Kiến thức về phòng ngừa hội chứng chuyển hoá ở người cao tuổi thành phố Cần Thơ

Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
KIẾN THỨC VỀ PHÒNG NGỪA HỘI CHỨNG CHUYỂN HOÁ  
Ở NGƯỜI CAO TUỔI THÀNH PHỐ CẦN THƠ  
Ngô Kim Phụng*, Nguyễn Trung Kiên*  
TÓMTẮT  
Mở đầu: Ngày nay chúng ta đối mặt với rất nhiều loại bệnh, đa số hội chứng lâm sàng xảy ra trên  
người cao tuổi (NCT). Vì thế nghiên cứu về những thay đổi hình thái, chức năng ở lứa tuổi này là hết sức  
cần thiết. Một trong những thay đổi quan trọng ở NCT là thay đổi về chuyển hoá được đề cập trong hội  
chứng chuyển hoá (HCCH).  
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ người cao tuổi có kiến thức đúng về phòng ngừa hội chứng chuyển hóa tại  
thành phố Cần Thơ.  
Đối tượng: 673 người cao tuổi tại thành phố Cần Thơ được chọn từ 4 phường và 4 xã tại thành phố  
Cần Thơ.  
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Số liệu được xử lý bởi phần mềm SPSS 16.0.  
Kết quả: Không có NCT nào đã được nghe về HCCH nhưng có từ 60-85% các đối tượng biết về các  
thành tố của HCCH và có 22,1% biết rằng các bệnh này có liên quan với nhau, tỷ lệ hiểu biết về các thói  
quen có lợi cho sức khoẻ cao nhưng kiến thức tốt về phòng ngừa HCCH thấp chỉ chiếm 35,51%.  
Kết luận: đánh giá chung có 35,51% người cao tuổi có kiến thức tốt về phòng ngừa HCCH. Do đó  
trong công tác giáo dục sức khoẻ cần chú trọng đến những kiến thức NCT chưa nắm được để họ có cái  
nhìn tổng quát về nguy cơ bệnh tật của mình.  
Từ khoá: Kiến thức, hội chứng chuyển hoá, người cao tuổi.  
ABSTRACT  
KNOWLEDGE FOR PREVENTION METABOLIC SYNDROME ON THE ELDERLY  
AT CANTHO CITY  
Ngo Kim Phung, Nguyen Trung Kien  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 1 - 2011: 98 - 104  
Background: The fact showed that today we are faced with many disease, the most clinical syndromes  
have on the elderly. Therefore the study of morphological changes, functions and pathologies related to age is  
very necessary. One of the important changes in the elderly is the changing metabolism that is mentioned in  
the metabolic syndrome.  
Objective: Identify right knowledge ratio about prevention metabolic syndrome of the elderly at  
Cantho city.  
Subjects: A total of 673 the elderly were selected from 4 wards and 4 communes at Cantho city.  
Method: A descriptive cross-sectional survey design was used. Data were analyzed using SPSS  
version 16.0  
Results: Nobody of the subjects ever heard about metabolic syndrome but having from 60-85% subjects  
know about elements of metabolic syndrome and 22.1% subjects know that these diseases are related  
* Đại học Y Dược Cần Thơ  
Địa chỉ liên hệ: ThS. Ngô Kim Phụng  
ĐT: 0918492299  
98  
Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
together. Knowledge ratio for habits which has profitable for health is hight but good knowledge for  
prevention metabolic syndrome was low as evidenced by only a 35.51% correct answer rate.  
Conclusion: General evaluation 35.51% of the elderly have good knowledge on prevention metabolic  
syndrome. Thus in the work of health education should focus to knowledge that the elderly haven’t it to  
they have overview for risk by themselves.  
Keywords: Knowledge, metabolic syndrome, elderly.  
- Địa điểm nghiên cứu: các quận, huyện  
thành phố Cần thơ  
ĐẶTVẤNĐỀ  
Một diễn biến tất yếu của quá trình tích  
- Thời gian nghiên cứu: tháng 3/2010 đến  
tuổi là sự thay đổi về chuyển hóa mà hậu quả  
của nó là sự xuất hiện các bệnh lý làm giảm  
chất lượng sống của NCT. Đây cũng chính là  
nguyên nhân khiến tỷ lệ NCT mắc HCCH  
ngày càng gia tăng. Hội chứng này có rất  
nhiều tiêu chí chẩn đoán khác nhau nhưng  
đều có những điểm giống nhau đó là béo phì  
(đặc biệt là béo phì vùng bụng), tăng huyết  
áp, rối loạn chuyển hóa lipid, rối loạn dung  
nạp glucose và đề kháng insulin. Đặc biệt  
cùng với sự phát triển của xã hội và các dịch  
vụ chăm sóc y tế, mức sống và tuổi thọ của  
người dân ngày càng được nâng cao, đồng  
hành với đó là sự gia tăng tỉ lệ thừa cân béo  
phì đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ rối loạn  
chuyển hoá. Việc nâng cao chất lượng cuộc  
sống, hạnh phúc, sức khoẻ và tuổi thọ của con  
người luôn là mối quan tâm của một xã hội  
văn minh. Do đó với mong muốn nâng cao  
chất lượng cuộc sống và sức khoẻ cho NCT  
đồng thời hạn chế các bệnh lý ở lứa tuổi này  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mong  
muốn sẽ đáp ứng những yêu cầu cấp thiết  
trong việc xây dựng một chương trình giáo  
dục sức khỏe cho người cao tuổi.  
tháng 7/2010  
- Dân số nghiên cứu: Người cao tuổi  
Thành phố Cần thơ  
- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu  
dùng để tính tỷ lệ trong một nghiên cứu cắt  
ngang như sau:  
p(1p)  
n Z(21/ 2)  
d2  
Trong đó:  
n: là cỡ mẫu ước lượng.  
Z: là trị số phân phối chuẩn.  
: chọn = 0,05 bởi vậy Z(1-/2) = 1,96.  
d: sai số cho phép, chọn d = 0,05.  
p: do chưa có nghiên cứu về kiến thức về  
phòng ngừa HCCH nên chọn p = 0,5 để đạt n  
lớn nhất.  
Tính được n = 384, sử dụng hiệu ứng thiết  
kế là 1,5 nên cỡ mẫu nghiên cứu là 576 người.  
Trong thực tế chúng tôi đã tiến hành phỏng  
vấn được 673 đối tượng đủ tiêu chuẩn  
nghiên cứu.  
- Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu cụm.  
- Phương pháp thu thập: phỏng vấn trực  
tiếp NCT qua bộ câu hỏi soạn sẵn.  
- Công cụ thu thập: bảng câu hỏi.  
- Kiểm soát thông tin sai lệch: phỏng vấn  
thử trước khi tiến hành phỏng vấn thật, bộ  
câu hỏi đơn giản, dễ hiểu.  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định tỷ lệ người cao tuổi có kiến thức  
đúng về phòng ngừa hội chứng chuyển hóa  
tại thành phố Cần Thơ từ tháng 3/2010 đến  
tháng 7/2010  
- Phân tích số liệu và xử lý số liệu: Dữ liệu  
được mã hoá và xử lý bằng phầm mềm  
SPSS 16.0.  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả  
cắt ngang  
99  
Chuyên Đề Y tế Công cộng  
Nghiên cứu Y học  
KẾTQUẢ  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
22,1% biết các thành tố của HCCH có liên  
quan nhau.  
Kiến thức của người cao tuổi về phòng  
ngừa HCCH  
Bảng 3: Kiến thức về thói quen ăn uống có lợi cho  
sức khỏe  
Bảng 1: Kiến thức về các thành tố của HCCH  
Nội dung  
Tần số Tỷ lệ  
Nội dung  
Tần số Tỷ lệ  
(n)  
556  
(%)  
82,6  
17,4  
89,0  
11,0  
72,4  
27,6  
95,7  
4,3  
(n)  
(%)  
Ăn mặn/nhạt có lợi choĐúng  
Có  
579  
94  
86,0  
14,0  
64,9  
35,1  
64,9  
35,1  
80,2  
19,8  
53,3  
46,7  
44,0  
56,0  
60,9  
39,1  
32,1  
67,9  
21,7  
73,8  
62,9  
37,1  
31,8  
68,2  
22,9  
77,1  
sức khoẻ  
Chưa đúng 117  
Có nghe/biết về bệnh  
Khô ng  
Bệnh  
Ăn dầu/mỡ có lợi cho sứcĐúng  
khoẻ  
Ăn cá/thịt có lợi cho sứcĐúng  
599  
74  
487  
tăng Hiểu biết về mức độCó  
huyết bệnh  
437  
236  
437  
236  
540  
132  
359  
314  
296  
377  
410  
263  
216  
457  
146  
527  
423  
250  
214  
459  
154  
519  
Chưa đúng  
Khô ng  
á p  
Hiểu biết về biến chứngCó  
của bệnh  
khoẻ  
Chưa đúng 186  
Khô ng  
Có  
Khô ng  
Ăn đồ ngọt/rau quả có lợiĐúng  
644  
29  
514  
cho sức khoẻ  
Chưa đúng  
Có nghe/biết về bệnh  
Bệnh  
Sử dụng sữa hoặc sảnĐúng  
phẩm từ sữa có lợi cho  
sức khoẻ  
76,4  
23,6  
đái  
Hiểu biết về mức độCó  
thá o bệnh  
Chưa đúng 159  
Khô ng  
đường  
Hiểu biết về biến chứngCó  
của bệnh  
Nhận xét: kết quả bảng 3 cho thấy đa số  
đối tượng nghiên cứu có hiểu biết đúng về các  
thói quen ăn uống có lợi cho sức khỏe như  
nên ăn nhạt (82,6%), sử dụng dầu (89%), ăn  
nhiều cá (72,4%), ăn nhiều rau quả (95,7%) và  
sử dụng sữa (76,4%).  
Khô ng  
Có  
Khô ng  
Có nghe/biết về bệnh  
Bệnh  
rối  
loạn  
lipid  
má u  
Hiểu biết về mức độCó  
bệnh  
Hiểu biết về biến chứngCó  
của bệnh  
Khô ng  
Khô ng  
Có  
Khô ng  
Có nghe/biết về bệnh  
Bảng 1.4. Kiến thức của người dân về thói quen  
sinh hoạt và lối sống có lợi cho sức khỏe  
Bệnh  
bé o  
phì  
Hiểu biết về mức độCó  
bệnh  
Hiểu biết về biến chứngCó  
của bệnh  
Khô ng  
Nội dung  
Tần số Tỷ lệ  
(n)  
658  
15  
546  
127  
520  
153  
(%)  
97,8  
2,2  
81,1  
18,9  
77,3  
22,7  
Khô ng  
Lối sống căng thẳng/thoải Đúng  
má i có lợi cho sức khoẻ  
Lối sống vận động/tĩnh tại Đúng  
có lợi cho sức khoẻ  
Sai  
Nhận xét: kết quả bảng 1 cho thấy đa số  
các đối tượng nghiên cứu biết về các bệnh  
tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid  
máu và béo phì. Tuy nhiên hiểu biết về mức  
độ bệnh và các biến chứng của bệnh còn hạn  
chế  
Sai  
Tập dưỡng sinh/khô ng Đúng  
cần tập có lợi cho sức  
khoẻ  
Sai  
Thó i quen hút thuốc Đúng  
665  
8
98,8  
1,2  
lá /khô ng hút có lợi cho  
sức khoẻ  
Sai  
Bảng 2: Kiến thức chung về hội chứng chuyển hóa  
Thó i  
quen  
uống Đúng  
668  
5
99,3  
0,7  
Nội dung  
Tần số Tỷ lệ  
rượu/khô ng uống nhiều  
rượu có lợi cho sức khoẻ  
Sai  
(n)  
0
673  
149  
524  
(%)  
0,0  
100  
22,1  
77,9  
Có  
Thó i  
quen uống cà Đúng  
phê/khô ng uống nhiều cà  
phê có lợi cho sức khoẻ  
627  
46  
93,2  
6,8  
Có nghe/biết về HCCH  
Khô ng  
Sai  
Những bệnh THA, ĐTĐ, Có  
RLMM và bé o phì có liên  
Khô ng  
Nhận xét: kết quả bảng 1.4 cho thấy đa số  
đối tượng nghiên cứu có hiểu biết đúng về các  
thói quen sinh hoạt và lối sống có lợi cho sức  
khỏe như nên sống thoải mái (97,8%), lối sống  
vận động (81,1%), tập dưỡng sinh (77,3%);  
không nên hút thuốc lá (98,8%), uống nhiều  
rượu (99,3%) và sử dụng cà phê (93,2%).  
quan với nhau  
Biết  
612  
61  
575  
98  
90,9  
9,1  
85,4  
14,6  
Cá ch phá t hiện bệnh  
Khô ng biết  
Đúng  
Chưa đúng  
Điều kiện thuận lợi dẫn  
đến THA, ĐTĐ, RLMM,  
bé o phì  
Khi bị THA, ĐTĐ, RLMM, Đúng  
bé o phì phải điều trị liên  
tục  
377  
56,0  
44,0  
Chưa đúng 296  
Từ các kết quả nghiên cứu về kiến thức  
cho thấy có 35,51% các đối tượng nghiên cứu  
Nhận xét: kết quả bảng 2 cho thấy không  
có người nào đã nghe về HCCH nhưng có  
100  
Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
có kiến thức tốt về phòng ngừa HCCH (biểu  
đồ 1)  
đái tháo đường nhưng biết về mức độ và biến  
chứng bệnh còn hạn chế.  
Theo nghiên cứu của Trần Tiến Hùng, đa  
phần các bệnh nhân đái tháo đường đều có  
hội chứng chuyển hoá. Như vậy nâng cao  
nhận thức cho người dân về đái tháo đường  
sẽ góp phần không nhỏ vào việc hạn chế tình  
trạng mắc hội chứng chuyển hóa.  
Kiến thức  
tốt,  
35,51%  
Kiến thức  
chưa tốt,  
64,49%  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, người  
dân có nghe nói về rối loạn mỡ máu chiếm tỷ  
lệ thấp hơn (60,9%) so với bệnh tăng huyết áp  
(86%) và đái tháo đường (80,2%), hiểu biết về  
mức độ của bệnh là 32,1%, hiểu biết về biến  
chứng của bệnh là 21,7%. Tương tự, chỉ có  
62,9% người dân có nghe nói về bệnh béo phì  
và hiểu biết về mức độ của bệnh là 31,8%,  
hiểu biết về biến chứng của bệnh là 22,9%.  
Ghi nhận này của chúng tôi cho thấy mối  
quan tâm của người cao tuổi về rối loạn mỡ  
máu và béo phì còn rất hạn chế so với bệnh  
tăng huyết áp và đái tháo đường. Rối loạn mỡ  
máu và béo phì đặc biệt là béo phì trung tâm  
thường gắn liền nhau và là lời cảnh báo cho  
nguy cơ tăng huyết áp, xơ vữa động mạch và  
đề kháng insulin. Bệnh nhân béo phì là những  
bệnh nhân có nguy cơ rất cao đối với hội  
chứng chuyển hoá như tác giả Alexander đã  
đề cập. Theo Trần Tiến Hùng, người béo phì  
có tỉ lệ bị HCCH là 89%. Vì thế nhu cầu tăng  
hiểu biết cho cộng đồng về béo phì và rối loạn  
lipid máu là hết sức cần thiết.  
Theo nghiên cứu của Đào Thu Giang, béo  
phì là vấn đề nổi cộm của các nước phát triển  
và có xu hướng tăng mạnh mẽ ở các nước  
đang phát triển. Đây là hệ quả của sự phát  
triển xã hội với đời sống dinh dưỡng ngày  
càng nâng cao. Các nước đang phát triển có tỷ  
lệ béo phì gia tăng nhanh chóng, ở nước ta  
cùng với sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị  
hoá nhanh, sự thay đổi về lối sống, dinh  
dưỡng đang làm tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì.  
Hiện tại béo phì được nhận định là vấn đề  
thường gặp ở người nghèo của nước giàu và  
gặp ở người giàu của nước nghèo. Béo phì và  
Biểu đồ 1: Phân bố điểm kiến thức của người  
cao tuổi  
BÀNLUẬN  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho  
thấy tỷ lệ người dân có nghe nói về bệnh THA  
là 86%, hiểu được THA là một bệnh nặng và  
có nhiều biến chứng chiếm tỉ lệ 64,9%. Kết  
quả này cũng phù hợp với nghiên cứu về kiến  
thức, thái độ, hành vi về THA tại Seychells  
Islands (Indian Ocean). Nghiên cứu cho thấy  
rằng người dân có kiến thức cơ bản tốt về  
THA, thí dụ trên 96% biết rằng muối và béo  
phì có liên quan đến THA và THA có liên  
quan đến các bệnh tim mạch. Những người  
được phỏng vấn còn cho rằng vận động thể  
dục đối với THA là rất tốt mặc dù tỷ lệ chiếm  
thấp hơn (79% số dân tham gia nghiên cứu)  
và đa số cho rằng thuốc lá là một trong những  
nguyên nhân gây THA. Nhiều nghiên cứu  
cho thấy THA là bệnh hay gặp nhất ở NCT do  
đó tỉ lệ người cao tuổi trong nghiên cứu của  
chúng tôi có nghe về bệnh này khá cao, tuy  
vậy tỷ lệ người có hiểu biết về mức độ và biến  
chứng bệnh chưa tương xứng. Rõ ràng việc  
tuyên truyền giáo dục về bệnh THA vẫn hết  
sức cần thiết.  
Tỷ lệ người dân có nghe nói về bệnh đái  
tháo đường type 2 trong nghiên cứu của  
chúng tôi là 80,2%, hiểu biết về mức độ của  
bệnh là 53,3%, hiểu biết về biến chứng của  
bệnh là 44,0%. Hình thái về kiến thức này  
cũng tương tự với hiểu biết về bệnh tăng  
huyết áp, đa số người dân có nghe về bệnh  
101  
Chuyên Đề Y tế Công cộng  
Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
tăng huyết áp là những yếu tố nguy cơ tim  
mạch trong hội chứng chuyển hoá.  
trị liên tục khi mắc các bệnh tăng huyết áp,  
đái tháo đường, rối loạn lipid máu và béo phì.  
Như vậy, nếu thật sự đối tượng bị mắc các  
bệnh này thì khả năng tái phát sẽ rất cao.  
Theo Nguyễn Kim Thủy và Đào Thu  
Giang, béo phì cùng với rối loạn lipid máu  
được nhiều tác giả trên thế giới và trong nước  
quan tâm. Đây là những yếu tố nguy cơ tim  
mạch trong hội chứng chuyển hoá góp phần  
làm tăng tỉ lệ bệnh và tỉ lệ tử vong trong bệnh  
lý này. Nghiên cứu cho thấy yếu tố nguy cơ  
rối loạn lipid máu tăng cao hơn ở nhóm bệnh  
nhân thừa cân và béo phì, chỉ số BMI và tỉ số  
vòng bụng/vòng mông cũng có liên quan đến  
các yếu tố này.  
Một điều quan trọng hơn nữa là khi nhắc  
đến hội chứng chuyển hoá, 100% người cao  
tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi hoàn  
toàn không biết và cũng chưa hề nghe nói về  
hội chứng này. Hội chứng chuyển hóa hiện  
nay mới đang là vấn đề thời sự của giới y học  
trong cả nước nên việc người dân biết về hội  
chứng này rất ít là điều dễ hiểu. Một số sách  
báo phổ thông đã bắt đầu đề cặp đến hội  
chứng này tuy nhiên để có thể tạo mối quan  
tâm thật sự cho người dân thì công tác truyền  
thông giáo dục sức khỏe vẫn còn rất nhiều  
việc phải làm. Điều đặc biệt cần lưu ý là chỉ  
có 22,1% người cao tuổi biết cho rằng các  
bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn  
mỡ máu và béo phì có liên quan mật thiết với  
nhau. Như vậy sẽ có rất nhiều người bị một  
trong các bệnh này không quan tâm đến việc  
kiểm tra các bệnh khác và hậu quả là các rối  
loạn chuyển hóa sẽ diến biến ngày càng phức  
tạp hơn cùng với gánh nặng tuổi tác.  
Khảo sát kiến thức của người cao tuổi về  
các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hoá  
và các thành tố của hội chứng chuyển hoá  
trong ăn uống cho thấy rằng họ nhận thức  
được ăn nhiều đồ ngọt là yếu tố nguy cơ  
được biết nhiều nhất 95,7%, có lẽ người dân  
cho rằng ăn nhiều đồ ngọt sẽ dễ bị bệnh đái  
tháo đường. Ăn mỡ là yếu tố nguy cơ được  
biết đứng hàng thứ hai (89,0%), kế đến là thói  
quen ăn mặn (82,6%). Tỉ lệ này cao hơn so với  
nghiên cứu của tác giả Trần Thiện Thuần và  
cộng sự (69,5% và 75,5% đối tượng hiểu biết  
ăn mỡ và ăn mặn là yếu tố nguy cơ gây tăng  
huyết áp). Ăn mỡ và ăn mặn được người cao  
tuổi đánh giá là có hại cho sức khoẻ vì có thể  
họ cho rằng những yếu tố này khiến cho  
người ta dễ bị béo phì. Đa số người cao tuổi  
cho rằng ăn cá sẽ có lợi cho sức khoẻ hơn ăn  
thịt (72,4%) và cuối cùng có đến 76,4% tỷ lệ  
người cao tuổi cho rằng uống sữa có lợi cho  
sức khoẻ. Kết quả này rất đáng khich lệ vì  
người dân nhận ra rằng cá, sữa và các sản  
phẩm từ sữa là một phần quan trọng đối với  
chế độ dinh dưỡng cân bằng và khoẻ mạnh.  
Về thói quen sinh hoạt và lối sống, đại đa  
sô người cao tuổi cho rằng việc hút thuốc lá  
(99,3%), uống rượu (98,8%) và có đời sống  
căng thẳng (97,8%) cũng như uống nhiều cà  
phê (93,2%) là có hại cho sức khoẻ. Ngoài ra,  
có 81,1% người cao tuổi cho rằng nên có cuộc  
sống vận động hơn là tĩnh tại và 77,3% cho  
rằng nên tập thể dục dưỡng sinh. Trong điều  
kiện khi các tài liệu kinh điển đều cho rằng lối  
sống căng thẳng, tĩnh tại, lạm dụng các chất  
kích thích làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh  
có liên quan đến chuyển hóa thì đây là những  
con số rất đáng mừng cho công tác truyền  
thông giáo dục sức khỏe. Đặc biệt, khi người  
dân có nhận thức người cao tuổi vẫn phải tiếp  
tục làm việc, vận động theo tình trạng sức  
khỏe chứ không phải là nghỉ ngơi tuyệt đối  
Ngược lại với những hiểu biết chung về  
hội chứng chuyển hóa, có đến 90,9% đối  
tượng nghiên cứu của chúng tôi biết được  
cách để phát hiện các bệnh là thành tố của hội  
chứng chuyển hóa như đi kiểm tra sức khỏe,  
theo dõi huyết áp, cân nặng. Bên cạnh đó  
cũng có đến 85,4% người cao tuổi biết điều  
kiện thuận lợi để dẫn đến các rối loạn chuyển  
hóa là do chế độ ăn uống, sinh hoạt và lối  
sống. Tuy nhiên, chỉ có 56% biết rằng cần điều  
102  
Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
thì đây không chỉ là một nhận thức đúng về  
sức khỏe mà sẽ còn rất hữu ích cho việc phát  
huy vai trò của người cao tuổi trong đời sống  
cộng đồng.  
chưa nắm được để họ có cái nhìn tổng quát về  
nguy cơ bệnh tật của mình  
KIẾNNGHỊ  
Qua nghiên cứu chúng tôi rút ra một số  
kiến nghị sau:  
Từ các kết quả nghiên cứu về kiến thức  
chúng tôi đã ghi nhận có 35,51% các đối  
tượng nghiên cứu có kiến thức tốt về phòng  
ngừa HCCH, đây là một tỉ lệ còn rất khiêm  
tốn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao  
hơn so với kết quả nghiên cứu của Phạm  
Hùng Lực (20-30%) về phòng ngừa tăng huyết  
áp và thấp hơn kết quả phòng ngừa tăng  
huyết áp của Đàm Khải Hoàn (74,5%). Để  
phòng chống tăng huyết áp từ ban đầu trong  
cộng đồng có hiệu quả thì người dân trong  
cộng đồng đó cần có kiến thức về THA sớm  
hơn, trước khi mắc tăng huyết áp. Nếu chiến  
lược này thực hiện được sẽ có tác dụng hướng  
dẫn người dân tổ chức đời sống thuận lợi  
phòng chống tăng huyết áp cho các cá nhân  
trong cộng đồng và từ đó sẽ kiểm soát được  
tỷ lệ THA mới xuất hiện trong cộng đồng.  
Điều này không chỉ đúng cho bệnh tăng  
huyết áp mà còn có thể áp dụng cho các bệnh  
khác thuộc hội chứng chuyển hóa.  
1. Cần tăng cường công tác tuyên truyền,  
giáo dục sức khỏe cho người cao tuổi về hội  
chứng chuyển hóa và mối liên quan giữa các  
thành tố của hội chứng chuyển hóa thông qua  
các phương tiện thông tin đại chúng và các  
buổi sinh hoạt truyền thông giáo dục  
sức khỏe.  
2. Khuyến khích người cao tuổi kiểm tra  
sức khỏe định kỳ mỗi 6 tháng, thường xuyên  
theo dõi về huyết áp và tự theo dõi cân nặng  
nhằm phát hiện sớm bệnh. Bên cạnh đó cũng  
cần khuyến cáo người dân về các thói quen ăn  
uống, sinh hoạt, lối sống có lợi cho sức khỏe  
nhằm hạn chế việc mắc bệnh.  
3. Tiếp tục triển khai nghiên cứu rộng hơn  
trong cộng đồng về hội chứng chuyển hóa  
theo hướng có can thiệp nhằm giúp hoạch  
định những chính sách xã hội hợp lý đồng  
thời nâng cao chất lượng sống, kéo dài tuổi  
thọ cho người cao tuổi.  
KẾTLUẬN  
TÀILIỆUTHAMKHẢO  
+ Không có người cao tuổi nào biết về hội  
chứng chuyển hóa nhưng có kiến thức về các  
thành tố của HCCH (86% biết về bệnh THA,  
80,2% về bệnh ĐTĐ, 60,9% về rối loạn lipid  
máu, 62,9% về bệnh béo phì) và có 22,1% biết  
rằng các bệnh này có liên quan với nhau.  
+ Hiểu biết về các thói quen có lợi cho sức  
khỏe không đồng đều (biết nên ăn nhạt 82,6%,  
sử dụng dầu thực vật 89,0%, ăn nhiều cá  
72,4%, ăn nhiều rau quả 95,7% và sử dụng sữa  
76,4%, cần sống thoải mái 97,8%, vận động  
81,1%, tập dưỡng sinh 77,3%, không hút thuốc  
lá 98,8%, không uống nhiều rượu 99,3% và  
không sử dụng nhiều cà phê 93,2%).  
1.  
Chee – Eng Tan (2004). Can we apply the National  
Cholesterol Education program adult treatment Panel  
Definition of the Metabolic syndrome to Asians?. Diabetes  
Care. Vol 27. No 5, pp. 1182-1186.  
2.  
3.  
4.  
5.  
Mai Thế Trạch, Nguyễn Thy Khuê (2007). Hội chứng  
chuyển hoá. Nội tiết học đại cương. Nhà xuất bản Y học  
thành phố Hồ Chí Minh, tr. 503-508.  
Meneilly GS, Elliott T (1999). Metabolic alterations in  
middle-aged and elderly obese patients with Type  
diabetes. Diabetes Care, 22, pp. 112-118.  
Nguyễn Kim Thủy, Đào Kim Giang (2006). Tìm hiểu mối  
liên quan giữa béo phì với rối loạn lipid máu. Tạp chí Y học  
thực hành. Nhà xuất bản Bộ Y tế. Hà Nội. Số 8 (551), tr. 8-10  
Peter C Elwood, Janet E Pickering, Ann M Fehily (2007).  
Milk and dairy consumption, diabetes and the metabolic  
syndrome: The caerphitly prospective study. Journal of  
epidemiology and community health;61, pp. 695-698.  
Phạm Khuê (1990). Lão khoa đại cương. Nhà xuất bản  
Y học.  
Phạm Hùng Lực .(2003). Nghiên cứu sự tương quan giữa  
bệnh tăng huyết áp với môi trường sống khu vực đồng bằng  
sông Cửu Long và biện pháp can thiệp xã hội. Luận án tiến  
sĩ y khoa. Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.  
2
6.  
7.  
+ Đánh giá chung có 35,51% người cao  
tuổi có kiến thức tốt về phòng ngừa HCCH.  
Do đó trong công tác giáo dục sức khoẻ cần  
chú trọng đến những kiến thức bệnh nhân  
103  
Chuyên Đề Y tế Công cộng  
Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
8.  
Susan B. Sisson, Sarah M.Camhi, Timothy S.Church, Catrine  
Tudor-Locke, William D.Johnson, Peter T.Katzmarzyk  
(2010). Accelerometer-Determined steps/day and metabolic  
syndrome. American Journal Preventive medicine. June  
2010. Vol 38. Issue 6. pp. 575-582  
9.  
Trần Tiến Hùng .(2008). Một số nhận xét về hội chứng  
chuyển hoá ở bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viên Việt  
Nam - Cu Ba Đồng Hới Quãng Bình. Tạp chí Y học thực  
hành (608+609) – số 5/2008, tr. 136-1  
104  
Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng  
pdf 7 trang yennguyen 23120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức về phòng ngừa hội chứng chuyển hoá ở người cao tuổi thành phố Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_ve_phong_ngua_hoi_chung_chuyen_hoa_o_nguoi_cao_tuo.pdf