
thuật buồng trứng nội soi.  
Những khuyến cáo và kết luận dưới đây  
dựa trên đồng thuận và ý kiến của chuyên  
gia (Mức độ C):  
Chẩn đoán cường androgen dựa vào lâm sàng  
(ví dụ: rậm lông, mụn trứng cá) hoặc đo nồng  
độ hormone huyết thanh. Khi tiếp cận chẩn  
đoán PCOS, khuyến cáo nên loại trừ các  
nguyên nhân thứ phát gây cường androgen  
(như tăng sản thượng thận bẩm sinh khởi  
phát ở người trưởng thành, tăng prolactin  
máu và u chế tiết androgen). Các phác đồ chẩn  
đoán đều cần nhiều hơn một dấu hiệu hoặc  
triệu chứng (bảng 1, hộp 3). Ví dụ buồng  
trứng có nhiều nang đơn thuần là dấu hiệu  
không đặc hiệu và thường gặp ở phụ nữ  
không có rối loạn về chuyển hóa và nội tiết.  
Thuốc tránh thai nội tiết kết hợp liều  
thấp được sử dụng nhiều nhất để điều trị lâu  
dài được khuyến cáo như là phương pháp  
chính điều trị các rối loạn kinh nguyệt.  
Phụ nữ nhóm nguy cơ cao tăng sản tuyến  
thượng thận bẩm sinh không cổ điển và nghi  
ngờ chẩn đoán PCOS nên được sàng lọc  
đánh giá giá trị 17 - hydroxyprogesterone.  
Gonadotropins được khuyến cáo dùng  
liều thấp ở phụ nữ PCOS.  
Không có điều trị chính nào rõ ràng cho  
chứng rậm lông trong PCOS.  
Bảng 1: Các khuyến cáo chẩn đoán PCOS.  
Tiêu chuẩn Viện sức  
Tiêu chuẩn của hội  
đồng thuận  
Rotterdam 2003 (2  
trong 3 dấu hiệu)  
Tiêu chuẩn của Androgen Excess  
Society 2006 (cường androgen + 1  
trong 2 dấu hiệu còn lại)  
khỏe quốc gia Hoa Kỳ  
1990(cả 3 dấu hiệu)  
Dấu hiệu và triệu chứng  
- Cường androgen  
R
R
NR  
NR  
R
- Kinh thưa hoặc vô kinh  
NR  
- Siêu âm: buồng trứng có  
nhiều nang  
NR  
NR  
R: dấu hiệu hoặc triệu chứng bắt buộc.  
NR: có thể là dấu hiệu hoặc triệu chứng để chẩn đoán  
nhưng không bắt buộc  
được cho là gây PCOS. Tình trạng kháng  
insulin có thể là nguyên nhân chính gây  
PCOS(5). Béo phì phối hợp có thể làm nặng  
thêm PCOS, tuy nhiên béo phì không phải là  
một tiêu chuẩn chẩn đoán PCOS và có khoảng  
20% phụ nữ PCOS không béo phì. Béo phì  
phổ biến ở Mỹ hơn các nước khác, do đó biểu  
hiện PCOS có thể khác.  
Tình trạng kháng Insulin được ghi nhận ở  
nhiều phụ nữ PCOS, đặc biệt khi có cường  
androgen, nhưng không được đưa vào trong  
tiêu chuẩn chẩn đoán (5).  
Tỷ lệ mắc mới PCOS thay đổi tuỳ theo tiêu  
chuẩn chẩn đoán. Khoảng 7% phụ nữ ở độ  
tuổi sinh đẻ có tình trạng không phóng  
noãn mạn tính do cường androgen (tiêu  
chuẩn NIH), tỉ lệ hiện mắc chứng rậm lông  
hoặc tăng androgen máu không có khác biệt  
đáng kể giữa phụ nữ da trắng và da đen (6).  
Tiêu chuẩn Rotterdam mở rộng đã làm tăng  
tỷ lệ hiện mắc PCOS ở phụ nữ không rụng  
trứng có gonadotropin bình thường đến  
91% trong khi tiêu chuẩn NIH chỉ 55%, còn  
tiêu chuẩn AES nằm giữa 2 giá trị này (4).  
Tăng insulin bù có thể làm giảm nồng độ  
SHBG (sex hormone binding globulin), do đó  
làm tăng sinh khả sụng của androgen máu và  
đóng vai trò là yếu tố kích thích sản sản xuất  
androgen ở tuyến thượng thận, buồng trứng.  
Insulin cũng có thể tác động trực tiếp lên  
vùng dưới đồi gây kích thích sự thèm ăn bất  
thường và tiết gonadotropin. Mặc dù cường  
androgen là triệu chứng chính của hội chứng,  
nhưng PCOS có thể do nhiều nguyên nhân  
khác mà không liên quan đến sự đề kháng  
insulin.  
Nguyên nhân  
Yếu tố di truyền góp phần gây ra PCOS vẫn  
chưa rõ và hiện nay không khuyến cáo sàng  
lọc di truyền. Chưa có tác nhân đặc hiệu nào  
Biểu hiện lâm sàng  
Phụ nữ PCOS thường có biểu hiện rối loạn  
Hộp 1: Đánh giá được đề nghị cho bệnh nhân PCOS.  
kinh nguyệt (từ vô kinh đến rong kinh) và vô  
sinh. Cần chú ý đến nguy cơ của điều trị gây  
rụng trứng ở phụ nữ PCOS do tăng nguy cơ  
quá kích buồng trứng và đa thai. Ngoài ra, ở  
phụ nữ PCOS nguy cơ xảy ra các biến chứng  
như đái tháo đường và rối loạn tăng huyết áp  
trong thai kì cũng tăng lên (8), đặc biệt là  
trong trường hợp đa thai do điều trị vô sinh.  
Thực thể:  
• Huyết áp  
• BMI(kg/m2) 25-30 = thừa cân, >30 = béo phì  
• Chu vi vòng bụng để xác định độ phân bố mỡ trên cơthể  
- Giá trị > 35inch (89cm): bất thường  
• Các dấu hiệu cường androgen và kháng insulin  
- Nổi mụn, rậm lông, rụng tóc androgen di truyền, dấu hiệu gai  
đen  
Xét nghiệm:  
• Xét nghiệm tăng androgen.  
- Nồng độ testosterone toàn phần và SHBG hoặc nồng độ  
testosteron sinh khả dụng và testosterone tự do  
• Loại trừ các nguyên nhân gây cường androgen khác  
- Nồng độ TSH (rối loạn chức năng tuyến giáp)  
Các bất thường biểu hiện ở da do tình trạng dư  
thừa androgen ở ngoại vi như là rậm lông,  
mụn trứng cá và chứng rụng tóc androgen di  
truyền liên quan với mức androgen tăng ít  
hơn, phổ biến ở phụ nữ PCOS (9). Phụ nữ  
PCOS có nguy cơ cao đề kháng insulin và mắc  
các bệnh lý liên quan với tình trạng đó, như  
hội chứng chuyển hóa (xem hộp 2) (10), bệnh  
gan nhiễm mỡ không do rượu (11) và các  
chứng rối loạn liên quan đến béo phì như  
ngưng thở khi ngủ (12). Những bệnh lý này là  
yếu tố nguy cơ dẫn đến các rối loạn chuyển  
hóa như đái tháo đường type 2 và bệnh tim  
mạch. Phụ nữ PCOS cũng có nhiều yếu tố nguy  
cơ gây ung thư nội mạc tử cung, bao gồm tình  
trạng không phóng noãn mạn tính, béo phì  
trung tâm và đái tháo đường tuy nhiên mức độ  
liên quan của các yếu tố này đến PCOS chưa  
được rõ (13). Trong những năm gần đây, đã  
ghi nhận có sự gia tăng các rối loạn cảm xúc và  
trầm cảm ở phụ nữ PCOS (14).  
- Prolactin (tăng prolactin máu)  
- 17-hydroxyprogesterone (tăng sản tuyến thượng thận bẩm  
sinh không điển hình do thiếu men 21 hydroxylase) Nồng độ bất  
kỳ <4ng/ml hoặc nồng độ buổi sáng <2ng/ml là bình thường.  
- Cân nhắc sàng lọc hội chứng Cushing và các rối loạn hiếm gặp  
khác như bệnh to đầu chi.  
• Đánh giá các bất thường chuyển hóa  
- Thử nghiệm dung nạp glucose uống trong 2h : đo đường máu  
lúc đói (glucose đói dưới 110 mg/dL = bình thường, 110–125  
mg/dL = kém dung nạp, lớn hơn 126 mg/dL = đái tháo đường  
type 2), sau đó cho uống 75g glucose và đo lại đường máu sau  
2h (dưới 140 mg/dL = dung nạp glucose bình thường, 140–199  
mg/dL = kém dung nạp glucose, lớn hơn 200 mg/dL = đái tháo  
đường type 2).  
Nồng độ lipid và lipoprotein tự do (tổng cholesterol,  
lipoproteins trọng lượng phân tử cao dưới 50 mg/dL = bất  
thường, triglyceride lớn hơn 150 mg/dL = bất thường,  
lipoproteins trọng lượng phân tử thấp thường  
được tính bằng phương trình Friedewald]).  
Kiểm tra siêu âm  
• Xác định buồng trứng đa nang: ở một hoặc cả hai buồng trứng,  
nếu có >= 12 nang có đường kính 2–9 mm, hoặc tăng thể tích  
buồng trứng (lớn hơn 10 cm3). Nếu có một nang có đường kính  
lớn hơn 10 mm, nên thực hiện lại siêu âm khi buồng trứng ở  
nửa sau chu kì để tính thể tích và diện tích. Sự hiện diện của một  
buồng trứng có nhiều nang là đủ để chẩn đoán.  
• Xác định bất thường về nội mạc tử cung  
Các xét nghiệm không bắt buộc được cân nhắc  
• Định lượng Gonadotropin để xác định nguyên nhân của chứng  
vô kinh  
• Nồng độ insulin máu đói ở phụ nữ trẻ có biểu hiện đề kháng  
insulin nặng và cường androgen hoặc đã được điều trị gây rụng  
trứng.  
42  
• Test bài tiết cortisol tự do trong nước tiểu 24 giờ hoặc test  
ức chế  
bằng dexamethasone liều thấp ở những phụ nữ PCOS có triệu  
chứng khởi phát muộn hay có các biểu hiện của hội chứng  
Cushing.  
Chẩn đoán phân biệt  
PCOS được chẩn đoán phân biệt với các  
nguyên nhân gây tăng androgen khác (xem  
hộp 3). Thăm khám thực thể và hỏi bệnh sử  
là yếu tố cần thiết để chẩn đoán nguyên  
nhân, được mô tả trong Hộp 1. Khi hỏi bệnh  
sử cần tập trung vào thời điểm khởi phát và  
diễn tiến các triệu chứng tăng androgen, tiền  
sử kinh nguyệt, tiền sử dùng thuốc bao gồm  
cả các thuốc androgen ngoại sinh. Tiền sử gia  
đình mắc đái tháo đường và bệnh lý tim  
mạch cũng quan trọng (đặc biệt họ hàng đời  
thứ nhất mắc bệnh lý tim mạch khởi phát  
sớm [nam dưới 55 tuổi và nữ dưới 65 tuổi).  
Hình 1. Chứng rậm lông và mụn trứng cá ở phụ nữ mắc  
hội chứng buồng trứng đa nang  
Khám thực thể cần đánh giá hói đầu, mụn  
trứng cá, âm vật phì đại, phân bố lông trên cơ  
thể, thăm khám vùng chậu phát hiện sự tăng  
kích thước buồng trứng. Cần lưu ý sự hiện  
diện, mức độ trầm trọng của mụn trứng  
cá,các dấu hiệu kháng insulin như cao huyết  
áp, béo phì, phân bố mỡ trung tâm và dấu gai  
đen. Dấu gai đen là tình trạng da dày, mượt  
như nhung, có mụn hạt cơm, tăng sắc tố da  
và thường thấy ở phía sau của cổ, hố nách,  
bên dưới vú, thậm chí ở cả âm hộ. Dấu gai  
đen thường là biểu hiện của đề kháng insulin  
hoặc phản ứng thuốc hơn là một bệnh lý  
riêng biệt. Các nguyên nhân bệnh lý hiếm gặp  
liên quan tới dấu gai đen nên được xem xét,  
như u tiết insulin và bệnh ác tính, đặc biệt  
ung thư biểu mô tuyến ở dạ dày. Phì đại âm  
vật ít khi liên quan với PCOS do đó nên tìm  
các nguyên nhân khác khi có triệu chứng này.  
Hộp 2: Hội chứng chuyển hóa  
Hội chứng chuyển hóa  
Ở phụ nữ, hội chứng chuyển hóa thường được chẩn  
đoán dựa trên tiêu chuẩn Adult Treatment Panel III đã  
cập nhật, bao gồm:  
• Huyết áp ≥ 130/85 mmHg,  
• Chu vi vòng bụng ≥ 89 cm,  
• Mức glucose máu đói ≥100mg/dl,  
• Nồng độ lipoprotein trọng lượng phân tử thấp ≤ 50mg/dl  
• Nồng độ glycerid ≥150md/dl.  
Hộp 3: Các yếu tố cần xem xét để chẩn đoán phân biệt  
Các yếu tố cần xem xét để chẩn đoán phân biệt  
• Khối u tiết Androgen.  
• Androgen ngoại sinh  
• Hội chứng Cushing  
• Tăng sản thượng thận bẩm sinh không điển hình  
• Bệnh to đầu chi  
• Khiếm khuyết di truyền về hoạt động insulin.  
• Vô kinh nguyên phát nguyên nhân do vùng dưới đồi  
• Suy buồng trứng nguyên phát  
• Bệnh tuyến giáp  
• Các bệnh lí liên quan với Prolactin  
41  
thấp (16).  
Trong các trường hợp thừa androgen không  
giải thích được, thì vẫn chưa có một phương  
pháp định lượng nồng độ androgen trong  
máu nào là chắc chắn để xác định.  
Các khuyến cáo hiện tại của AES là đo nồng  
độ testosterone tự do trực tiếp bằng phương  
pháp thẩm tách trạng thái cân bằng, hoặc  
tính toán dựa trên giá trị testosterone toàn  
phần được đo chính xác (bằng phản ứng  
miễn dịch phóng xạ sử dụng sắc kí cột, hoặc  
bằng phương pháp khối phổ) và giá trị SHBG  
(VD, đánh giá bằng phương pháp gắn cạnh  
tranh hoặc một xét nghiệm miễn dịch có chất  
lượng cao).  
Hình 2. Dấu gai đen  
Hội chứng Cushing rất hiếm gặp  
(1/1,000,000) và không có test sàng lọc nào  
có độ nhạy hoặc đặc hiệu đạt 100% (15) nên  
không chỉ định sàng lọc thường quy hội  
chứng Cushing ở những phụ nữ không rụng  
trứng mạn tính do cường androgen. Sàng lọc  
hội chứng Cushing ở những người có các dấu  
hiệu bao gồm khuôn mặt như mặt trăng, gù  
trâu, rạn da bụng, phân bố mỡ trung tâm,  
hoặc tăng huyết áp (xem Hộp 1). Bệnh cơ gốc  
chi và dấu dễ bầm tím tuy không phải là dấu  
hiệu điển hình ở phụ nữ PCOS nhưng cũng có  
thể giúp xác nhận bệnh nhân có Hội chứng  
Cushing.  
Ở phụ nữ, cả tuyến thượng thận và buồng  
trứng đều sản xuất androgen. Tuyến thượng  
thận chủ yếu tiết ra các androgen hoạt tính  
yếu như dehyroepiandrosterone (DHEA)  
hoặc DHEAS (gần 90% có nguồn gốc thượng  
thận). Trong những hormone này,  
androstenedione có thể đóng vai trò như tiền  
hormone của các androgen hoạt tính cao  
khác chẳng hạn như testosterone hoặc  
dihydrotestosterone. Buồng trứng là nguồn  
sản xuất testosteron chính, ước tính khoảng  
75% testosterone trong máu có nguồn gốc từ  
buồng trứng (chủ yếu thông qua sự chuyển  
hóa các tiền hormone ở ngoại vi bởi gan, mỡ,  
da, ngoài ra còn qua sự bài tiết trực tiếp).  
Androstenedione có nguồn gốc phần lớn từ  
buồng trứng, là androgen duy nhất có nồng  
Các khối u tiết androgen của buồng trứng  
hoặc tuyến thượng thận làm tăng mức  
androgen trong máu. Tuy nhiên, không có  
một nồng độ chính xác nào đặc trưng cho  
khối u, cũng như không có một nồng độ  
androgen thấp nhất nào có thể loại trừ.  
Trước đây, khi nồng độ testosterone trên 2  
ng/mL và nồng độ dehydroepiandro-  
sterone sulfate (DHEAS) lớn hơn 700 micro-  
grams/dL thì có thể nghi ngờ có khối u  
buồng trứng và thượng thận, tuy nhiên độ  
nhạy và độ đặc hiệu của các xét nghiệm này  
chẩn đoán nghi ngờ PCOS nên được sàng lọc  
bằng xét nghiệm định lượng 17-  
hydroxyprogesterone.  
độ ở phụ nữ mãn kinh cao hơn nam giới,  
nhưng hoạt tính chỉ bằng 10% testosterone.  
Dihydrotestosteron là androgen mạnh nhất,  
chủ yếu sản xuất nội bào từ testosterone qua  
enzym 5α-reductase, lưu thông trong tuần  
hoàn với lượng không đáng kể.  
Để sàng lọc tăng sản thượng thận bẩm sinh  
không điển hình do đột biến CYP21, mẫu xét  
nghiệm nồng độ 17 -hydroxyprogesterone nên  
được lấy vào buổi sáng. Giá trị <2 ng/mL là  
bình thường. Nếu lấy mẫu vào buổi sáng và  
trong pha nang noãn, một số nhà nghiên cứu  
đề nghị lấy giá trị chẩn đoán từ 4 ng/mL (20).  
Nếu lấy mẫu ở pha hoàng thể, độ đặc hiệu  
giảm xuống. Giá trị 17-hydroxy-progesterone  
cao gợi ý nên làm test kích thích ACTH.  
Phụ nữ PCOS thường có tăng nhẹ prolactin  
(18). Nồng độ prolactin có thể giúp xác định  
u prolactin – u tiết lượng lớn prolactin gây  
kích thích sự sản xuất androgen của buồng  
trứng, nhưng đây là nguyên nhân rất hiếm  
gặp của cường androgen không phóng noãn  
mãn tính. Đánh giá nồng độ hormone TSH  
giúp ích ở các trường hợp PCOS có lâm sàng  
thay đổi và phát hiện tần số mắc bệnh lý  
tuyến giáp ở phụ nữ rối loạn kinh nguyệt.  
Ở những phụ nữ béo phì PCOS, việc giảm  
cân có cải thiện chức năng buồng trứng  
hay không?  
KHUYẾN CÁO LÂM SÀNG  
Béo phì góp phần đáng kể vào các bất thường  
về sinh sản và chuyển hoá ở phụ nữ PCOS.  
Nhiều nghiên cứu cho thấy giảm cân có thể cải  
thiện một phần hội chứng nội tiết của PCOS  
bằng cách giảm mức androgen trong máu và  
làm hành kinh trở lại và làm cải thiện tỷ lệ  
mang thai, giảm rậm lông và cải thiện nồng độ  
glucose và lipid (21-24).  
Cần sàng lọc bệnh lý tăng sản thượng thận  
bẩm sinh cho ai và sàng lọc như thế nào?  
Tăng sản thượng thận bẩm sinh không điển  
hình được xem là tăng sản thượng thận bẩm  
sinh khởi phát muộn ở phụ nữ trưởng thành  
có thể biểu hiện không rụng trứng và rậm  
lông và gần như hoàn toàn do đột biến gen  
tổng hợp enzym 21hydroxylase (CYP21). Ở  
Châu Âu và Hoa Kì, tỷ lệ tăng sản thượng  
thận bẩm sinh cao nhất ở Ashkenazi Jews,  
sau đó tới Hispanics, Yugoslavs, Native  
American Inuits ở Alaska và Italia(19).  
Những phụ nữ có nguy cơ cao bị tăng sản  
thượng thận bẩm sinh không điển hình và có  
Các nghiên cứu sử dụng thuốc giảm cân như  
thuốc Orlistatt (ức chế hấp thu lipid ở đường  
tiêu hóa) và Sibutramine (thuốc gây chán ăn)  
đã cho thấy hiệu quả cải thiện chức năng  
buồng trứng tương tự nhau (25, 26). Những  
phụ nữ PCOS béo phì mức độ nặng được phẫu  
thuật nối tắt dạ dày thì các rối loạn sinh sản và  
chuyển hóa của họ trở về gần như bình  
thường (27). Hiệu quả được ghi nhận khi cân  
nặng giảm 5% so với ban đầu (28). Sau giảm  
cân, mức testosterone tự do giảm phần lớn  
gián tiếp thông qua tăng SHBG (28). Ảnh  
hưởng của việc giảm cân ở phụ nữ PCOS cân  
nặng bình thường vẫn chưa rõ.  
cơ thể  
(BMI), tỷ lệ vòng eo/hông cao, tiền sử gia đình  
đái tháo đường.  
Xét nghiệm sàng lọc tình trạng đề kháng  
insulin không được khuyến cáo. Thay vào đó  
cần chú ý phát hiện hội chứng chuyển hóa -  
một biểu hiện lâm sàng đề kháng insulin -  
làm tăng nguy cơ đái tháo đường và bệnh lí  
tim mạch (Hộp 2). Hội chứng chuyển hóa  
phổ biến ở những phụ nữ PCOS, 33% phụ nữ  
tham gia vào các thử nghiệm đa trung tâm  
lớn có hội chứng này (10).  
PCOS có làm tăng nguy cơ tiến triển thành  
đái tháo đường type 2 hay không, những  
ai nên được sàng lọc?  
Những phụ nữ được chẩn đoán PCOS nên  
được sàng lọc đái tháo đường type 2 và rối  
loạn dung nạp glucose bằng xét nghiệm đo  
glucose máu đói và glucose sau 2 giờ làm  
nghiệm pháp dung nạp 75g glucose (29).  
Theo các nghiên cứu hồi cứu ở những phụ  
nữ PCOS, nguy cơ đái tháo đường tăng gấp 2  
- 5 lần so với nhóm chứng (30, 31). Một  
nghiên cứu đoàn hệ tương lai,11.9% phụ nữ  
PCOS lớn hơn 30 tuổi được chẩn đoán đái  
tháo đường type 2 so với nhóm chứng là  
1.4% (32). Các nghiên cứu đoàn hệ khác cho  
thấy khoảng 40% phụ nữ PCOS ở Hoa Kì  
không dung nạp glucose khi áp dụng các tiêu  
chuẩn ít chặt chẽ hơn của Tổ Chức Y Tế Thế  
Giới (mức glucose sau 2 giờ ≥140 mg/dL)  
(33, 34), mặc dù quần thể nhỏ hơn ở Châu  
Âu thì tỷ lệ này thấp hơn (35). Trong những  
nghiên cứu đoàn hệ về PCOS này có khoảng  
từ 3-10% trường hợp không được chẩn đoán  
đái tháo đường. Ở những phụ nữ PCOS, các  
yếu tố nguy cơ không dung nạp glucose  
giống nhau ở các quần thể là tuổi, chỉ số khối  
Mức glucose đói dự báo kém khả năng không  
dung nạp glucose ở những phụ nữ PCOS do  
đó một số tổ chức đề nghị bổ sung test dung  
nạp glucose bằng đường uống để sàng lọc hội  
chứng chuyển hóa. Phát hiện này có ý nghĩa  
quan trọng, Theo Chương Trình dự phòng  
Đái tháo đường và các thử nghiệm ngăn  
ngừa đái tháo đường khác, sử dụng test dung  
nạp glucose bằng đường uống cùng với thay  
đổi lối sống và sử dụng thuốc điều trị đái  
tháo đường như metformin đã giúp giảm  
đáng kể khả năng tiến triển thành đái tháo  
đường ở những phụ nữ có giảm dung nạp  
Glucose (36).  
Xét nghiệm thường quy nồng độ insulin ở  
những phụ nữ PCOS ít có giá trị. Đánh giá  
nồng độ insulin không giúp xác định phụ nữ  
nào sẽ đáp ứng với điều trị.  
Liệu PCOS có ảnh hưởng lâu dài lên phát  
triển của bệnh lí tim mạch và những ai cần  
được theo dõi?  
khác khi kinh thưa  
(40) hoặc có nhiều triệu chứng của PCOS ở  
nhóm phụ nữ mãn kinh (41, 42). Nhiều  
nghiên cứu ở nhóm phụ nữ PCOS tiền mãn  
kinh phát hiện tỷ lệ xơ vữa động mạch dưới  
lâm sàng tăng so với nhóm chứng (ít hơn 10%  
tăng chiều dày nội mạc động mạch cảnh và  
lên tới 40% có vôi hóa động mạch vành ở phụ  
nữ PCOS)(43-45).  
Những phụ nữ PCOS nên được sàng lọc nguy  
cơ tim mạch bằng cách xác định BMI, mức  
lipid tự do và lipoprotein, các yếu tố nguy cơ  
của hội chứng chuyển hóa (xem bảng 2 và  
bảng 3). Những phụ nữ PCOS nên được sàng  
lọc định kì các yếu tố nguy cơ bệnh lí tim  
mạch bởi vì sự chuyển đổi thành giảm dung  
nạp glucose xấp xỉ 20% mỗi năm (37)mặc dù  
mức lipoprotein trọng lượng phân tử thấp  
(LDL) có xu hướng duy trì và ít thay đổi(38).  
Tập luyện thường xuyên và kiểm soát cân  
nặng được chứng minh làm giảm tỷ lệ mắc  
bệnh tim mạch và tử vong. Những phương  
pháp này nên được xem xét trước khi sử  
dụng thuốc. Rối loạn lipid máu là bất thường  
về chuyển hóa phổ biến ở những phụ nữ  
PCOS (39). Theo hướng dẫn của Chương  
trình giáo dục cholesterol quốc gia, khoảng  
70% phụ nữ PCOS có mức lipid cao hoặc  
quanh ngưỡng. Mức lipoprotein trọng lượng  
phân tử thấp tăng lên không tương xứng ở  
những phụ nữ PCOS (38, 39). Nghi ngờ cao  
có sự gia tăng nguy cơ và khởi phát sớm  
bệnh lý tim mạch ở các phụ nữ PCOS tuy  
nhiên điều này chưa được y văn ghi nhận rõ.  
Không có nghiên cứu theo thời gian nào đề  
cập tới sự gia tăng các biến cố tim mạch ở  
phụ nữ PCOS. Tuy nhiên một số nghiên cứu  
đoàn hệ bao gồm Nghiên cứu sức khỏe điều  
dưỡng (Nurse’s Health Study) đề cập tới tăng  
nguy cơ bệnh lí tim mạch hoặc các nguy cơ  
Ở phụ nữ PCOS không có nhu cầu mang  
thai, liệu pháp điều trị duy trì nào là tốt  
nhất để điều trị các rối loạn kinh nguyệt?  
Thuốc tránh thai nội tiết kết hợp  
Có một vài ý kiến trong điều trị rối loạn kinh  
nguyệt liên quan PCOS, thuốc tránh thai nội  
tiết kết hợp liều thấp được sử dụng thường  
xuyên nhất để điều trị lâu dài và được khuyến  
cáo là phương pháp điều trị chủ yếu các rối  
loạn kinh nguyệt. Mặc dù có nhiều thử  
nghiệm thiết kế tốt ở những phụ nữ PCOS,  
nhưng hiệu quả của các thuốc tránh thai dạng  
kết hợp thông qua nhiều cơ chế bao gồm giảm  
bài tiết hormone LH của tuyến yên, giảm bài  
tiết androgen của buồng trứng và tăng SHBG  
trong máu (46). Dạng đơn thuần có nhiều liều  
lượng khác nhau và có sự kết hợp thuốc do đó  
tỷ lệ nguy cơ– lợi ích thay đổi. Các loại  
progestin khác nhau ảnh hưởng khác nhau  
lên mức SHBG trong máu, hiệu quả lâm sàng  
thì không chắc chắn. Không có bằng chứng tin  
cậy xác định thuốc tránh thai nội tiết dạng kết  
hợp nào có hiệu quả nhất để điều trị các rối  
loạn kinh nguyệt ở những phụ nữ PCOS.  
Trong mỗi nhóm thuốc tỷ lệ giữa nguy cơ và  
hiệu quả có sự khác biệt đáng kể. Những ảnh  
hưởng này làm việc sử dụng các thuốc  
thiazolidinedione để điều trị PCOS ít được ưa  
chuộng. Các thuốc làm tăng nhạy cảm insulin  
cũng làm giảm mức androgen trong máu, cải  
thiện tỷ lệ rụng trứng và sự dung nạp glucose  
(51, 52).  
Progestin  
Không có nghiên cứu đề cập tới sử dụng dài  
hạn medroxyprogesterone acetate và  
edroxyprogesterone acetate uống ngắt quãng  
để điều trị chứng rậm lông. Hiệu quả dự  
phòng ung thư nội mạc tử cung của liệu pháp  
progestin đường uống hoặc dụng cụ tử cung  
có chứa progestin ở những phụ nữ bị PCOS  
chưa được biết. Thuốc tránh thai đơn thuần  
progestin hoặc dụng cụ tử cung có chứa  
progestin là biện pháp thay thế bảo vệ niêm  
mạc tử cung nhưng khoảng 50-89% người sử  
dụng có ra máu bất thường (47).  
Vì tỷ lệ rụng trứng có thể cải thiện với điều  
trị nên các biện pháp tránh thai là quan  
trọng. Rất khó để tách biệt tác dụng cải  
thiện nhạy cảm với insulin với tác dụng làm  
giảm androgen huyết thanh bởi vì khi sự  
nhạy cảm với insulin được cải thiện có thể  
làm tăng SHBG từ đó làm giảm androgen  
sinh học.  
Thuốc tăng nhạy cảm với Insulin  
Hiện tại, không có thuốc điều trị đái tháo  
đường nào được Cơ quan Quản lý Thực  
phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp  
nhận để điều trị rối loạn kinh nguyệt do  
PCOS, mặc dù metformin dường như có tỷ  
lệ giữa nguy cơ và hiệu quả an toàn nhất.  
Không có các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối  
chứng về điều trị các thuốc này từ 1 năm  
trở lên ở phụ nữ, trẻ em hoặc thanh thiếu  
niên PCOS. Ảnh hưởng của các thuốc này  
đối với việc ngăn ngừa tăng sinh hoặc tân  
sinh nội mạc tử cung ở phụ nữ PCOS phần  
lớn không rõ.  
Các thuốc để điều trị đái tháo đường type 2  
cũng được sử dụng để điều trị PCOS. Hầu hết  
các nghiên cứu ban đầu tập trung vào các  
thuốc cải thiện nhạy cảm insulin ở ngoại vi  
bằng cách giảm mức insulin trong máu. Các  
thuốc này bao gồm nhóm biguanides  
(metformin) và nhóm thiazolidine- diones  
(pioglitazone và rosiglitazone) (48, 49). Các  
thuốc này rất ít gây ra hạ đường máu và  
được xem là các thuốc làm tăng nhạy cảm  
insulin nhưng tỷ lệ nguy cơ và hiệu quả khác  
nhau ở mỗi cá nhân (50).Có sự khác nhau  
giữa các nhóm, biguanide có xu hướng giảm  
Ở phụ nữ PCOS không có nhu cầu mang  
thai thì phương pháp nào là tốt nhất để  
giảm nguy cơ bệnh tim mạch và đái tháo  
cân  
trong  
khi  
các  
thuốc  
nhóm  
thiazolidinedione có xu hướng gây tăng cân.  
đường?  
gần đây cho thấy việc phối hợp metformin  
mang lại hiệu quả hơn so với việc chỉ thay  
đổi lối sống (56, 57). Metformin có thể gây  
toan acid lactic nhưng nguy cơ khá thấp, chủ  
yếu xảy ra ở những phụ nữ mắc ĐTĐ không  
kiểm soát tốt và có suy chức năng thận. Các  
triệu chứng tiêu hóa (tiêu chảy, buồn nôn,  
nôn, chướng bụng, đầy hơi, chán ăn) là các  
tác dụng phụ phổ biến nhất và có thể cải  
thiện bằng cách khởi đầu với liều nhỏ rồi  
tăng liều dần hoặc dùng các thế hệ thuốc  
giải phóng kéo dài hiện sẵn có ở Hoa Kỳ.  
Thay đổi lối sống là cách tiếp cận tốt nhất để  
giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim mạch và  
đái tháo đường (ĐTĐ). Có thể cân nhắc sử  
dụng thêm các thuốc làm tăng nhạy cảm với  
insulin và statins.  
Thay đổi lối sống  
Tăng cường luyện tập thể dục và thay đổi  
chế độ ăn cho thấy hiệu quả giảm nguy cơ  
ĐTĐ tương đương hoặc tốt hơn so với dùng  
thuốc (36). Giảm cân có thể giúp cải thiện  
các bất thường chuyển hóa do PCOS. Để  
giảm cân, yếu tố quan trọng là cần giảm calo  
hơn là việc thay đổi thành phần trong chế độ  
ăn (53), và các thử nghiệm nhỏ ở phụ nữ  
PCOS cũng cho thấy điều này (54). Vì vậy,  
chế độ ăn uống lí tưởng nhất cho phụ nữ  
mắc PCOS là hạn chế calo.  
Thường dùng liều 1,500–2,000 mg mỗi ngày  
để điều trị cho phụ nữ PCOS, chia nhiều lần  
trong ngày. Hiện tại chưa đủ dữ liệu để đưa  
ra khuyến cáo sử dụng các thuốc làm tăng  
nhạy cảm insulin có thể giúp dự phòng ĐTĐ  
ở phụ nữ PCOS. Tuy nhiên, kết quả của các  
thử nghiệm cho thấy để ngăn ngừa ĐTĐ cần  
điều trị tích cực hơn khi có biểu hiện rối  
loạn dung nạp glucose hoặc hội chứng  
chuyển hóa.  
Các thuốc làm tăng nhạy cảm với Insulin  
Chương trình dự phòng ĐTĐ đã chứng minh  
việc sử dụng metformin có thể làm chậm  
tiến triển tới ĐTĐ ở nhóm dân số có nguy cơ  
cao (chẳng hạn người có rối loạn dung nạp  
Glucose) (36), và một số thuốc điều trị ĐTĐ  
cũng cho kết quả tương tự. Những phụ nữ  
PCOS có sử dụng metformin cho thấy sự  
dung nạp glucose ổn định hoặc có cải thiện  
trong một thời gian dài (55). Metformin có  
thể giúp giảm cân tuy nhiên kết quả không  
ổn định (52, và thường kết hợp với thay đổi  
lối sống để điều trị PCOS. Các nghiên cứu  
Statins  
Y văn ở nhiều nơi ngày càng cho thấy việc sử  
dụng statin ở phụ nữ PCOS đem lại hiệu quả  
về tim mạch và nội tiết (58). Tuy nhiên, hiệu  
quả lâu dài của thuốc trong việc dự phòng  
bệnh lý tim mạch ở phụ nữ trẻ PCOS, đặc biệt  
là ở tuổi dậy thì, chưa rõ ràng.  
Thuốc tránh thai nội tiết kết hợp và  
Progestins  
Không có đủ bằng chứng để giải thích việc sử  
dụng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp và  
Progestin làm tăng nguy cơ ĐTĐ và bệnh lý  
tim mạch ở phụ nữ PCOS, vì vậy có thể cân  
nhắc sử dụng các thuốc này. Trong dân số  
chung,sử dụng thuốc tránh thai không làm  
tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 (59). Sử dụng  
thuốc tránh thai nội tiết kết hợp dường như  
không làm tăng nguy cơ ĐTĐ ở phụ nữ PCOS,  
mặc dù việc sử dụng thuốc có thể ảnh hưởng  
đến độ nhạy của mô với insulin – tác dụng  
phụ thuộc liều (60, 61). Vì vậy, khuyến cáo  
nên sử dụng viên thuốc tránh thai liều thấp.  
Sử dụng thuốc tránh thai đường uống có thể  
làm tăng đáng kể nồng độ triglycerides và  
HDL- cholesterol, mặc dù các tác dụng phụ  
này không tăng lên theo thời gian (62). Tuy  
đã cân nhắc các yếu tố nguy cơ biến cố tim  
mạch (tăng huyết áp, béo phì, tiền sử bệnh lý  
đông máu, hút thuốc lá) nhưng không có  
bằng chứng nào cho thấy rằng phụ nữ PCOS  
sử dụng thuốc tránh thai đường uống mắc  
nhiều biến cố tim mạch hơn so với nhóm dân  
số chung. Tác động progestins đơn độc lên  
chuyển hóa còn thay đổi và chưa được hiểu  
rõ.  
nghị được tài trợ bởi Hiệp hội y học sinh  
sản Hoa Kỳ (ASRM) và Hiệp hội Châu Âu về  
sinh sản và phôi học con người (ESHRE) đã  
đưa ra khuyến cáo trước khi tiến hành can  
thiệp điều trị, cần tư vấn cho bệnh nhân về  
tầm quan trọng của thay đổi lối sống, đặc  
biệt là giảm cân và tập thể dục đối với bệnh  
nhân béo phì, ngừng hút thuốc lá, giảm  
uống rượu trước khi mang thai. Phương  
pháp gây rụng trứng đầu tay được khuyến  
cáo là dùng thuốc kháng estrogen,  
clomiphene citrate. Nếu thất bại (không  
mang thai) thì chuyển sang sử dụng  
gonadotropins ngoại sinh hoặc phẫu thuật  
buồng trứng nội soi (63).  
Tất cả các thuốc gây rụng trứng đều làm  
tăng khả năng đa thai, các nguy cơ về sản  
khoa và sơ sinh kèm theo như sinh non và  
các rối loạn tăng huyết áp. Sử dụng  
clomiphene citrate làm tăng nguy cơ song  
thai lên 10% và nguy cơ lớn hơn nhiều khi  
sử dụng gonadotropins ngoại sinh (63). Tỉ  
lệ này thậm chí còn cao hơn nhiều ở phụ nữ  
PCOS (63)  
Clomiphene Citrate  
Ở phụ nữ PCOS có nhu cầu mang thai,  
phương pháp gây rụng trứng nào là hiệu  
quả?  
Thông thường clomiphene citrate luôn là  
thuốc đầu tay để kích thích phóng noãn ở  
phụ nữ không rụng trứng, trong đó có phụ  
nữ PCOS, vài thử nghiệm ngẫu nhiên đa  
trung tâm đã ủng hộ việc sử dụng  
clomiphene là điều trị đầu tay. Tỉ lệ sinh con  
sống ≥ 6 tháng thay đổi từ 20 – 40% phụ  
Hiện tại chưa có phác đồ dựa trên bằng  
chứng nào hướng dẫn lựa chọn phương  
pháp gây rụng trứng ban đầu và những lần  
sau đó ở phụ nữ PCOS. Gần đây, một hội  
thuộc vào nhóm dân số (64–66). Một nửa số  
phụ nữ sẽ mang thai khi sử dụng clomiphene  
với liều khởi đầu là 50- mg/ngày, và 20% sẽ  
mang thai khi khởi đầu với liều 100-  
mg/ngày (67). Hầu hết sẽ mang thai trong  
vòng 6 chu kỳ đầu tiên, tuy nhiên người ta  
nhận thấy tỉ lệ mang thai hằng tháng là hằng  
định, điều này gợi ý rằng việc dùng thuốc lâu  
dài sẽ mang lại hiệu quả liên tục (65).  
phụ nữ hiếm muộn do không rụng trứng và  
PCOS chưa được xác định (72), và được  
khuyến cáo là phương pháp điềutrị hàng hai.  
Khi so sánh giữa các phương pháp điều trị  
hàng hai, đốt bằng laser hay bằng điện đều  
không cho thấy ưu điểm rõ ràng, không có đủ  
bằng chứng để đưa ra sự khác biệt về tỉ lệ  
phóng noãn và mang thai khi đốt điểm so với  
liệu pháp gonadotropin (72). Tỉ lệ đa thai giảm  
ở phụ nữ điều trị bằng phương pháp nội soi  
đốt điểm. Ở một số trường hợp, hiệu quả thụ  
tinh của phương pháp nội soi đốt điểm chỉ là  
tạm thời, do đó có thể cần hỗ trợ thêm bằng  
clomiphene hoặc gonadotropins sau đốt (73).  
Ảnh hưởng lâu dài của nội soi đốt điểm lên  
chức năng của buồng trứng là không rõ ràng.  
Phương pháp này dường như không giúp cải  
thiện các bất thường chuyển hóa ở phụ nữ  
PCOS (74).  
Các phác đồ clomiphene khác cũng được  
thiết lập, bao gồm kéo dài giai đoạn dùng  
thuốc (68), điều trị trước bằng thuốc tránh  
thai đường uống (69), và dùng phối hợp  
thêm dexamethasone. Dexamethasone kết  
hợp với clomiphene citrate cho thấy làm  
tăng tỉ lệ rụng trứng và mang thai ở phụ nữ  
PCOS kháng với clomiphene (70).  
Gonadotropins  
Gonadotropins thường được sử dụng để gây  
rụng trứng ở phụ nữ PCOS khi điều trị bằng  
clomiphene thất bại. Dùng liều thấp  
gonadotropins tăng tỉ lệ rụng trứng và phát  
triển 1 nang noãn cao hơn, và nguy cơ xảy ra  
hội chứng quá kích buồng trứng thấp hơn  
nhiều (71). Khuyến cáo sử dụng  
gonadotropins liều thấp ở phụ nữ PCOS  
(63).  
Thuốc ức chế men Aromatase  
Các thuốc ức chế men Aromatase như  
letrozole và anastrazole được đề xuất là  
phương pháp gây rụng trứng nguyên phát và  
thứ phát và các thử nghiệm nhỏ cho thấy hiệu  
quả tương đương với clomiphene (75). Lợi ích  
của việc dùng các thuốc trên bao gồm có thể  
sử dụng bằng đường uống, thời gian bán hủy  
ngắn hơn clomiphene, tỉ lệ làm tổ có thể cao  
hơn, và tỉ lệ đa thai thấp hơn do chỉ rụng một  
noãn. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để  
kiểm chứng lại những khẳng định này, và cần  
theo dõi kĩ hơn các ảnh hưởng lên thai nhi. Vì  
Nội soi đốt điểm buồng trứng (Ovarian  
Drilling)  
Giá trị của nội soi đốt điểm buồng trứng bằng  
laser hoặc đốt điện trong điều trị ban đầu ở  
vậy FDA chưa chấp nhận sử dụng thuốc này  
cho liệu pháp gây rụng trứng.  
dụng nhiều hơn. Nhìn chung các liệu pháp  
kết hợp cho thấy hiệu quả tốt hơn so với  
đơn trị liệu. Ngoại trừ kem bôi eflornithine  
HCL, các thử nghiệm lâm sàng nhỏ, đơn  
trung tâm trong điều trị chứng rậm lông  
chưa đươc đánh giá lâm sàng và chưa có  
phản hồi của bệnh nhân hoàn chỉnh  
Các thuốc làm tăng nhạy cảm với insulin  
Metformin  
Việc sử dụng metformin đơn độc như là liệu  
pháp điều trị vô sinh đầu tay chưa được củng  
cố bằng các thử nghiệm ngẫu nhiên. Hiệu quả  
sinh con sống khi sử dụng Clomiphene cao  
gấp 3 lần so với metformin. Các phân tích  
tổng hợp đã gợi ý rằng có thể có sự tăng tỉ lệ  
mang thai bằng cách kết hợp clomiphene với  
metformin, đặc biệt ở phụ nữ PCOS bị béo phì  
so với sử dụng clomiphene đơn độc (OR,  
2.67; 95% CI, 1.45–4.94; NNT, 4.6) (76).  
Metformin không có nguy cơ gây quái thai  
hay chết phôi ở người và hầu như an toàn khi  
mang thai (thuốc an toàn nhóm B khi mang  
thai). Không có bằng chứng chắc chắn nào  
cho thấy việc sử dụng metformin sớm trong  
thai kỳ giúp dự phòng thất bại thai kì, và các  
thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy việc ngừng  
dùng thuốc sau khi phát hiện có thai có tỉ lệ  
sẩy thai tương đương giữa metformin và  
clomiphene.  
Ngừa thai nội tiết phối hợp  
Trong điều trị chứng rậm lông, hiện nay  
chưa có thuốc ngừa thai nội tiết phối hợp  
nào được FDA chấp nhân.  
Một số nghiên cứu quan sát hoặc nghiên  
cứu không ngẫu nhiên cho thấy hiệu quả của  
thuốc ngừa thai đường uống trong cải thiện  
triệu chứng rậm lông ở phụ nữ PCOS, nhưng  
không có nghiên cứu nào đủ mạnh chứng  
minh được điều này. Một số nghiên cứu so  
sánh hiệu quả những loại ngừa thai nội tiết  
phối hợp khác nhau, nhưng không có loại  
thuốc nào cho thấy hiệu quả cao trong điều  
trị chứng rậm lông ở phụ nữ PCOS. Một số  
nghiên cứu cho thấy khi kết hợp thuốc ngừa  
thai đường uống với các phương thức điều  
trị khác, thường gặp nhất là spironolactone  
sẽ tăng hiệu quả điều trị. Nếu thuốc ngừa  
thai nội tiết phối hợp được sử dụng có chứa  
drospirenone, một progestin có tác dụng  
chống giữ muối nước, thì cần giảm liều  
spironolactone nếu trong liệu pháp kết hợp,  
và phải đánh giá nồng độ Kali trong máu  
bệnh nhân.  
Các thuốc nội khoa có tác dụng như thế  
nào trong điều trị chứng rậm lông?  
Mặc dù các phương pháp điều trị giúp cải  
thiện chứng rậm lông nhưng không đưa ra  
được hiệu quả như mong muốn và việc điều  
trị thường giảm nhẹ triệu chứng hơn là bớt  
hẳn. Liệu pháp laser ngày càng được sử  
Kháng Androgen  
tuyến thượng thận, cạnh tranh thụ thể  
androgen ở nang lông, và trực tiếp ức chế  
hoạt động của enzym 5-α-reductase. Liều  
thường dùng là 25-100mg, hai lần một  
ngày, và được hiệu chỉnh cho cân bằng giữa  
lợi ích và tác dụng phụ, chẳng hạn hạ huyết  
áp tư thế. Để có được hiệu quả lâm sàng  
toàn diện có thể cần phải sử dụng thuốc 6  
tháng hoặc hơn.Khoảng 20% phụ nữ sử  
dụng spironolactone sẽ có tăng tần suất  
kinh nguyệt. Vì thuốc có thể gây ra và làm  
nặng thêm tình trạng tăng Kali máu, do đó  
cần thận trọng khi dùng ở phụ nữ bị suy  
thận. Trẻ nhũ nhi phơi nhiễm với thuốc có  
thể dẫn đến tình trạng cơ quan sinh dục  
ngoài không rõ ràng (hiếm gặp).  
Không có tác nhân kháng Androgen nào  
được phát triển để điều trị tăng Androgen ở  
phụ nữ PCOS hoặc được chấp nhận bởi FDA.  
Chúng được dùng theo kinh nghiệm ở phụ  
nữ PCOS. Thử nghiệm của các thuốc kháng  
androgen điều trị chứng rậm lông có chất  
lượng thấp. Một số nghiên cứu phân tích  
tổng hợp có thể chỉ bao gồm 12 trong 348  
thử nghiệm đủ điều kiện, và cho thấy những  
thuốc này có hiệu quả nhẹ. Những chất này  
chống lại việc gắn của testosterone và các  
androgen khác lên thụ thể của chúng. Sự đối  
kháng Androgen có thể dẫn đến thay đổi  
những quá trình chuyển hóa khác nhau  
trong cơ thể như tăng cường các thành phần  
của cơ thể hay nồng độ lipid trong tuần  
hoàn. Tất cả dường như đều mang lại lợi ích,  
mặc dù sự lựa chọn tốt nhất cho điều trị  
chứng rậm lông trong PCOS chưa được biết  
rõ. Kháng Adrogen còn có thể gây ra quái  
thai hoặc gây nữ hóa bộ phận sinh dục ngoài  
của thai nhi nam (không rõ ràng cơ quan  
sinh dục ngoài). Vì vậy, chúng thường được  
dùng phối hợp với thuốc tránh thai đường  
uống.  
Flutamide  
Flutamide, đồng vận với thụ thể androgen,  
là một thuốc kháng androgen không steroid  
khác cho thấy hiệu quả trong điều trị chứng  
rậm lông ở những nghiên cứu nhỏ. Tác  
dụng phụ phổ biến nhất là khô da, ngoài ra  
còn có thể gây viêm gan (hiếm gặp). Liều  
thường dùng là 125-250mg/ngày. Thuốc có  
nguy cơ cao gây quái thai do đó cần sử  
dụng các biện pháp tránh thai trong thời  
gian dùng thuốc. Flutamide cũng có thể  
dùng kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống  
và metformin để điều trị PCOS và có thể  
mang lại thêm một vài tác dụng (79).  
Spironolsctone  
Spironolactone, một thuốc lợi tiểu kháng  
aldosterone, có khả năng gắn vào thụ thể  
androgen như một chất đối vận. Thuốc có  
các cơ chế hoạt động khác như: ức chế hoạt  
động chế tiết steroid của buồng trứng và  
Finasteride  
Finasteride ức chế cả 2 type của enzyme 5-  
α- reductase (type 1, chủ yếu tìm thấy ở da,  
và type 2, chủ yếu tìm thấy ở tuyến tiền liệt  
và mô sinh dục). Thuốc có ở dạng viên nén  
5mg để điều trị ung thư tuyến tiền liệt và  
viên nén 1mg để điều trị rụng tóc ở nam.  
Finasteride dung nạp tốt hơn so với các  
thuốc kháng androgen khác, khả năng gây  
độc cho gan và thận thấp; tuy nhiên, nhiều  
tài liệu ghi nhận thuốc có nguy cơ gây quái  
thai ở thai nhi nam, do đó cần sử dụng biện  
pháp ngừa thai thích hợp trong thời gian  
dùng thuốc  
được FDA chấp nhận điều trị chứng rậm  
lông ở mặt cho phụ nữ. Sau 6 tháng điều trị,  
khoảng 60% phụ nữ có cải thiện và 1/3 điều  
trị thành công trên lâm sàng. Tỉ lệ điều trị  
thành công dường như không bị ảnh hưởng  
bởi tuổi hay các phương pháp tẩy lông  
trước, tuy nhiên ở người da trắng tỉ lệ điều  
trị thành công cao hơn so với các chủng tộc  
còn lại (37% so với 22%) và ở người da đen  
thì không có hiệu quả. Kem được bôi 2 lần/  
ngày tại những vùng bị ảnh hưởng ở mặt.  
Tác dụng phụ tại chỗ của thuốc gồm châm  
chích , bỏng rát, ban đỏ, phát ban (hiếm gặp)  
(82). .  
Tác nhân tăng nhạy cảm Insulin  
Vai trò của hỗ trợ về thẩm mĩ trong điều  
trị chứng rậm lông?  
Có ít dữ liệu ủng hộ hiệu quả của metformin  
trong điều trị chứng rậm lông. Theo bằng  
chứng của một nghiên cứu 44 tuần ở phụ nữ  
PCOS dùng thuốc tăng nhạy cảm Insulin, chỉ  
có liều cao nhất của troglitazone (một thuốc  
trong nhóm thiazolidinedione hiện nay  
không còn trên thị trường) là có tác dụng  
tuy nhiên hiệu quả không cao. Cần tiến hành  
các nghiên cứu chính xác hơn với thời gian  
lâu hơn để xác định khác biệt giữa các loại  
thuốc tăng nhạy cảm insuin và hiệu quả lâu  
dài của chúng. Hiện nay, hiệu quả của việc  
sử dụng thuốc tăng nhạy cảm Insulin thấp  
hoặc không rõ ràng.  
Các phương pháp loại bỏ lông cơ học (cạo,  
nhổ, tẩy, kem làm rụng lông, triệt lông bằng  
điện phân và laser) thường được các phụ nữ  
sử dụng trước tiên. Không có bằng chứng  
nào cho thấy cạo lông có thể tăng mật độ  
nang lông hoặc kích thước của lông. Nhổ  
lông có thể hữu ích nếu chấp nhận đau  
nhưng cần tránh viêm nang lông, tăng sắc tố  
và sẹo. Liệu pháp laser là phương pháp  
chính để loại bỏ lông cơ học và được cho  
thấy có hiệu quả với phụ nữ PCOS do đó  
được sử dụng trong nghiên cứu chính thức  
nhiều hơn so với liệu pháp điện phân.Mục  
đích chính điều trị là loại bỏ lông vì chỉ gây  
tổn thương chọn lọc bởi nhiệt lên nang lông  
chứ không gây tổn thương tới các mô xung  
quanh. Chỉ định tốt hơn với những phụ nữ  
Eflornithine  
Là chất ức chế enzyme ornithine  
decarboxylase, eflornithine dùng tại chỗ  
có tóc đen và da sáng, hiệu quả nhất trong  
giai đoạn lông hoạt động (chu kì phát triển  
của lông gồm 3 giai đoạn- trạng thái của  
lông. Trạng thái lông hoạt động (anagen) là  
giai đoạn lông phát triển, tồn tại trên bề mặt  
da; trạng thái lông thoái triển (catagen) là  
giai đoạn lông thoái hóa, rụng vĩnh viễn khỏi  
vùng da; và cuối cùng là trạng thái lông nghỉ  
- chưa phát triển (telogen). Vì độ nghiêng  
của nang lông trong từng giai đoạn khác  
nhau của chu kì phát triển lông, việc lặp lại  
điều trị là cần thiết. Khuyến cáo trong các  
tình trạng thừa androgen cần điều trị đồng  
thời với các thuốc giảm nồng độ androgen vì  
nếu không các sợi lông tơ mới sẽ biệt hóa  
thành các sợi lông chính thức và gây ra rậm  
lông trở lại . Kết hợp eflornithine với liệu  
pháp laser sẽ hiệu quả hơn so với dùng liệu  
pháp laser đơn thuần.  
TÀI LIỆU GỐC  
journals.lww.com/greenjournal/Citation/200  
9/10000/ACOG_Practice_Bulletin_No__108__  
Polycystic_Ovary.41.aspx  
pdf 17 trang yennguyen 18100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu Acog Guideline: Hội chứng buồng trứng đa nang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_acog_guideline_hoi_chung_buong_trung_da_nang.pdf