Sự biến đổi đô thị trong giai đoạn Covid-19

N G H I Ê N C Ứ U K H O A H Ọ C  
nNgày nhận bài: 23/4/2021 nNgày sửa bài: 18/5/2021 nNgày chấp nhận đăng: 07/6/2021  
Sự biến đổi đô thị trong giai đoạn Covid 19  
Urban transformation and Covid-19 Pandemi  
Giới thiệu  
> TS. KTS VŨ THỊ HỒNG HẠNH  
Không gian đô thị biến đổi bởi các yếu tố động lực: kinh tế, tri  
thức và chính trị [1] . Mối quan hệ cân bằng của 03 động lực này đảm  
bảo sự phát triển cân đối và bền vững của đô thị. Trí thức với vai trò  
tư vấn phát triển sẽ đảm bảo mô hình phát triển hợp lý và phát huy  
mọi tiềm lực, phù hợp và thích ứng với nhiều điều kiện của bối cảnh  
trong đó có bối cảnh chính trị và kinh tế. Kinh tế và chính sách là  
công cụ thực thi và quản lý sự biến đổi và phát triển đó. Tuy nhiên,  
không phải ở đâu và lúc nào 03 nhóm quyền lực này cũng ‘cân  
bằng’. Ở một số quốc gia tư bản, quyền lực kinh tế chi phối mạnh  
hơn, ngược lại ở một số nước, vai trò chính trị chiếm ưu thế và quyết  
định cao hơn. Tình hình biến đổi đô thị ở những quốc gia này, do  
vậy, cũng có những đặc điểm khác nhau.  
GV Đại học Kiến trúc Tp Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Biến đổi đô thị là một quá trình tất yếu diễn ra bới 03 tác nhân: kinh  
tế, tri thức và chính trị. Tùy vào các mức độ tác động mà quá trình  
này có những biến đổi khác nhau. Từ góc độ hình thái học đô thị, với  
phương pháp phân tích tách lớp các yếu tố vật chất tạo nên không  
gian phục vụ các hoạt động đô thị, bài viết phân tích, nhận định một  
số đặc điểm và xu hướng biến đổi đô thị, cũng như các điểm khác  
biệt cơ bản (nếu có) của chúng trong giai đoạn đại dịch covid-19. Từ  
đó, bài viết cũng đề cập một số quan điểm tích hợp công tác dự báo  
và chiến lược thích ứng với các điều kiện dịch bệnh lây nhiễm bởi  
trong phát triển đô thị; bởi chính trong điều kiện này, các vấn đề  
môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v bị tác động ngược lại khó  
lường và có khả năng trệch (xu) hướng.  
ĐỘNG LỰC  
CHÍNH TRỊ  
ĐỘNG LỰC  
KINH TẾ  
Từ khóa: Biến đổi đô thị, Covid, đại dịch, hình thái, kinh tế, chính trị,  
tri thức, tác động, sinh thái  
ĐỘNG LỰC  
TRI THỨC  
ABSTRACT  
Hình 1: Động lực biến đổi đô thị (Nguồn[1])  
Tiếp cận hình thái học đô thị nhận định ‘không gian vật chất đô  
thị có mức độ biến đổi khác nhau tùy thuộc vào từng lớp hình thái khác  
nhau. Những lớp hình thái này được phân loại, tách lớp tùy thuộc vào  
chu kỳ biến đổi tự nhiên (vòng đời) của lớp/nhóm hình thái đó’ [2]. Chịu  
tác động của cùng 03 nhóm động lực kinh tế, chính trị và trí thức,  
nhưng với mức độ, tính chất khác nhau, những lớp hình thái này có  
những biến đổi khác nhau và có quan hệ tương hỗ theo thời gian.  
Nói cách khác, chúng biến đổi nhanh hay chậm theo ‘chu kỳ’ hay  
tuổi thọ của các yếu tố vật chất đó. Vòng đời của các yếu tố hình  
thái càng lớn, mọi tác động thay đổi nó càng phải được cân nhắc kỹ  
lưỡng hơn. Ví dụ, việc lấn biển, san lấp ao hồ, kênh rạch, phá rừng,  
v.v sẽ mất nhiều thời gian để hồi phục và khôi phục, tác động lên  
môi trường tự nhiên sinh thái sẽ lớn và khôn lường. Ngược lại, việc  
thay đổi diện mạo hay ‘lớp áo’ ngoài’ của công trình thì nhanh và  
đơn giản hơn; tác động như thế nào tới môi trường và vấn đề kinh  
Urban transformation is driven by three powers: the economic,  
knowledge, and the political. Depending on how and to what extend  
each aspect is put on, different urban transformations resulted.  
The paper is to understand the context of urban transformation and  
how it is challenged by the Covid-19. Based on the morphological  
analysis that take account different physical layers that constituted  
the urban form and development, taking the case of Saigon  
Hochiminh City, the paper addresses typical changes and how those  
tendencies is initially influenced by Covid. It is also to conclude how  
considerations should be paid to adapt and support more positive  
changes under such pandemic that may come in the future.  
Key words: Urban transformation, covid, pandemic, morphology,  
economic, polotical, knowledge, influence, ecological services  
[3].  
tế cũng có thể đo lường trước được . Các yếu tố (lớp) hình thái  
trong đô thị được xác định như sau:  
‐ Hệ thống tự nhiên, hệ sinh thái  
‐ Hệ thống kết nố công cộng: Mạng lưới đường - không gian  
công cộng  
‐ Lô thửa đất  
‐ Công trình  
‐ Các yếu tố khác  
Trong quá trình này, bối cảnh tự nhiên ‘bị tác động’ hay ‘hưởng  
lợi’ tùy thuộc vào quy mô, tính chất và đặc điểm tác động của 03  
116  
06.2021  
ISSN 2734-9888  
động lực này, gây ra hệ quả tích cực hay tiêu cực. Không ít đô thị ’bị’  
phá hủy nặng nề thậm chí hoàn toàn bởi thiên tai, động đất, núi lửa,  
hỏa hoạn. Cũng không ít ví dụ một số đô thị hoang tàn đổ nát, trả  
giá cho chiến lược phát triển sai, không phù hợp với điều kiện tự  
nhiên, trái quy luật phát triển: lũ lụt, ngập lụt, sạt lở, sụt lún,...  
Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, sự biến đổi của một đô  
thị này, đôi khi còn ảnh hưởng đến nhiều đô thị khác vượt ra khỏi  
giới hạn địa lý của nó, về nhiều mặt và hệ quả khó dự báo chính xác  
và đầy đủ. Cuối 2019, Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc, 02 năm  
sau, cả thế giới vẫn đang đối mặt với nhiều mất mát, nhiều tác động  
tiêu cực đến kinh tế, chính trị văn hóa và xã hội; và do vậy, biến đổi  
đô thị cũng bị tác động. Bài viết phân tích một vài khía cạnh cả tích  
cực và tiêu cực của Covid trong bối cảnh biến đổi đô thị, lấy Tp HCM  
làm ví dụ.  
Biến đổi quy mô lớn: Hệ thống tự nhiên, hệ sinh thái và  
covid-19:  
BES (Biodiversity and Ecosystem Services) Index chỉ các chỉ số  
(%) Các yếu tố đa dạng sinh học và Phục vụ hệ sinh thái thái trong  
một khu vực/môi trường sinh thái, có xem xét vai trò của chúng  
trong môi trường sống. SWISS Re nghiên cứu xác lập 10 yếu tố như  
sau:  
‐ Sự hoàn chỉnh/toàn diện của môi trường sinh thái - Habitat  
Intactness  
‐ Pollination – hệ thực vật  
‐ Air Quality & Local Climate: chất lượng không khí và khí hậu  
địa phương  
‐ Water Security: An ninh nước  
‐ Water Quality: chất lượng nước  
‐ Soil Fertility: độ màu mỡ của đất  
‐ Erosion Control: kiểm soát sạt lở  
‐ Coastal Protection: bảo vệ bờ biển  
‐ Food Provision: An ninh lương thực  
‐ Timber Provision: Đất rừng, phòng hộ  
Nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ giữa khả năng đàn hồi -  
tổn thương của hệ sinh thái, mật đô cư trú và mức độ phụ thuộc  
của nền kinh tế với hệ sinh thái đó.  
Thế nhưng thực tế hệ sinh thái và đa dạng sinh học nhiều nơi  
đang bị tàn phá nghiêm trọng. Theo SRIBES, 1/5 của thế giới  
đang có nguy cơ bị suy thoái hệ sinh thái do sự giảm sút đáng kể  
lượng các loài (động, thực vật hoang dã) và môi trường sống của  
chúng (SRIBES index, 2020).  
Hình 2: Tình hình covid 19 tại các nước trên thế giới tới 10/5/2021 (màu sắc chỉ số  
lượng ca nhiễm) (Nguồn [4], ĐH Y Khoa John Hopkin Hoa ky, 2021)  
Sự phát triển kinh tế của một quốc gia, khu vực phụ thuộc ít  
nhiều vào hệ sinh thái tự nhiên. Việt Nam thuộc quốc gia có đa dạng  
sinh học và khả năng phục hồi hệ sinh thái tốt, mức độ kinh tế phụ  
thuộc vào hệ sinh thái ở mức cao: sản xuất nông lâm nghiệp chiếm  
tỉ trọng lớn, dân số đô thị thấp (Swiss Re Institute BES Index,  
FAO/World Bank 2020, NCFA 2020, Oxford Economics 2020). Mặc dù  
chính sách trồng và bảo vệ rừng (đầu nguồn), bảo tồn hệ sinh thái,  
đa dạng sinh học, v.v đã được quan tâm quản lý tương đối nghiêm,  
việc chuyển đổi đất rừng thành đất trồng cây công nghiệp, nông  
nghiệp, xây dựng dự án tràn lan, chặt phá rừng, săn bắn, tiêu thụ  
động vật hoang dã, v.v vẫn vào mức báo động. Hệ quả không còn  
là dự báo. Lũ lụt miền Trung từ 10 đến tháng 12 năm 2020 (hay còn  
được gọi là Lũ chồng lũ/ Lũ lịch sử là một ví dụ.  
Sự suy giàm hệ sinh thái toàn cầu  
Lũ lịch sử tại Việt Nam năm 2020 gây  
nhiều thiệt hại nặng nề cho các tỉnh  
miền Trung và Tây Nguyên  
Hình 4: Hệ sinh thái bị tổn hại nghiêm trọng và hệ quả (Nguồn: [6], Tổng hợp)  
Sự sụt giảm và phân tán của hệ động thực vật hoang dã và hệ sinh  
thái đã làm suy giảm sức mạnh tự phòng vệ của chúng, mang con  
người, với năng lực và phương tiện hỗ trợ, tới gần với các loài động vật  
hơn trước rất nhiều. Trong khi nguồn lây nhiễm của Covid-19 còn chưa  
được công bố, thì một diều chắc chắn rằng, hầu hết các dịch bệnh trước  
dó đều có nguồn gốc từ việc lây truyền từ động vật hoang dã sang con  
người. ‘ Nghiên cứu cho thấy 70% các bệnh lây nhiễm trên diện rộng  
của con người thời gian gần đây có nguồn gốc từ động vật’ ( theo Giáo  
Hình 3: Chỉ số BES và sự lệ thuộc của các nền kinh tế (Nguồn [5])  
06.2021  
117  
ISSN 2734-9888  
N G H I Ê N C Ứ U K H O A H Ọ C  
sư Sharon Guynup, thành viên toàn cầu của Trung tâm Wilson và Khám  
phá địa lý quốc gia (National Geographic Explorer’) [5,6,7].  
nhà vườn, xu hướng trốn dịch, xa lánh đô thị đang trở nên phổ biến.  
Những cơn sốt bất động sản nghỉ dưỡng, đất nông thôn vùng ven đô  
thị, hoặc xa hơn nơi có các điều kiện phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ,  
giao thông tiếp cận hiện tại hoặc dự phóng tốt;  
1. Biến đổi ở quy mô đô thị - vấn đề dân số đô thị, nhu cầu  
phát triển dịch chuyển (đi lại) và sử dụng năng lượng  
Dân số đô thị được dự báo ngày càng tăng, đặc biệt ở các nước  
đang và kém phát triển; nơi nền kinh tế hiện nay đang phụ thuộc  
vào điều kiện tự nhiên, tỉ lệ lao động thủ công, cơ cấu kinh tế nông  
nghiệp cao. Vấn đề gia tăng dân số nói chung và dân số đô thị nói  
riêng kéo theo việc mở rộng không gian đô thị, thu hẹp đất nông  
nghiệp vùng ven, kết nối hạ tầng đường sá, v,v. Việc này đồng nghĩa  
với gia tăng nhu cầu di chuyển và sử dụng năng lượng. Khủng  
hoảng năng lượng là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới biến  
đổi khí hậu. Ngược lại, con người, vì tiện nghi và chất lượng sống lại  
có xu hướng sản xuất, truyền tải và sử dụng càng nhiều năng lượng  
phục vụ nhu cầu di chuyển, sản xuất, xây dựng, tiện nghi nhiệt, khí  
hậu, chiếu sáng, nhu cầu nước sản xuất, nước sạch cho sinh hoạt,  
v,v. Theo EPA (Environmental Protection Agency) của Hoa Kỳ, việc  
sản xuất và tiêu thụ năng lượng (phần lớn là năng lượng hóa thạch)  
đóng góp 80% vào hiện tượng nhà kính tại nước này, đồng nghĩa  
với việc đóng góp lớn vào quá trình biến đổi khí hậu [8]  
Hình 5: Sử dụng năng lượng theo nhóm tại Mỹ [9]  
Hàng loạt các nghiên cứu, hội thảo (trực tuyến) chỉ ra sự thay đổi  
thói quen sinh hoạt thích ứng thời kỳ covid. Người ta ăn nhiều hơn,  
ngủ nhiều hơn và ‘gắn kết gia đình tại nhà, nhiều hoạt động online  
kể cả giáo dục. Do hoạt động đi lại và sản xuất, làm việc ngưng trệ,  
kinh tế dự báo chậm hoặc không tăng trưởng thậm chí âm tại phần  
lớn các quốc gia. Ngược lại, việc tiêu thụ năng lượng giảm đáng kể  
(Hình 6). Có ghi nhận tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước  
giảm đáng kể. Tuy nhiên chỉ đúng khi các vấn đề về hỏa táng và  
chôn cất người chết do dịch bệnh được giải quyết khoa học tại các  
tâm dịch (như trường hợp Ấn Độ).  
Tuy nhiên, trong tình hình dịch bệnh, khắp nơi thực hiện giãn cách  
Xã hội, hạn chế tập trung đông người, cách ly tập trung, v.v. Hiện tượng  
vắng người trong đô thị, đặc biệt các khu vực công cộng, không gian  
‘cấm tụ tập’, Đường phố vằng người hơn. Sức hút nông thôn, mô hình  
Nguồn IEA  
Renewable energy products are being developed in Vietnam (Photo: MoNRE)  
Ô nhiễm không khí có (NO2) pollution, Trung Quốc 1/1-28/2/2020 (Hình NASA  
Earth Observatory, và Joshua Stevens)  
Hình 6: Covid 19 làm giảm tiêu thụ năng lượng, sạch không khí, giảm ô nhiễm nguồn nước, việc sử dụng năng lượng sạch, sản xuất và sử dụng năng lượng tái tạo đang có xu hướng  
tăng (Nguồn: [10], tổng hợp)  
đó những văn phòng đang vận hành thì trống nhiều, tỉ lệ trống tăng  
từ 5-11,8% khi các doanh nghiệp thu hẹp quy mô hoạt động, giảm  
chi phí. . . đối phó với dịch bệnh [6].  
Tại khu vực trung tâm thành phố HCM, không khó nhìn thấy  
nhiều cao ốc văn phòng trống nhiều chỗ, các cửa hàng, shophouse  
xung quanh Chợ Bến Thành xưa vốn sầm uất bây giờ cũng đìui hiu.  
Theo nghiên cứu của CBRE tại Tp. HCM, có sự thay đổi ở phân khúc  
văn phòng cho thuê các quý trong có dịch Covid: giá thuê giảm, tỷ  
2. Vị trí - giá trị bất động sản khu vực và covid-19  
Thuyết vị thế với các khu vực đắc địa (trung tâm đô thị, giao  
thông thuận lợi, cảnh quan đẹp, ven sông rạch, liền kề công viên  
trung tâm, v.v), nơi giá cả đất đai và bất động sản, giá thuê mặt bằng,  
văn phòng, căn hộ, ở mức cao đang có những biểu hiện ‘khác’ trong  
giai đoạn Covid-19.  
Trên thế giới, nhìn chung không có nhiều công trình văn phòng  
cho thuê mới được vận hành từ sau quý 2 của năm 2020, trong khi  
118  
06.2021  
ISSN 2734-9888  
lệ trống phòng cao. Trong đó, giá cho thuê văn phòng loại A có xu  
thế tăng nhẹ (5%) đều liên tục từ 2017, quý 2,3 năm 2020 lại có  
lượng trống tăng nhảy vọt từ 6% tới 25% trong quý 2-3 năm 2020.  
Phân khúc văn phòng loại B vẫn giữ ổn định về giá, tỉ lệ trống tăng  
rất nhẹ trong 3 quý diễn ra dịch Covid.  
Hình 8: Covid 19 ảnh hưởng ‘thuyết vị thế’, phân khúc cho thuê cao cấp tại các vị trí ‘đắc địa’ (Nguồn: CBRE + tổng hợp)  
Như vậy, Covid dường như có tác động mạnh hơn đến kinh tế  
các cấp quy mô lớn, và loại hình có sự giao tiếp trực tiếp với con  
người. Điều này tạo cơ hội cho các phân phúc trung bình và thấp  
hơn, các khu vực ngoài trung tâm, ít ‘đắc địa’ hơn. Covid-19 cũng  
chứng kiến sự tăng trưởng không ngừng của các online shop - Kênh  
bán hàng trực tuyến. Trong một khảo sát được công bố vào tháng  
10/2020 của Q&Me cũng cho biết, tỷ lệ người cho hay có mua sắm  
trực tuyến thường xuyên hàng tháng đã đạt 61%, so với 47% vào  
năm trước. "Kênh trực tuyến đã trở thành một phần của đời sống  
mua sắm người Việt Nam", khảo sát này nhận định. Ông Trương Văn  
Quý, Giám đốc EQVN, một chuyên gia về thương hiệu, đánh giá rằng  
"chuyển dịch của người tiêu dùng lên trực tuyến từ đại dịch đến nay  
rất mạnh, với hành vi mua hàng online ước tính tăng gấp đôi".  
3. Mạng lưới đường, không gian công cộng  
tiếp cận cho nhóm ở. Dần dần lan rộng thành các mạng lưới đường  
chằng chịt ngẫu nhiên, khó xác định kiểu hình chính thống nào. Mạng  
lưới đường ngày thường đi đôi với các khu ổ chuột, lụp xụp, mất vệ sinh,  
thiếu kiểm soát; gây khó khăn trong kiểm soát an ninh trật tự và nhất là  
trong giai đoạn dịch bệnh lây lan hiện nay.  
Không gian công cộng có tính tầng bậc phục vụ nhu cầu giao  
tiếp công cộng ở từng cấp quy mô đô thị: cấp thành phố,  
quận/huyện, khu dân cư, xóm/thôn. Vỉa hè, đường phố, công viên,  
v.v vốn là nơi giao tiếp xã hội với đa dạng hoạt động công cộng,  
dịch vụ, tiện ích . . . ngày và đêm. Việc hạn chế tập trung đông người  
và giãn cách làm (1) hạn chế hiệu quả hoạt động quy mô lớn tại các  
không gian lớn, (2) tăng hiệu quả hoạt động ở các không gian công  
cộng nhỏ, phân tán. Lựa chon thích ứng phải chăng là cho các thể  
loại không gian công cộng nhỏ, ‘pocket park’ đan xen trong khu ở,  
phục vụ nhu cầu của cộng đồng dân cư vừa phải, thân thiện hơn.  
Quan hệ xóm giềng cũng góp phần kiểm soát tốt an ninh trật tự và  
việc truy vết lây nhiễm dễ dàng hơn torng giai đoạn Covid-19.  
Việc hạn chế sử dụng một số không gian công cộng khi tương  
tác xã hội bị hạn chế, các giá trị tương ứng về văn hóa, xã hội đời  
sống, v.v cũng bị hạn chế theo và tại thời điểm nhất định. Nếu thời  
gian dịch bệnh kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nhiều và lâu hơn; việc hình  
thành một lối sống hay thay đổi một số quan niệm ứng xử trong  
không gian công cộng là có thể đoán trước.  
Hình 9: Các kiểu mạng lưới đường (Nguồn: hiệu chỉnh từ Marshall, W.E. and N.W.  
Garrick (2010) “Street Network Types and Road Safety”, Urban Design International,  
10.1057/udi.2009.31, April 21 2010)  
Trong khi mạng lưới đường bàn cờ với nhiều ưu điểm với các  
con đường giao cắt vuông góc nhau như hình bàn cờ  
(checkerboard), tạo thành các ô phố có kích thước và diện tích  
tương đối đồng đều, cho phép di chuyển thuận lợi với vận tốc vừa  
phải (do giao cắt nhiều) trong đô thị, tính liên thông của mạng lưới  
này làm khả năng di chuyển virus (theo tài xế và các bề mặt của  
phương tiện di chuyển) thuận lợi hơn. Mặt khác, việc này cũng gây  
không ít khó khăn trong trường hợp phong tỏa khu vực: ảnh hưởng  
lưu thông và phải chốt chặn nhiều cửa ngõ.  
Mạng lưới đường dạng hữu cơ (organic), với tổ hợp các đường  
cong nương theo địa hình, sông ngòi, kênh rạch và các yếu tố tự  
nhiên khác; các yếu tố này chi phối hoặc hạn chế khả năng tạo lập  
các đường thẳng hay lối tắt của mạng lưới đường. Mạng lưới này,  
ngoài ra, còn được tổ chức có chủ đích nhắm tới việc cảm thụ và  
thưởng ngoạn cảnh quan đường phố hấp dẫn hơn. Dạng này kết  
hợp với nhiều khu vực biệt lập, kiểm soát đầu ra vào dễ dàng lại  
thuận lợi trong trường hợp phong tỏa, cách ly mà không ảnh hưởng  
nhiều đến khu vực lân cận.  
4. Biến đổi ở quy mô nhỏ  
‐ Lô thửa  
Theo quy luật, việc gộp thửa để xây dựng dự án có quy mô lớn,  
phức hợp là xu thế tại các đô thị, thể hiện sự tập trung nguồn lực tài  
chính, hiệu quả sử dụng đất cao, đóng góp tích cực về môi trường.  
Việc hình thành các quy mô và tính chất lô thửa hiện nay chưa thấy  
rõ ảnh hưởng của dịch bệnh. Xu hướng ‘hỗn hợp’ vẫn khá phổ biến  
trong các dự án lớn nhỏ, biệt lập và xen kẽ các khu đô thị hiện hữu:  
sử dụng đất hỗn hợp và quy mô lô thửa hỗn hợp; lô lớn cho chung  
cư, công trình công cộng, thương mại dịch vụ tập trung, lô nhỏ cho  
nhà phố liên kề, biệt thự … Xu hướng gom và tách thửa vẫn diễn ra  
phức tạp tại nhiều khu vực. Trong tình hình dịch bệnh Covid-19, ảnh  
hưởng của việc tập trung đông người biểu hiện rõ hơn ở các lô thửa  
lớn, có hệ số sử dụng đất cao. Việc gom thửa cho những dự án quy  
mô lớn, tập trung đông người cần phải được xem xét khắc phục  
thông qua các giải pháp quy hoạch chi tiết, thiết kế công trình, quản  
lý sử dụng cũng như vận hành dự án.  
Mạng lưới đường dạng tự do phổ biến tại các nước đang phát  
triển và trải qua giai đoạn phát triển đô thị thiếu kiểm soát và quy hoạch  
manh mún. Người dân tự chia cắt các lô đất lớn, tạo lập thửa nhỏ và lối  
‐ Công trình  
Kiến trúc công trình là yếu tố nổi bật nhất trong đô thị với tỷ lệ  
chiếm chỗ lớn, là sản phẩm văn hóa thể hiện thành tựu khoa học kỹ  
06.2021  
119  
ISSN 2734-9888  
N G H I Ê N C Ứ U K H O A H Ọ C  
thuật công nghệ, trình độ nhận thức thẩm mỹ và bối cảnh xã hội  
thông qua các hoạt động mà nó chứa đựng. Do vậy, kiến trúc sư có  
xu hướng biến sản phẩm này thành ‘độc nhất vô nhị’, đặc sắc, mang  
tính biểu tượng. Sự cạnh tranh gay gắt tạo ra một công trình điểm  
nhấn diễn ra khắp mọi nơi, dưới nhiều góc độ: từ điểm nhấn về hình  
khối mang tính biểu trưng của thế kỷ 20, đến các công trình siêu cao  
tầng với hình khối và ứng dụng công nghệ xây dựng hiện đại nhất  
của thế kỷ 21. Bảng 1 cho thấy các công trình cao tầng nhất được  
xây dựng tại TP Hồ Chí Minh những năm gần đây.  
Bảng 1: Các công trình cao tầng, điểm nhấn đô thị tại Tp HCM (Nguồn: Tác giả tổng hợp)  
STT  
01  
02  
03  
04  
05  
06  
07  
08  
Tên công trình  
Landmark 81  
Saigon Centre 2  
Vietcombank Tower  
Saigon Times Square  
Bitexco Financial Tower  
Saigon Pearl  
Kumho Asiana Plaza  
Saigon Trade Center  
Số tầng  
81  
Chiều cao (m)  
461.3  
193.7  
206  
Năm hoàn thành  
2018  
Chức năng  
Thương mại dịch vụ, Nhà ở  
Thương mại dịch vụ  
Thương mại dịch vụ  
Thương mại dịch vụ  
42  
35  
40  
68  
36-38  
32  
33  
2017  
2015  
2012  
2010  
2009  
2009  
1997  
163.5  
262.5  
135  
110  
145  
Thương mại dịch vụ  
Thương mại dịch vụ, Nhà ở  
Thương mại dịch vụ, Nhà ở  
Thương mại dịch vụ  
Hình 10.1: Dãy chung cu cao tầng và lô nhà/biệt thự phố, điển hình cho khu đô thị  
mới phát triển hiện nay (Nguồn: tổng hợp)  
Hình 10.2: Bài báo giới thiệu giả thiết ‘người sống trong các tòa nhà  
cao tầng dễ bị lây nhiểm Covid (Nguồn: [11])  
Theo một nghiên cứu gần đây, người sống trong các tòa nhà cao  
tầng dễ bị lây nhiễm hơn do phải chia sẻ nhiều không gian: sảnh,  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
[1] Ian Bentley, 1999, Urban transformation, Power, People and Urban Design, Routledge  
[2] Ian Bentley và Vu Thi Hong Hanh, 2013, Responsive Urban design, Bài giảng khóa học ngắn,  
Đại học Kiến trúc tp HCM và Hội Kiến trúc sưtp HCM  
[3] Vu Thi Hong Hanh, 2013-2021, bài giảng học phần Đồán Hình thái không gian công cộng, học  
phần Đồ án Hình thái công trình nhà ở, Đại học kiến trúc thành phốHồChí Minh  
[4] Corona virus resource center - ĐH Y Khoa John Hopkin Hoa ky, 2021  
(https://coronavirus.jhu.edu/map.html)  
[5] Swiss Re Institute BES Index, FAO/World Bank 2020, NCFA 2020, Oxford Economics 2020  
natural-catastrophe-risk/expertise-publication-biodiversity-and-ecosystems-services.html  
thang máy, không gian dịch vụ sinh hoạt cộng đồng, hành lang  
[11]  
chung v.v  
. Nếu nghiên cứu này được củng cố bằng các minh  
chứng khoa học xác thực hơn, việc xây dựng các dự án cao tầng và  
siêu cao tầng cho mục đích ở có lẽ phải xem xét các giải pháp hạn  
chế lây nhiễm để thuyết phục khách hàng.  
Việc giới hạn đi lại, hoạt động làm việc tại nhà, nghỉ ngơi,  
sinh hoạt gia đình . . . tại nhà cũng làm thay đổi lối sống, nhu cầu  
không gian ở; khảo sát gần đây cho thấy, người ta cần không tiếp  
xúc với thiên nhiên nhiều hơn dù trong phạm vi căn hộ chung cư;  
không gian riêng và chung cần linh hoạt hơn để không ảnh hưởng  
đến các hoạt động khác nhau của các thành viên trong gia đình, v.v  
Lời kết  
[6]  
ecosystems-human-health-security/  
[7]. MarkEverard, PaulJohnston, DavidSantillo, ChadStaddon, 2020, The role of ecosystems in  
50% lao động sẽ phải được đào tạo- tự đào tại lại sau đại dịch[12]  
để có thể làm việc hòa nhập được với nhu cầu thay đổi, đó là dự báo  
đáng tin cậy. Bị tác động bởi 03 động lực, ít nhiều đang bị ảnh hưởng  
tiêu cực bởi Covid-19, quá trình biến đổi đô thị đang và sẽ biến đổi  
theo một cách ‘khác’ từ trước tới nay, mà trong đó rõ ràng nhất là  
các hoạt động đô thị. Thời gian dịch bệnh càng kéo dài, tác động  
này càng tiêu cực và nặng nề. Việc thay đổi ở nhiều góc độ và cấp  
độ liên quan cần được xem xét.  
Phát triển bền vững cần tích hợp các giải pháp chiến lược thích  
ứng nhanh với các đều kiện diễn biến bất ngờ của dịch bệnh nói  
riêng và các điều kiện bất lợi bất khả kháng khác nói chung trong  
công tác quy hoạch, xây dựng và tổ chức không gian, quản lý vận  
hành các hoạt động đô thị và thiết kế xây dựng công trình.  
mitigation  
and  
management  
of  
Covid-19  
and  
other  
zoonoses  
(https://doi.org/10.1016/j.envsci.2020.05.017)  
[ 8] EPA (2015). Inventory of U.S. Greenhouse Gas Emissions and Sinks: 1990-2013. U.S.  
Environmental Protection Agency (EPA).  
[9] U. S. Energy Information Administration/Monthly Energy Review, 2021, Total Consumption  
by End-Use Sector, 1949–2020  
[10] COVID-19 and clean air: an opportunity for radical change,  
[11] Michael Gormley, 2020, People in tall buildings may be more at risk of contracting COVID-  
19, Medical Express (https://medicalxpress.com/news/2020-04-people-tall-covid-safe.html)  
[12] World Economic Forum, Future of Job report, 2021.  
120  
06.2021  
ISSN 2734-9888  
pdf 5 trang yennguyen 7980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự biến đổi đô thị trong giai đoạn Covid-19", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_bien_doi_do_thi_trong_giai_doan_covid_19.pdf