So sánh hiệu quả khởi mê và tác dụng trên nhịp tim, huyết áp giữa gây mê kết hợp Propofol TCI với Ketamin và Etomidat với Sevofluran ở người cao tuổi

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
SO SÁNH HIỆU QUẢ KHỞI MÊ VÀ TÁC DỤNG  
TRÊN NHỊP TIM, HUYẾT ÁP GIỮA GÂY MÊ KẾT HỢP  
PROPOFOL TCI VỚI KETAMIN VÀ ETOMIDAT  
VỚI SEVOFLURAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI  
Nguyễn Thị Thanh Huyền¹, Nguyễn Hữu Tú²  
,
1Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương  
2Trường Đại học Y Hà Nội  
Mục tiêu nghiên cứu này nhằm so sánh thời gian khởi mê và ảnh hưởng trên nhịp tim, huyết áp khi khởi  
mê bằng propofol TCI kết hợp với Ketamin và Etomidat kết hợp với Sevofluran ở người cao tuổi. Tổng số  
gồm 150 bệnh nhân ≥ 60 tuổi, ASA I-II được ngẫu nhiên chia làm ba nhóm: nhóm 1 gồm 50 bệnh nhân  
được khởi mê bằng Propofol TCI (Target Controlled Infusion) đặt nồng độ đích tại huyết tương (Cp - plasma  
concentration) kết hợp Ketamin 0,3 mg/kg; nhóm 2 gồm 50 bệnh nhân được khởi mê bằng Propofol TCI đặt  
nồng độ đích tại não (Ce - effect site concentration) kết hợp Ketamin 0,3 mg/kg; nhóm 3 gồm 50 bệnh nhân  
được khởi mê bằng Etomidat 2mg/ml truyền tĩnh mạch tốc độ 150 ml/giờ. Cả ba nhóm cùng kết hợp Fentanyl  
3µg/kg; Esmeron 0,8mg/kg để đặt ống nội khí quản (NKQ). Kết quả cho thấy thời gian chờ mất tri giác, đủ  
điều kiện đặt ống NKQ, thời gian khởi mê của nhóm 3 ngắn hơn so với nhóm 1 và nhóm 2 (p < 0,001). Nhịp  
tim, huyết áp tâm thu, huyết áp động mạch trung bình tại thời điểm mất tri giác (T1), trước khi đặt ống NKQ  
(T2) của cả ba nhóm đều giảm so với trước khởi mê và mức độ giảm tương đương nhau, tuy nhiên sau khi đặt  
ống NKQ tần số tim, huyết áp tâm thu, huyết áp động mạch trung bình của nhóm 3 cao hơn so với nhóm 1,  
nhóm 2 và cao hơn so với thời điểm trước khi khởi mê. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Khởi  
mê bằng Propofol TCI kết hợp Ketamin ở người cao tuổi có thời gian khởi mê dài hơn nhưng ít gây biến đổi  
về nhịp tim, huyết áp do phản ứng của người bệnh với thủ thuật đặt NKQ hơn so với khởi mê bằng Etomidat.  
Từ khóa: Gây mê bệnh nhân cao tuổi, propofol - TCI, ketamin.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Hiện nay tuổi thọ trung bình của con người  
trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng  
tăng do đó số bệnh nhân cao tuổi có chỉ định  
gây mê phẫu thuật ngày càng nhiều.¹ Tuy nhiên  
gây mê hồi sức cho người cao tuổi gặp nhiều  
khó khăn bởi những thay đổi về sinh lý và bệnh  
lý. Giai đoạn khởi mê là giai đoạn có nhiều biến  
động đặc biệt là về huyết động. Thay đổi huyết  
động có thể là trụy tim mạch khi mê quá sâu  
hay tăng vọt mạch, huyết áp khi mê chưa đủ  
làm tăng nguy cơ thiếu máu vành, tăng nguy  
cơ tai biến mạch não hay nặng thêm bệnh phối  
hợp kèm theo.2,3  
Phương pháp gây mê qua hệ thống bơm  
tiêm truyền kiểm soát nồng độ đích TCI (Target  
Controlled Infusion) mô hình Schnider với  
Propofol được coi là phương pháp gây mê  
có nhiều ưu điểm như mê nhanh, êm dịu, tỉnh  
nhanh, chất lượng tỉnh tốt và thường được sử  
dụng để gây mê cho người cao tuổi. Có hai loại  
nồng độ đích bao gồm nồng độ đích trong huyết  
tương (Cp - plasma concentration) và nồng độ  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thanh Huyền,  
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương  
Ngày nhận: 13/09/2020  
Ngày được chấp nhận: 20/10/2020  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
131  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
đích trong não (Ce - effect site concentration).  
Mặc dù nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng gây mê  
bằng TCI là cách thức ít gây thay đổi huyết động  
nhất đối với việc sử dụng propofol, tuy nhiên  
theo nghiên cứu của Đỗ Ngọc Hiếu (2012) khi  
khởi mê bằng propofol TCI-Cp ở người cao tuổi  
huyết áp tối đa vẫn giảm đến 28% - 30% so với  
huyết áp nền.⁴  
Tiêu chuẩn lựa chọn:  
- Tuổi ≥ 60, ASA I - II, gây mê NKQ, phẫu  
thuật theo chương trình.  
- Kết quả xét nghiệm công thức máu, sinh  
hóa máu, chức năng gan, thận siêu âm tim  
trong giới hạn bình thường.  
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ:  
Ketamin là thuốc mê tĩnh mạch duy nhất có  
tác dụng kích thích hệ tim mạch do tác dụng  
kích thích giao cảm, tăng catecholamine lưu  
hành gây tăng mạch, huyết áp, nhịp tim và cung  
lượng tim. Etomidat là một thuốc mê tĩnh mạch  
ít ảnh hưởng đến huyết động, thường được  
lựa chọn để khởi mê ở bệnh nhân có rối loạn  
hay có nguy cơ rối loạn huyết động. Tuy nhiên  
thuốc cũng có nhược điểm là gây đau khi tiêm,  
khởi phát ổ động kinh từ trước, có các cử động  
bất thường… và đặc biệt thuốc gây ức chế sự  
bài tiết hormone của vỏ thượng thận kể cả khi  
dùng một liều duy nhất.5,6 Vì vậy, chúng tôi tiến  
hành đề tài “So sánh hiệu quả khởi mê và tác  
động trên nhịp tim, huyết áp giữa gây mê kết  
hợp Propofol – TCI với Ketamin và Etomidat  
với Sevofluran ở người cao tuổi” nhằm 2  
mục tiêu: (1) So sánh hiệu quả khởi mê giữa  
Propofol-TCI-Cp hoặc Propofol-TCI- Ce cùng  
kết hợp với Ketamin và Etomidat kết hợp với  
Sevofluran ở người cao tuổi. (2) So sánh ảnh  
hưởng trên nhịp tim và huyết áp khi khởi mê  
giữa Propofol-TCI-Cp hoặc Propofol-TCI-Ce  
cùng kết hợp với Ketamin và Etomidat kết hợp  
với Sevofluran ở người cao tuổi.  
- Có bệnh lý về thần kinh (động kinh, phẫu  
thuật sọ não, u não).  
- Bệnh nhân có dị ứng với Propofol, Ketamin,  
Esmeron, Fentanyl.  
- Bệnh nhân đặt NKQ khó, BN cần đặt NKQ  
nhanh.  
2. Phương pháp  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp  
ngẫu nhiên mù đơn có so sánh.  
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2017  
đến tháng 11 năm 2019  
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến  
hành tại Khoa Gây mê Hồi sức và Chống đau,  
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.  
Phương pháp chọn mẫu: Bệnh nhân được  
chọn ngẫu nhiên vào 1 trong 3 nhóm đối tượng  
nghiên cứu (nhóm 1, 2,3) bằng phương pháp  
bốc thăm khi vào phòng mổ.  
Phương tiện gây mê và theo dõi:  
Mornitor Spacelabs Ultraview SL: Theo dõi  
nhịp tim, huyết áp động mạch xâm lấn, ECG,  
SpO2.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Gồm 150 BN ≥ 60 tuổi có chỉ định gây mê  
NKQ, phẫu thuật tại Khoa Gây mê hồi sức và  
chống đau Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.  
Hình 1. Máy TCI của hãng Atra-Zeneca  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
132  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
theo dõi liên tục tri giác và BIS. Ngừng truyền  
Etomidat khi BIS dưới 60.  
Ở cả 3 nhóm: Tiêm Esmeron 0,8 mg/kg  
ngày khi bệnh nhân bị mất tri giác (mất phản xạ  
mi mắt). Theo dõi độ giãn cơ bằng TOF-Scan  
mỗi 15 giây. Khi TOF không có đáp ứng thì bắt  
đầu đặt NKQ.  
Hình 2. Thiết bị đo độ giãn cơ (TOF- Scan)  
Duy trì mê bằng propofol-TCI ở nhóm 1, 2,  
bằng Sevofluran ở nhóm 3. Chỉ số BIS được  
duy trì trong khoảng 40 - 60, chỉ số TOF duy trì  
dưới hai đáp ứng với kích thích chuỗi 4.  
Khi có tụt huyết áp, cho bệnh nhân nằm đầu  
thấp, chân cao, truyền dịch Voluven, cho thuốc  
Ephedrin 3-6mg tĩnh mạch. Nhắc lại sau 5 phút  
nếu huyết áp chưa về mức bình thường.  
Tụt huyết áp là khi huyết áp tâm thu giảm >  
20% huyết áp tâm thu nền. Nhịp tim ≤ 55 lần/  
phút được điều trị bằng Atropin 0,5mg tiêm tĩnh  
mạch.  
Hình 3. Thiết bị theo dõi BIS  
Quy trình nghiên cứu:  
- Tiền mê: Fentanyl 3 µg/kg tiêm tĩnh mạch  
trước khởi mê 2 phút.  
- Khởi mê:  
Nhóm 1: Sử dụng Propofol-TCI - Cp kết  
hợp với Ketamin: Nhập các số đo chiều cao  
(m); cân nặng (kg); tuổi (năm), giới của bệnh  
nhân. Đặt nồng độ đích tại huyết tương ban  
đầu Cp=1,2 µg/ml, tiêm Ketamin liều 0,3 mg/  
kg ngay trước khi truyền Propofol. Sau khi Cp  
đạt 1,2 µg/ml mà BIS chưa giảm xuống dưới  
60, tăng thêm 0,3µg/ml mỗi 2 phút đến khi BIS  
giảm xuống dưới 60 thì duy trì mê ở nồng độ  
đó.  
Biến số nghiên cứu: Số liệu được thu thập  
theo các nhóm biến số nghiên cứu sau:  
- Nhóm biến số về đặc điểm bệnh nhân:  
tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, BMI, ASA, bệnh  
phẫu thuật, bệnh kèm theo.  
- Các biến số cho mục tiêu 1:  
(1)Thời gian mất tri giác (mất phản xạ mi  
mắt): từ khi bắt đầu khởi mê đến khi mất tri  
giác (giây);  
(2) Thời gian chờ đặt ống NKQ: BIS ≤ 60 và  
TOF = 0 (giây);  
Nhóm 2: Sử dụng Propofol-TCI -Ce kết  
hợp Ketamin: Nhập các số đo chiều cao (mét);  
cân nặng (kg); tuổi (năm), giới của bệnh nhân.  
Đặt nồng độ đích tại não ban đầu Ce 1,2 µg/  
ml. Tiêm Ketamin liều 0,3 mg/kg ngay trước khi  
truyền Propofol. Nếu Ce đạt mức 1.2 µg/ml mà  
BIS vẫn chưa giảm xuống dưới 60, tăng thêm  
0,3 µg/ml mỗi 2 phút đến khi BIS giảm xuống  
dưới 60 thì duy trì ở nồng độ mê đó.  
(3) Thời gian khởi mê (giây): từ lúc bắt đầu  
khởi mê đến khi đặt xong ống NKQ;  
- Các biến số cho mục tiêu 2:  
(1) Nhịp tim (lần/phút);  
(2) Huyết áp động mạch tâm thu (mmHg);  
(3) Huyết áp động mạch tâm trương  
(mmHg);  
(4) Huyết áp động mạch trung bình (mmHg);  
(5) Thuốc điều trị tụt huyết áp, nhịp tim  
chậm: lượng Ephedrin, Atropin (mg) đã dùng  
trong khởi mê.  
Nhóm 3: Sử dụng Etomidat khởi mê kết  
hợp sevofluran để duy trì mê.  
Khởi mê bằng Etomidat dung dịch thuốc  
2mg/ml, truyền bơm tiêm điện tốc độ 150ml/h,  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
133  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
3. Xử lý số liệu  
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.  
Số liệu được xử lý theo các thuật toán thống  
kê y học bằng phần mềm SPSS 19.0. Kết quả  
được trình bày dưới dạng trung bình, độ lệch  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Đề tài đã được thông qua Hội đồng Đạo đức  
trong Nghiên cứu Y sinh Trường Đại học Y Hà  
Nội số 187/HĐĐĐĐHYHN ngày 20 tháng 02  
năm 2016.  
chuẩn ( X ± SD), tỷ lệ %. So sánh các tỷ lệ bằng  
test χ². So sánh giá trị trung bình bằng test T.  
III. KẾT QUẢ  
1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Nhóm 1  
(n = 50)  
Nhóm 2  
(n = 50)  
Nhóm 3  
(n = 50)  
Đặc điểm BN  
Tuổi (năm)  
P
68,32 ± 6,43  
67,20 ± 6,34  
70,20 ± 8,30  
0,10  
0,99  
0,92  
0,62  
0,41  
Cân nặng(kg)  
Chiều cao(m)  
BMI  
53,58 ± 9,00  
1,55 ± 0,07  
22,11 ± 3,52  
27 (54%)  
53,70 ± 8,47  
1,56 ± 0,07  
21,87 ± 2,57  
19 (38%)  
53,70 ± 9,16  
1,56 ± 0,10  
23,74 ± 1,73  
21 (31,3%)  
13 (26%)  
Bệnh tăng HA kèm theo  
I
12 (24%)  
18 (36%)  
ASA  
0,36  
0,1  
II  
38 (76%)  
32 (64%)  
37 (74%)  
Nam  
16 (32%)  
25 (50%)  
23 (46%)  
Giới  
nữ  
34 (68%)  
25 (50%)  
27 (54%)  
Đặc điểm về tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, BMI, bệnh tăng huyết áp kèm theo và ASA giữa ba  
nhóm không có sự khác biệt.  
Bảng 2. Thời gian mất tri giác, thời gian chờ đặt nội khí quản, thời gian khởi mê  
của ba nhóm  
Nhóm NC  
Nhóm 1 (n = 50) Nhóm 2 (n = 50) Nhóm 3 (n = 50)  
P
Thời điểm  
203,96 ± 100,2  
(89 - 560)  
163,2 ± 58,3  
(90 - 313)  
128,76 ± 51,3  
(55 - 294)  
Thời gian mất tri giác (giây)  
(min – max)  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
547,36 ± 183,14 452,58 ± 115,66  
(285 - 960) (233 - 849)  
327,22 ± 68,17  
(240 - 540)  
Thời gian chờ đặt NKQ  
(giây) (min – max)  
605,06 ± 188,08 525,36 ± 129,94  
(340 - 1000) (292 - 920)  
385,62 ± 72,23  
(290 - 590)  
Thời gian khởi mê (giây)  
(min – max)  
Thời gian từ khi bắt đầu khởi mê đến khi mất tri giác, chờ đặt ống nội khí quản của nhóm 3 ngắn  
nhất sau đến nhóm 2, nhóm 1, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
134  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 3. Sự thay đổi nhịp tim tại các thời điểm  
Thời điểm  
T0  
T1  
T2  
T3  
T4  
Nhóm NC  
Nhóm 1  
78,6 ± 13,4 71,6 ± 12,5* 70,8 ± 12,0* 84,8 ± 14,7* 73,7 ± 10,9  
X
± SD (lần/phút)  
(n = 50)  
Giảm so với T0 (%)  
8,5 ± 10,0  
75,2 ± 11,4 67,6 ± 10,8* 68,8 ± 10,6* 81,0 ± 11,9*  
9,4 ± 12,2 7,7 ± 12,1 - 8,7 ± 14,7  
9,1 ± 12,7  
- 9,3 ± 19,7  
4,9 ± 13,8  
72,3 ± 9,7  
2,9 ± 11,7  
X
Nhóm 2  
(n = 50)  
± SD (lần/phút)  
Giảm so với T0 (%)  
79,4 ± 13,5 74,5 ± 13,1* 73,6 ± 13,1* 92,4± 12,5* 79,6 ± 13,2  
X
Nhóm 3  
(n = 50)  
± SD (lần/phút)  
Giảm so với T0 (%)  
5,8 ± 8,3  
0,20  
6,6 ± 12,6  
0,13  
-16,6 ± 16,0 - 1,1 ± 12,9  
0,000 0,004  
P
0,22  
T0: trước khởi mê; T1: mất tri giác; T2: trước đặt NKQ; T3: ngay sau đặt NKQ; T4: sau đặt NKQ 5  
phút.  
*: p < 0,05 so sánh với trước gây mê  
Sau tiêm thuốc mê tần số tim của cả ba nhóm đều giảm so với T0 và không có sự khác biệt giữa  
3 nhóm. Tại thời điểm 1 phút và 5 phút sau khi đặt ống NKQ tần số tim của nhóm 3 tăng hơn so với  
nhóm 1 và 2. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.  
Bảng 4. Sự thay đổi huyết áp tâm thu tại các thời điểm nghiên cứu  
Thời điểm  
T0  
T1  
T2  
T3  
T4  
Nhóm NC  
139 ± 18,1  
127,9 ± 21,1*  
7,7 ± 11,6  
127,8 ± 21,3*  
7,0 ± 14,4  
128,0 ± 21,6*  
4,8 ± 9,4  
96,1 ± 16,0*  
26,9 ± 13  
134,1 ± 23,4  
2,4 ± 17,8  
131,6 ± 26,2  
3,4 ± 22  
110,4 ± 17,7*  
19,7 ± 13,8  
112,7 ± 15,4*  
17,6 ± 13,6  
128,4 ± 20,4  
3,5 ± 16,2  
X
Nhóm 1  
(n = 50)  
± SD (mmHg)  
Giảm so với T0 (%)  
138,6 ±  
18,8  
99,1 ± 18,4*  
24,5 ± 15,4  
104,5 ± 24,2*  
22,1 ± 14,4  
0,1  
X
Nhóm 2  
(n = 50)  
± SD (mmHg)  
Giảm so với T0 (%)  
134,8 ± 1,1  
151,4 ± 24*  
- 13,4 ± 16,5  
0,000  
X
Nhóm 3  
(n = 50)  
± SD (mmHg)  
Giảm so với T0 (%)  
P
0,5  
1,0  
0,000  
T0: trước khởi mê; T1: mất tri giác; T2: trước đặt NKQ; T3: ngay sau đặt NKQ; T4: sau đặt NKQ 5  
phút;  
*: p < 0,001 so sánh với trước gây mê  
Huyết áp tâm thu tại các thời điểm trước khởi mê, mất tri giác, trước đặt NKQ giữa ba nhóm  
không có sự khác biệt. Tại thời điểm ngay sau đặt ống NKQ, huyết áp tâm thu của nhóm 3 cao hơn  
nhóm 1,2 và cao hơn so với T0, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
135  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 5. Sự thay đổi huyết áp động mạch trung bình tại các thời điểm nghiên cứu  
Thời điểm  
T0  
T1  
T2  
T3  
T4  
Nhóm NC  
98,7 ± 12,7 92,3 ± 15,2  
6,3 ± 10,6  
72,8 ± 11,0  
25,1 ± 13,4  
75,1 ± 13,3  
22,8 ± 15,1  
79,6 ± 16,7  
17,5 ± 16,6  
0,058  
100,0 ± 15,7  
- 2,3 ± 16,9  
97,9 ± 16,4  
- 0,5 ± 18,3  
111,9 ± 16,9*  
- 17,7 ± 17,8  
0,000  
80,8 ± 11,3  
17,2 ± 13,3  
83,0 ± 9,7  
14,7 ± 12,2  
94,5 ± 14,1  
0,2 ± 16,6  
0,000  
X
± SD (mmHg)  
Nhóm 1  
Giảm so với T0 (%)  
98,4 ± 11,3 91,4 ± 12,7  
6,6 ± 11,3  
X
± SD (mmHg)  
Nhóm 2  
Nhóm 3  
Giảm so với T0 (%)  
95,9 ± 13,3 91,6 ± 13,2  
3,9 ± 11,0  
X
± SD (mmHg)  
Giảm so với T0 (%)  
P
0,486  
0,941  
T0: trước khởi mê; T1: mất tri giác; T2: trước  
đặt NKQ; T3: ngay sau đặt NKQ; T4: sau đặt  
NKQ 5 phút.  
là 4 µg/ml. Kết quả: Thời gian khởi mê ở nhóm  
2 nhanh hơn nhóm 1 (104 ± 7,2 giây so với 237  
± 16,8 giây) với p < 0,01. Tuy nhiên thời gian  
khởi mê trong nghiên cứu này ngắn hơn chúng  
tôi vì đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân (BN)  
từ 16 đến 65 tuổi nên tác giả đặt nồng độ đích  
cao ngay (4 µg/ml) còn đối tượng nghiên cứu  
của chúng tôi là BN cao tuổi nên chúng tôi đặt  
nồng độ đích ban đầu thấp sau đó tăng dần.  
Tác giả Yong – Kwon Ko⁸ khi so sánh  
thời gian chờ đủ điều kiện đặt ống NKQ khi  
gây mê bằng Propofol 2 mg/kg (nhóm P) và  
Etomidat 0,3 mg/kg (nhóm E) có dùng giãn  
cơ Cisatrancurium cho thấy: Thời gian chờ đủ  
điều kiện đặt ống của nhóm E ngắn hơn nhóm  
P (155,74 ± 32,92 so với 185,26 ± 38,57 giây,  
p = 0,008). Lý giải kết quả này theo tác giả là  
do nhóm E có huyết áp tại các thời điểm sau  
gây mê cao hơn nhóm P nên các thuốc giãn  
cơ được đưa tới các synap thần kinh cơ nhanh  
hơn từ đó làm cho thời gian chờ tác dụng  
của thuốc giãn cơ ngắn hơn. Tuy nhiên, trong  
nghiên cứu của chúng tôi, huyết áp tại các thời  
điểm sau gây mê giữa 03 nhóm không có sự  
khác biệt, sở dĩ thời gian chờ mất tri giác, thời  
gian chờ đặt NKQ, thời gian khởi mê của nhóm  
3 ngắn hơn nhóm 1 và 2 là do chúng tôi đặt  
nồng độ đích của nhóm 1 và nhóm 2 ở mức  
*: p < 0,001 so sánh với trước gây mê  
Huyết áp động mạch trung bình tại các thời  
điểm trước khởi mê, mất tri giác, trước đặt NKQ  
giữa ba nhóm không có sự khác biệt. Tại thời  
điểm ngay sau đặt ống NKQ, huyết áp tâm thu  
của nhóm 3 cao hơn nhóm 1, nhóm 2 và cao  
hơn so với T0, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
với p < 0,001.  
IV. BÀN LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả ba nhóm  
đều có sự tương đồng về giới, chiều cao, cân  
nặng, ASA, chỉ số BMI, tỷ lệ người bệnh có  
bệnh lý tăng huyết áp kèm theo. Thời gian chờ  
mất tri giác, thời gian chờ đặt ống NKQ của  
nhóm 3 ngắn hơn so với nhóm 1 và nhóm 2,  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.  
Trong nghiên cứu này, điều kiện đặt ống NKQ  
bao gồm: BIS ≤ 60 và TOF = 0. Kết quả nghiên  
cứu của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu  
của Nguyễn Quốc Khánh⁷ khi tiến hành so sánh  
hai nhóm: nhóm 1 được khởi mê bằng Propofol  
TCI kiểm soát nồng độ đích tại huyết tương,  
nhóm 2 được khởi mê bằng Propofol kiểm soát  
nồng độ đích tại não, đặt nồng độ đích ban đầu  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
136  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
thấp và tăng dần, còn nhóm 03 chúng tôi truyền  
Etomidat tốc độ 150 ml/h liên tục cho đến khi  
BIS < 60, do đó thời gian chờ tác dụng của  
nhóm 3 ngắn hơn.  
đều giảm, giảm nhiều nhất tại thời điểm trước  
khi đặt ống NKQ so với trước khi khởi mê, tuy  
nhiên sự khác biệt về chỉ số huyết áp tâm thu,  
huyết áp tâm trương, huyết áp trung bình tại  
các thời điểm: trước khi khởi mê (T0) mất tri  
giác (T1), trước khi đặt NKQ (T2) giữa 3 nhóm  
không có sự khác biệt. Tuy nhiên, tại thời điểm  
ngay sau đặt ống NKQ (T3), huyết áp tâm thu,  
huyết áp trung bình của nhóm 3 tăng hơn so với  
nhóm 1, nhóm 2 và tăng hơn so với thời điểm  
trước khởi mê, sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê với p < 0,001.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng như  
nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hà⁹, Đỗ Ngọc  
Hiếu⁴ hay của Liu10, nhịp tim đều giảm ở thời  
điểm mất tri giác và thời điểm trước khi đặt ống  
NKQ. Có lẽ do tác dụng của các thuốc gây mê  
Propofol, Etomidat đồng thời cũng do BN dần  
đi vào mất tri giác và không còn lo lắng căng  
thẳng như trước khi gây mê, phẫu thuật. Tuy  
nhiên, tại thời điểm sau đặt ống NKQ nhịp tim  
của nhóm 3 tăng hơn so với nhóm 1, nhóm 2 và  
tăng hơn so với thời điểm T0 với tỷ lệ tăng trung  
bình so với T0 là 16,6%, trong đó có 20/50 BN  
nhóm 3 có tỷ lệ tăng nhịp tim > 20% so với T0  
trong khi số lượng BN này ở nhóm 1 và 2 đều  
là 11/50 BN, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
với p < 0,05.  
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Kavita  
Meena và cộng sự11 cho thấy tại thời điểm 1  
phút sau khi đặt ống NKQ huyết áp tâm thu  
của nhóm khởi mê bằng Etomidat (133,87  
± 5,7 mmHg) cao hơn so với nhóm khởi mê  
bằng Propofol (111,77 ± 6,4 mmHg) và nhóm  
Propofol kết hợp Ketamin (130,57 ± 4,8 mmHg)  
với p< 0,001. Huyết áp trung bình tại thời điểm  
sau đặt ống NKQ 1 phút của nhóm khởi mê  
bằng Etomidat (95,95 ± 4 mmHg) cũng cao hơn  
so với nhóm khởi mê bằng Propofol (81,67 ±  
3,6 mmHg) và nhóm Propofol kết hợp Etomidat  
(92,77 ± 4,0 mmHg), với p < 0,001.  
Afshin Gholipour Baradari và cộng sự12  
nghiên cứu trên 120 BN tuổi từ 18 đến 45  
tuổi, chia làm 03 nhóm: nhóm 1 khởi mê bằng  
Etomidat 0,3 mg/kg, nhóm 2 khởi mê bằng  
Prpopfol 1,5 mg/kg phối hợp với Ketamin 0,5  
mg/kg; nhóm 3 khởi mê bằng Thiopental 3mg/  
kg phối hợp với Ketamin 0,5 mg/kg cho thấy:  
tại thời điểm 1 phút sau đặt ống NKQ nhịp tim,  
huyết áp tâm thu, huyết áp trung bình của nhóm  
Etomidat cao hơn so với các nhóm còn lại và  
cao hơn so với trước khi gây mê, sự khác biệt  
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tác giả kết  
luận: sự phối hợp giữa Propofol với Ketamin khi  
gây mê sẽ làm giảm sự biến đổi huyết động khi  
soi thanh quản và đặt nội khí quản, giúp huyết  
động của người bệnh ổn định hơn.  
Tác giả Kavita Meena và cộng sự nghiên  
cứu trên 90 BN được phẫu thuật theo kế hoạch  
tuổi từ 15 đến 60 tuổi chia ngẫu nhiên làm 03  
nhóm: nhóm I được gây mê bằng Propofol  
2mg/kg; nhóm 2 được gây mê bằng Etomidat  
0,3 mg/kg; nhóm 3 gây mê bằng Propofol 1 mg/  
kg kết hợp với Etomidat 0,2 mg/kg. Kết quả: tần  
số tim đều giảm ở cả ba nhóm sau gây mê, sau  
đặt ống NKQ tần số tim của cả ba nhóm đều tng  
nhưng nhóm 2 tăng nhiều hơn so với nhóm 1  
và nhóm 3, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
p < 0,001. Như vậy, qua các nghiên cứu trên  
cho thấy thấy khởi mê bằng Propofol hạn chế  
được sự tăng nhịp tim sau đặt ống NKQ hơn  
so với khởi mê bằng Etomidat và sự kết hợp  
Propofol với Ketamin giúp làm ổn định nhịp tim  
hơn so với khởi mê bằng Etomidat trong suốt  
quá trình khởi mê và đặt ống NKQ.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, cả ba  
nhóm sau khi truyền thuốc mê huyết áp tâm  
thu, huyết áp tâm trương, huyết áp trung bình  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
137  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Pharmacology of Etomidate. NIH Public Access,  
Anesthesiology, 2011; 114(3): 695 – 707.  
V. KẾT LUẬN  
Thời gian chờ mất tri giác, đủ điều kiện đặt  
ống NKQ, thời gian khởi mê của nhóm 3 ngắn  
hơn nhóm 1 và nhóm 2. Thời gian khởi mê của  
nhóm 1,2,3 lần lượt là: 605,0 giây; 525,3 giây;  
385,6 giây. Sau đặt ống NKQ nhịp tim trung  
bình của nhóm 3 (92,4 ± 12,5 lần/phút) tăng  
hơn so với nhóm 1 (84,8 ± 14,7 lần/phút) và  
nhóm 2 (81,0 ± 11,9 lần/phút); huyết áp tâm thu  
tại các thời điểm: trước khởi mê (T0), mất tri giác  
(T1), trước đặt nội khí quản (T2), của ba nhóm  
như nhau. Sau đạt ống 1 phút huyết áp tâm thu  
trung bình của nhóm 3 (151,4 ± 24,0 mmHg)  
cao hơn nhóm 1 (134,1 ± 134,1 mmHg), nhóm  
2 (131,6 ± 26,2 mmHg). Huyết áp trung bình  
của nhóm 3 tại thời điểm sau đặt ống 1 phút và  
5 phút (111,9 ± 16,9 mmHg; 94,5 ± 14,1 mmHg)  
cao hơn nhóm 1 (100,0 ± 15,7 mmHg; 80,8 ±  
11,3 mmHg), nhóm 2 (97,9 ± 16,4 mmHg; 83,0  
± 9,7 mmHg). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
với p < 0,001.  
6. Melissa L. Thompson Bastin, Pharm D.  
Effects of Etomidate on Adrenal Suppression:  
A Review of Intubated Septic Patients. Hosp  
Pharm, 2014; 49(2), p:177 – 183.  
7. Nguyễn Quốc Khánh . Khởi mê bằng  
propofol: kiểm soát nồng độ đích hay huyết  
tương. Tạp chí Y dược lâm sàng 108, 2010; tập  
5- Số 6/2010, p 85 - 89.  
8. Young-Kwon Ko, Yoon-Hee Kim, Sang-  
Il Park, Woo Suk Chung, Chan Noh and Jung-  
Un Lee. Comparison of etomidate and propofol  
on intubating conditions and the onset time  
associated with cisatracurium administratio.  
Korean J Anesthesiol 2015 April, 2015; 68(2):  
136-140).  
9. Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Hữu Tú. Đánh  
giá hiệu quả khởi mê, thoát mê và tác động lên  
tuần hoàn khi khởi mê bằng propofol TCI kết  
hợp với ketamin ở người cao tuổi. Luận văn tốt  
nghiệp bác sỹ nội trú chuyên ngành Gây mê Hồi  
sức trường Đại học y Hà Nội, 2015..  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
10. Liu Shao-hua, WEI Wei, DING Guan-  
nan, KE Jing-dong, HONG Fang-xiao and TIAN  
Ming. Relationship between depth of anesthesia  
and effect-site concentration of propofol during  
induction with the target-controlled infusion  
technique in elderly patients. Chinese Medical  
Journal. 2009; 122 (8): 935-940..  
1. World Health Statistics, World Health  
Organization, WHO. The technical health  
information is based on data accurate with respect  
to the year indicated; 2015.  
2. Karen G. Scandrett, Brian S. Zuckerbraun,  
Andrew B. Peitzman. Operative risk stratification  
in the older adul. Surgical Clinics North Am, 2015;  
95(1), p 149 – 172.  
11. Kavita Meena, Rajesh Meena, Sudhansu  
Sekhar Nayak, Shashi Prakash and Ajit Kumar.  
A Comparative Study of Effect of Propofol,  
Etomidate and Propofol Plus Etomidate Induction  
on Hemodynamic Response to Endotracheal  
Intubation: A RCT. Journal of Anesthesia &  
Clinical Research; 2016, 7:5..  
3. David J Chambers, Martin WB Allan.  
Anaesthesia in the elderly. Anaesthesia and  
Intensive Care Medicine, 2017; Volume 18, Issue  
1, page 22 – 26.  
4. Đỗ Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Tú . Đánh giá  
sự thay đổi một số chỉ số huyết động và thời gian  
chờ đặt nội khí quản khi khởi mê sử dụng propofol  
- TCI hoặc Etomidat ở người cao tuổi. Luận văn  
thạc sỹ y học, trường Đại học y Hà Nội 2012.  
5. Stuart A. Forman. Clinical and Molecular  
12. Afshin Gholipour Baradari, Abolfazl  
Firouzian, Alieh Zamani Kiasari. Effect of  
Etomidate Versus Combination of Propofol-  
Ketamine  
and  
Thiopental-Ketamine  
on  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
138  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Hemodynamic Response to Laryngoscopy and  
Intubation: A Randomized Double Blind Clinical  
Trial. Anesthesiology and Pain Medicine, 2016;  
6(1); e30071  
Summary  
COMPARISON OF THE EFFECTS OF PROPOFOL TCI  
WITH KETAMIN AND ETOMIDAT WITH SEVOFLURAN ON  
ANESTHESIA, HEART RATE AND BLOOD PRESSURE  
IN ELDERLY PATIENTS  
The primary objective of this study was to compare the duration of anesthesia and the effects on  
heart rate, blood pressure during anesthesia with propofol TCI combined with Ketamine and Etomidat  
combined with Sevofluran in the elderly.A total of one hundred and fifty patients over 60 years old,  
ASA I and II undergoing general anesthesia and endotracheal intubation for elective surgery, were  
randomized to three groups: Group 1 induced with Propofol TCI-Cp combined Ketamin 0.3 mg/kg (n  
= 50), Group 2 induced with Propofol TCI-Ce combined Ketamin 0.3 mg/kg (n = 50); Group 3 induced  
with Etomidat 2mg/ml intravenous rate 150 ml / hour (n = 50). All three groups received fentanyl 3 µg/  
kg + esmeron 0.8mg/kg. Results: The average onset time of lost senses, intubation and anesthesia of  
group 3 was shorter than that of group 1 and group 2 (p < 0.001). There were no group differences in  
HR, SBP, MAP following intravenous anesthetic drug injection and endotracheal intubation. However  
HR, SBP, MAP were substantially higher in group E after endotracheal intubation.Anesthesia with  
Propofol TCI combined with Ketamin in the elderly has a longer time of anesthesia, but less changes  
in heart rate and blood pressure response to endotracheal intubation than with etomidat anesthesia.  
Key words: Anaesthesia elderly population, TCI propofol, ketamin  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
139  
pdf 9 trang yennguyen 23360 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hiệu quả khởi mê và tác dụng trên nhịp tim, huyết áp giữa gây mê kết hợp Propofol TCI với Ketamin và Etomidat với Sevofluran ở người cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_hieu_qua_khoi_me_va_tac_dung_tren_nhip_tim_huyet_ap.pdf