Khảo sát tình trạng loãng xương ở bệnh nhân lớn tuổi điều trị tại khoa Nội cơ xương khớp

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG LOÃNG XƯƠNG Ở BỆNH NHÂN LỚN TUỔI  
ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI CƠ XƯƠNG KHỚP  
Lê Thị Huệ*, Nguyễn Trung Kiên*, Đỗ Thị Kim Yến*  
TÓM TẮT  
Cơ sở nghiên cứu: Loãng xương là một rối loạn chuyển hoá của xương, ảnh hưởng đến chất lượng xương,  
hậu quả làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Loãng xương rất phổ biến. Phát  
hiện các yếu tố nguy cơ, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời giúp giảm tỷ lệ gãy xương và cải thiện chất lượng  
sống cho bệnh nhân.  
Mục tiêu: (1) Tìm tỷ lệ mắc loãng xương ở bệnh nhân lớn tuổi điều trị tại khoa Nội Cơ Xương Khớp.(2)  
Mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ: tuổi, giới, BMI, tiền sử dùng corticoid kéo dài, bệnh kèm theo(viêm phế quản  
mạn, COPD, bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh cơ xương khớp khác) với loãng xương. (3) Mối liên hệ giữa  
triệu chứng đau và nơi ở với loãng xương.  
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, các bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên điều trị tại  
Khoa Nội Cơ Xương Khớp được đo mật độ xương tại cột sống thắt lưng bằng phương pháp DEXA  
Kết quả và kết luận: 113 bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên, tuổi trung bình 71,03±10,67, nam 40 bệnh nhân  
(35,4%), nữ 73 bệnh nhân(64,6%). Tỷ lệ loãng xương 71,7%, mật độ xương trung bình -3,14 ± 1,19 SD. Mối  
liên hệ giữa giới, nơi ở, sử dụng corticoid kéo dài, bệnh viêm phế quản, COPD, tăng huyết áp với loãng xương có  
ý nghĩa thống kê. Mối liên hệ giữa tuổi, BMI, triệu chứng đau, bệnh đái tháo đường, bệnh cơ xương khớp khác  
với loãng xương không có ý nghĩa thống kê.  
Từ khoá: loãng xương, bệnh nhân lớn tuổi  
ABTRACT  
SURVEYING ON OSTEOPOROSIS IN ELDERLY PATIENTS  
AT DEPARTMENT OF JOINT-MUSCULOSKELETAL  
Le Thi Hue, Nguyen Trung Kien, Do Thi Kim Yen  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - No 3- 2014: 256-262  
Background: Osteoporosis is a metabolic disorder of bone, affecting bone strength, resulting in fracture,  
worsening patient's quality of life, increasing mortality rate. Osteoporosis is very common. Detecting risk factors,  
early diagnosis, suitable treatment help to reduce fracture rate and improve quality of life of patients  
Objects: 1. Percentage of osteoporosis in 50 year old and over in patients at Department of joint and  
Musculoskeletal Disorders – Thong Nhat hospital. 2. Relationship between osteoporosis and risk factors. 3.  
Relationship between osteoporosis with pain and resident place.  
Methods: Cross- sectional study, 50 years and over in-patients included, BMD are calculated by DEXA at  
lumber spine.  
Result and conclusion: 113 in-patients were included, containing 40(35.4%) males and 73(64.6%) females  
Mean age were 71.03±10.67 years old. The percentage of osteoporosis were 71.7%. Mean BMD was: -3.14 ± 1.19  
SD. The relationship between osteoporosis and sex, resident place, long term use of corticoid, chronic bronchitis-  
COPD, cardiovascular were statistically remarkcable, while the relationship between osteoporosis and other  
factors were not.  
Keywords: osteoporosis  
* Khoa nội cơ xương khớp Bệnh viện Thống Nhất Tp. Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: BS. Đỗ Thị Kim Yến ĐT: 0988535860  
256  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nghiên cứu Y học  
mắc loãng xương trên 70 tuổi là 58,8% phụ nữ và  
19,6% nam giới(1).  
Loãng xương là một trong những bệnh rối  
loạn chuyển hoá xương thường gặp, đặc trưng  
bởi sự giảm khối lượng xương, tổn thương vi  
cấu trúc xương và tăng nguy cơ gãy  
xương(5,2,7,Error! Reference source not found.,3).  
Hàng năm, chi phí cho điều trị loãng xương  
ở các nước phát triển không ngừng tăng lên.  
Riêng ở Mỹ chỉ trong vòng 12 năm chi phí cho  
điều trị loãng xương đã tăng lên gấp 3,5 lần (5,1  
tỷ USD năm 1986 và 18 tỷ USD năm 1998)(4).  
Mức độ nặng nề của biến chứng gãy xương  
trong bệnh loãng xương được xếp tương đương  
với tai biến nhồi máu cơ tim trong bệnh tim  
thiếu máu cục bộ và tai biến mạch máu não  
trong bệnh tăng huyết áp(Error! Reference source not found.,1,3).  
Bệnh loãng xương dễ chẩn đoán, điều trị  
được. Nếu điều trị đúng có thể giảm 50% nguy  
cơ gãy xương. Nhưng điều quan trọng là phải  
chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời để ngăn ngừa  
gãy xương do loãng xương.  
Trên thế giới loãng xương là vấn đề y tế rất  
thường gặp, ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/8  
đàn ông trên 50 tuổi. Hiện nay, loãng xương  
được coi là một bệnh dịch âm thầm, người bị  
loãng xương không biết mình bị bệnh cho đến  
khi có biến chứng gãy xương. Gãy xương do  
loãng xương thường gặp nhất ở cổ tay, đốt sống,  
cổ xương đùi. Gãy xương do loãng xương có thể  
xảy ra ngay cả trong những hoạt động hàng  
ngày, làm cho người bệnh đau đớn, mất khả  
năng vận động, mất khả năng sinh hoạt tối  
thiểu. Đặc biệt ở người lớn tuổi, gãy đốt sống và  
gãy cổ xương đùi không chỉ gây tàn phế mà còn  
tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh. Hậu quả  
của gãy xương do loãng xương: đối với gãy cổ  
xương đùi 10-20% người bệnh tử vong trong  
vòng 1 năm, 20% người bệnh phải có người trợ  
giúp suốt cuộc đời còn lại, 30% người bệnh bị  
tàn phế phải phụ thuộc hoàn toàn vào người  
khác, chỉ có khoảng 30% có thể hội nhập trở lại  
với cuộc sống xã hội nhưng lúc nào cũng bị  
nguy cơ tái gãy xương rình rập(3,4).  
Mục tiêu  
1. Tìm tỷ lệ mắc loãng xương ở bệnh nhân  
lớn tuổi điều trị tại khoa Nội Cơ Xương Khớp.  
2. Mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ: tuổi,  
giới, BMI, tiền sử dùng corticoid kéo dài, bệnh  
kèm theo (viêm phế quản mạn, COPD, bệnh tim  
mạch, đái tháo đường, bệnh cơ xương khớp  
khác) với loãng xương.  
3. Mối liên hệ giữa triệu chứng đau và nơi ở  
với loãng xương.  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Phương pháp nghiên cứu  
Mô tả cắt ngang  
Đối tượng  
Tất cả các bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên được  
điều trị nội trú tại khoa Nội Cơ Xương Khớp từ  
tháng 8/1013 đến tháng 11/2013  
Tiêu chuẩn loại trừ  
- Bệnh nhân nằm liệt giường  
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên  
cứu  
Năm 1990 toàn thế giới có khoảng 1,7 triệu  
trường hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương,  
thì 31% số này thuộc các nước Châu Á. Dự tính  
năm 2050, toàn thế giới sẽ có tới 6,3 triệu trường  
hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương và 51% số  
này thuộc các nước Châu Á(3).  
Thu thập số liệu  
- Thăm khám bệnh nhân, ghi nhận tuổi, giới,  
địa chỉ, cân nặng, chiều cao, BMI, tiền sử đái  
tháo đường, bệnh tim mạch, bệnh cơ xương  
khớp, viêm phế quản mạn, COPD  
Năm 1999 tại Mỹ: 25 triệu người bị loãng  
xương trong đó có 7,5 triệu người bị gãy xương .  
Tỷ lệ mắc loãng xương trong lứa tuổi 50 đến 70  
tuổi là 19,6% phụ nữ và 3,1% nam giới. Tỷ lệ  
- Phân loại BMI theo WHO: Gầy: BMI < 18,5  
Bình thường: BMI từ 18,5 đến 25  
Béo phì: BMI > 25  
257  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
- Dùng corticoid kéo dài: Trên 3 tháng  
steroid với liều prednisolone ít nhất 5mg mỗi  
ngày hoặc thuốc tương đương.  
Tỷ lệ mắc loãng xương của mẫu nghiên  
cứu  
Bảng 1: Tỷ lệ mắc loãng xương của mẫu nghiên cứu  
- Bệnh xương khớp bao gồm: Viêm khớp  
dạng thấp, thoái hoá khớp, gout,  
Tình trꢀng loãng  
xương  
N
Tꢁ lꢂ%  
Tꢃscore trung  
bình  
Loãng xương  
81  
71,7  
28,3  
100  
ꢀ3,7 ± 0,964  
- Bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, suy tim,  
bệnh tim thiếu máu cục bộ.  
Không loãng xương 32  
Tꢁng 113  
ꢀ1,675 ± 0,133  
- Nơi ở được phân loại “nông thôn” hay  
“thành thị” theo địa giới hành chính  
Nhận xét: Qua bảng trên cho thấy trong  
ngiên cứu của chúng tôi số bệnh nhân trên 50  
tuổi bị loãng xương chiếm tỷ lệ rất cao 71,7%.  
- Bệnh nhân được đo mật độ xương vùng cột  
sống thắt lưng bằng phương pháp DEXA. Đánh  
giá tình trạng loãng xương qua chỉ số T-score  
theo WHO  
Mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ với  
loãng xương  
+ Bình thường: T-score >-1  
Mối liên hệ giữa nhóm tuổi với loãng xương  
+ Thiểu xương: T-score từ -1 đến -2,5  
+ Loãng xương: T-score<-2,5  
Bảng 2: Mối liên hệ giữa nhóm tuổi với loãng xương  
Nhóm  
tuꢄi  
Tꢃscore  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
+ Loãng xương nặng: T-score <-2,5 kèm theo  
gãy xương  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
xương  
* Ghi nhận: “loãng xương“ bao gồm loãng  
xương và loãng xương nặng  
50ꢀ59 ꢀ2,76 ± 0,25 13(68,4%) 6(31,6%) 19(100%)  
60ꢀ79 ꢀ3,10 ± 0,15 47(69,1%) 21(30,9%) 68(100%)  
“không loãng xương” bao gồm bình thường  
và thiểu xương  
≥80  
p
ꢀ3,51± 0,34 21(80,8%) 5(19,2%) 26(100%)  
p(Tꢀ  
p(X²)= 0,502  
test)=0,140  
Xử lý số liệu  
Nhận xét: qua bảng trên ta thấy mật dộ  
xương giảm dần theo tuổi. Nhóm tuổi ≥80 có tỷ lệ  
loãng xương nhiều nhất nhưng sự khác biệt này  
không có ý nghĩa thống kê với p=0,502 > 0,05.  
Mối liên hệ giữa giới tính với loãng xương  
Bảng 3: Mối liên hệ giữa giới tính với loãng xương  
Phần mềm SPSS16.0, dùng phép kiểm chi  
bình phương, T-test với độ tin cậy 95% (p<0,05)  
KẾT QUẢ  
Đặc điểm bệnh nhân  
Tổng số bệnh nhân nghiên cứu: 113 bệnh  
nhân  
Giꢅi  
Tꢃscore Tình trꢀng loãng xương Tꢄng  
Tuổi trung bình: 71,03±10,67 tuổi, nhỏ nhất  
50 tuổi, lớn nhất 96 tuồi  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
Nhóm tuổi: 50-59 tuổi: 19(16,8%), từ 60-79  
tuổi: 68(60,2%), ≥ 80 tuổi: 26(23%)  
xương  
Nam ꢀ2,32 ± 0,17  
20(50%)  
20(50%) 40(100%)  
Nꢂ ꢀ3,57 ± 0,13 61(83,6%) 12(16,4%) 73(100%)  
p(Tꢀtest)=0,00 P(X²)= 0,000  
Giới: nam: 40(35,4%), nữ: 73(6,6%)  
Cân nặng trung bình: 53,45 ± 9,63 (kg)  
Chiều cao trung bình: 156,42 ±7,3 (cm)  
BMI trung bình: 21,69 ± 3,14 9 (kg/m²)  
T-score trung bình: -3,14 ± 1,19 SD  
p
Nhận xét: trong nhiên cứu của của chúng tôi  
mật độ xương của nữ thấp hơn nam và tỷ lệ nữ  
bị loãng xương cao gấp 3 lần nam và sự khác  
biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.  
Mỗi bệnh nhân mắc trung bình: 2,27 ± 0,857  
bệnh  
258  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
Mối liên hệ giữa BMI với loãng xương  
Mối liên hệ giữa các bệnh kèm theo với  
loãng xương  
Bảng 4: Mối liên hệ giữa BMI với loãng xương  
BMI  
Tꢃscore  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
Mối liên hệ giữa các bệnh cơ xương khớp khác  
với loãng xương  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
Bảng 6: Mối liên hệ giữa các bệnh cơ xương khớp  
xương  
khác với loãng xương  
Gꢃy  
ꢀ3,20 ± 0,37 15(68,2%) 7(31,8%) 22(100%)  
ꢀ3.15 ± 0.15 54(74%) 19(26%) 73(100%)  
Bꢂnh  
cơ  
Tꢃscore  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
Bình  
thưꢄng  
xương  
khꢅp  
khác  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
xương  
Béo phì ꢀ2,93± 0,23 12(66,7%) 6(33,3%) 18(100%)  
p
p(Tꢀ  
test)=0,766  
P(X²)= 0,762  
có  
ꢀ3,167 ± 1,14 41(67,2%) 20(32,8%) 61(100%)  
Nhận xét:  
không ꢀ3,092 ± 1,326 40(67,9%) 12(32,1%) 52(100%)  
p
P (Tꢀ  
test)=0,748  
P(X²)=0,254  
Qua nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mật  
độ xương ở người gầy thấp hơn ở người bình  
thường và béo phì nhưng sự khác biệt này  
không có ý nghĩa thống kê p = 0,776.  
Nhận xét: mật độ xương, và tỷ lệ loãng  
xương của bệnh nhân mắc các bệnh cơ xương  
khớp khác và không mắc bệnh khác biệt không  
có ý nghĩa thống kê với p = 0,748 và p = 0,254 >  
0,05.  
Tỷ lệ loãng xương ở người béo thấp hơn  
người bình thường và người gầy. Nhưng sự  
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê p=  
0,762 > 0,05.  
Mối liên hệ giữa viêm phế quản mạn-COPD  
với loãng xương  
Mối liên hệ giữa tiền sử dùng corticoid kéo dài  
với loãng xương  
Bảng 7: Mối liên hệ giữa viêm phế quản mạn-COPD  
với loãng xương  
Bảng 5: Mối liên hệ giữa tiền sử dùng corticoid kéo  
Bꢂnh  
viêm  
phꢆ  
quꢇn  
mꢀn,  
COPD  
Tꢃscore  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
dài với loãng xương  
Dùng  
cortiꢃ  
coid  
Tꢃscore  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
xương  
có  
ꢀ3,391± 0,97 15 (83,3%) 3 (16,7%) 18 (100%)  
xương  
không  
ꢀ3,0 ± 1,26  
66 (69,5%)  
29  
(30,5%)  
95 (100%)  
có  
không  
p
ꢀ3,823 ±  
1,012  
23 (88,5%) 3 (11,5%) 26 (100%)  
58 (66,6%) 29 (33,4%) 87 (100%)  
P(X²)=0,03  
p
P(Tꢀtest)=0,045  
P(X²)=0,023  
ꢀ2,918 ±  
1,23  
Nhận xét: mật độ xương của bệnh nhân  
viêm phế quản mạn và COPD thấp hơn so với  
mật độ xương của những người không bị bệnh  
có ý nghĩa thống kê với p = 0,045 < 0,05. Tỷ lệ  
mắc loãng xương cao hơn những người bị bệnh  
cao hơn những người không bệnh và sự khác  
biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,023 < 0,05.  
P(Ttest)=  
0,001  
Nhận xét:  
- Bệnh nhân dùng corticoid kéo dài có tỷ lệ bị  
loãng xương cao hơn so với không dùng  
corticoid. Và sự khác biệt này có ý nghĩa thống  
kê với p = 0,03 < 0,05  
Mối liên hệ bệnh đái tháo đường với loãng  
xương  
- Mật độ xương ở bệnh nhân dùng corticoid  
thấp hơn so với bệnh nhân không dùng corticoid  
có ý nghĩa thống kê với p = 0,001 < 0,05  
Không thấy sự liên hệ giữa bệnh nhân mắc  
bệnh đái tháo đường với tỷ lệ loãng xương với p  
= 0,366 > 0,05. Mật độ xương của bệnh nhân mắc  
259  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
bệnh đái tháo dường và không bệnh khác biệt  
không có ý nghĩa thống kê p = 0,628 > 0,05.  
Nhận xét: Sự khác biệt về mật độ xương và  
tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân có triệu chứng  
đau và không có triệu chứng đau không có ý  
nghĩa thống kê với p > 0,05  
Bảng 8: Mối liên hệ bệnh đái tháo đường với loãng  
xương  
Bꢂnh đái  
tháo  
đưꢈng  
Tꢃscore  
X±SD  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
Mối liên hệ giữa nơi ở với loãng xương  
Bảng 11: Mối liên hệ giữa nơi ở với loãng xương  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
Nơi ꢊ  
Tꢃscore  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
xương  
X±SD  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
xương  
có  
không  
p
ꢀ3,252± 1,28 12 (63,2%) 7 (36,8%)  
19  
(100%)  
ꢀ3,0 ± 0,99 69 (73,4%)25 (26,6%)  
94  
(100%)  
Thành ꢀ3,249 ± 0,128 67(77%)  
phꢅ  
20(23%) 87(100%)  
P(Tꢀtest)=0,628  
P(X²)=0,366  
Nông ꢀ2,715 ± 0,261 14(53,8%) 12(46,2%) 26(100%)  
thôn  
Mối liên hệ giữa bệnh tim mạch với loãng  
xương  
p
p(Tꢀ  
P(X²)=0,021  
Bảng 9: Mối liên hệ giữa bệnh tim mạch với loãng  
test)=0,043  
xương  
Nhận xét:  
Bꢂnh  
tim  
mꢀch  
Tꢃscore  
X±SD  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
- Qua nghiên cứu của chúng tôi thấy mật độ  
xương ở bệnh nhân sống ở thành phố thấp hơn  
bệnh nhân sống ở nông thôn có ý nghĩa thống kê  
với p = 0,043 < 0,05.  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
xương  
có  
ꢀ3,352± 1,28 66(73,3%) 24(26,7%) 90(100%)  
- Tỷ lệ loãng xương ở nhóm dân cư thành  
phố cao hơn ở nông thôn và sự khác biệt này có  
ý nghĩa thống kê với p = 0,021 < 0,05.  
không ꢀ2,81 ± 0,99 15(65,2%) 8(34,8%) 23(100%)  
P(Tꢀtest)=0,042 P(X²)=0,048  
p
Nhận xét:  
- Tỷ lệ loãng xương tăng lên ở những bệnh  
BÀN LUẬN  
nhân có bệnh tim mạch và sự khác biệt này có ý  
nghĩa thống kê với p = 0,048 < 0,05.  
Tỷ lệ loãng xương của nhóm nghiên cứu  
T-score trung bình tại cột sống thắt lưng  
trong nghiên cứu của chúng tôi là -3,14 ± 1,19  
SD.Tỷ lệ người bị loãng xương từ 50 tuổi trở lên  
khá cao 71,7% cao hơn hẳn các nghiên cứu khác  
do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là người  
lớn tuổi (71,03 ± 10,67 tuổi) và là những bệnh  
nhân điều trị nội trú tại khoa mắc nhiều bệnh  
khác kèm theo nên tỷ lệ loãng xương cao. Tỷ lệ  
loãng xương tăng theo tuổi do quá trình lão hoá  
của tạo cốt bào, làm xuất hiện tình trạng mất cân  
bằng giữa huỷ xương và tạo xương, gây nên  
thiểu sản xương. Ngoài ra ở người lớn tuổi còn  
có sự giảm hấp thu calci ở ruột, và sự giảm hấp  
thu calci ở ống thận, thiếu calci trong chế độ ăn,  
giảm tổng hợp vitaminD tại da do giảm tiếp xúc  
với ánh sáng mặt trời(5,Error! Reference source not found.). Kết  
quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên  
cứu của Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự có 30%  
- Mật độ xương ở bệnh nhân có bệnh tim  
mạch thấp hơn ở bệnh nhân không bệnh sự khác  
biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,042 > 0,05.  
Mối liên hệ giữa triệu chứng đau và nơi ở  
với loãng xương  
Mối liên hệ giữa triệu chứng đau với loãng  
xương  
Bảng 10: Mối liên hệ giữa triệu chứng đau với loãng  
xương  
Triꢂu  
chꢉng  
đau  
Tꢃscore  
X±SD  
Tình trꢀng loãng  
xương  
Tꢄng  
Loãng  
xương  
Không  
loãng  
nhꢉc  
xương  
có  
ꢀ3,118 ± 1,169 42(68,9%) 19(31,1%) 61(100%)  
không ꢀ3,074 ± 1,30  
39(75%) 13(25%) 52(100%)  
P(X²)=0,470  
p
P(Ttest)=0,626  
260  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
phụ nữ, và 10% nam giới trên 50 tuổi bị loãng  
xương(2) do dối tượng nghiên cứu của tác giả là  
những người khoẻ mạnh trong cộng đồng.  
Mối liên hệ dùng corticoid kéo dài với loãng  
xương  
Sử dụng corticoid kéo dài: trong nghiên của  
chúng tôi 88,5% bệnh nhân dùng corticoid kéo  
dài có loãng xương, tỷ lệ mắc loãng xương ở  
nhóm sử dụng corticoid cao hơn hẳn so với  
nhóm không sử dụng corticoid và sự khác biệt  
này có ý nghĩa thống kê với p=0,03<0,05. Do tác  
dụng của corticoid lên hệ xương, có thể ức chế  
hình thành xương, giảm tăng sinh tế bào, giảm  
lắng đọng tổ hợp protein của xương làm tăng  
nguy cơ loãng xương(5).  
Mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ với  
loãng xương  
Mối liên hệ giữa tuổi với loãng xương  
Tỷ lệ loãng xương tăng dần theo tuổi. T-  
score giảm dần theo tuổi ở nhóm tuổi 50-59 T-  
score trung bình là -2,76 trong khi đó T-score ở  
nhóm bệnh nhân trên 80 tuổi là -3,51. Khi chia  
đối tượng nghiên cứu theo các nhóm tuổi từ 50  
đến 59, từ 60 đến 79 và từ 80 tuổi trở lên chỉ số T-  
score giảm dần đồng nghĩa với tỷ lệ loãng xương  
tăng lên. Tình trạng loãng xương tăng dần theo  
tuổi vì người cao tuổi ít vận động hơn, giảm sự  
tái hấp thu canxi ở ruột và giảm sự tái hấp thu  
canxi ở thận…. Tuy nhiên sự khác biệt này  
không có ý nghĩa thống kê với p = 0,502 > 0,05.  
Vì ở những người lớn tuổi tình trạng thoái hoá  
cột sống và xẹp lún đốt sống là rất phổ biến,  
thường gây hiện tượng tăng T-score tại đốt sống  
bị xẹp lún. Do đó ảnh hưởng đến kết quả đo  
này. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của  
Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự(5).  
Mối liên hệ giữa các bệnh kèm theo với  
loãng xương  
Người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh  
đồng thời. Trung bình một người mắc 2,27 bệnh.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi những bệnh  
nhân bị mắc các bệnh tim mạch, viêm phế quản  
mạn, COPD thì tỷ lệ bị loãng xương cao và sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Điều  
này được giải thích do những người mắc bệnh  
tim mạch thường ít vận động, chế độ ăn uống  
kiêng khem không cung cấp đủ nhu cầu canxi  
hàng ngày. Bệnh nhân bị bệnh viêm phế quản  
mạn và COPD thường có dùng corticoid khéo  
dài, giảm vận dộng.  
Mối liên hệ giữa giới với loãng xương  
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ loãng  
xương ở nữ cao gấp 3 lần nam giới và chỉ số T-  
score ở nữ là -3,57 ± 0,13 thấp hơn so với nam -  
2,32 ± 0,17 có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Vì ở  
phụ nữ ngoài loãng xương nguyên phát còn xảy  
ra loãng xương sau mãn kinh do sự thiếu hụt  
estrogen gây mất cân bằng quá trình huỷ xương  
và tạo xương, sự giảm tiết hormon cận giáp  
trạng, tăng thải canxi qua nước tiểu. Kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với hầu hết  
Trong nghiên cứu của chúng tôi không thấy  
có sự liên hệ giữa đái tháo dường, các bệnh cơ  
xương khớp khác với loãng xương có thề do  
mẫu nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn.  
Mối liên hệ giữa triệu chứng đau, nơi ở với  
loãng xương  
Mối liên hệ giữa triệu chứng đau với loãng  
xương  
Loãng xương là một bệnh âm thầm thường  
không có triệu chứng, người bị loãng xương  
không biết mình bị bệnh cho đến khi có biến  
chứng, thường gặp là đau do gãy xương. Trong  
nghiên cứu của chúng tôi trong số bệnh nhân  
trên 50 tuổi nhập viện có 61 (54%) bệnh nhân có  
triệu chứng đau nhức xương khớp. Kết quả trên  
cho thấy phần lớn bệnh nhân loãng xương đều  
đã có biến chứng. Điều này phản ánh việc chẩn  
các nghiên cứu trước đó(5,2,6,Error! Reference source not found.)  
.
Mối liên hệ giữa BMI với loãng xương  
Qua nghiên cứu của chúng tôi thấy BMI  
càng thấp thì chỉ số T-score càng thấp, mức độ  
loãng xương càng nặng nhưng sự khác biệt này  
không có ý nghĩa thống kê có thể do mẫu nghiên  
cứu của chúng tôi chưa đủ lớn.  
261  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Số 3 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
đoán và điều trị loãng xương còn nhiều bất cập,  
hiệu quả chưa cao. Mật độ xương ở bệnh nhân  
có triệu chứng đau nhức thấp hơn ở bệnh nhân  
không có triệu chứng đau tuy nhiên sự khác  
biệt này không có ý nghĩa thống kê với p =  
0,626 > 0,05.  
- Mối liên hệ giữa nơi ở với loãng xương có ý  
nghĩa thống kê, còn mối liên hệ giữa triệu chứng  
đau với loãng xương không có ý nghĩa thống kê.  
KHUYẾN NGHỊ  
Bệnh nhân lớn tuổi đến khám và điều trị nội  
trú tại bệnh viện nên được khám và đo mật độ  
xương dễ phát hiện sớm, và điều trị kịp thời  
ngăn ngừa biến chứng nặng của loãng xương.  
Đặc biệt là những bệnh nhân nữ lớn tuổi, dùng  
corticoid kéo dài, mắc nhiều bệnh kèm theo như  
bệnh tim mạch, viêm phế quản mạn, COPD…  
Mối liên hệ giữa loãng xương với nơi ở  
Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân  
ở thành phố chiếm đa số 77%, bệnh nhân ở  
nông thôn chỉ chiếm có 23% do bệnh viện  
chúng tôi nằm trên địa bàn thành phố. Mật độ  
xương ở nhóm dân thành thị (T-score -3, 249 ±  
0,128) thấp hơn so với nông thôn (-2,715 ± 0,216)  
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p = 0,021 <  
0,05. Và tỷ lệ loãng xương ở nhóm dân thành  
thị cao hơn so với nông thôn. Dân cư thành phố  
có lối sống ít vận động, ít tiếp xúc với ánh nắng  
mặt trời hơn so với nông thôn cũng là một  
trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ loãng  
xương ở thành phố.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Center JR, Nguyen TV, Schneider D, Sambrook PN, Eisman  
JA, (1999) Motality after all major types of opteoporosis  
fracture is men and women: an doservational study. Lancet;  
353; 878-82  
2.  
Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự (2011) Chẩn đoán loãng  
xương: ảnh hưởng giá trị tham chiếu- thời sự y học 01 và  
02/2011 số 57.  
3.  
4.  
5.  
6.  
Lau EM (2002) osteoporosis – A world wide problem at the in  
plications is Asia. Ann A cad Med singapore 31(1) 67-68  
Linray R (1995) The Burden of Osteoporosis Cost, Am J Med  
1995, 98, 95-115.  
KẾT LUẬN  
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2010) Bệnh học cơ xương khớp nội  
khoa - NXB giáo dục Việt Nam tr276.  
- Tỷ lệ bệnh nhân lớn tuổi điều trị nội trú tại  
khoa nội Cơ Xương Khớp mắc bệnh loãng  
xương là 71,7%.  
Tào Minh Thuý và cộng sự (2013) Khảo sát các yếu tố nguy cơ  
loãng xương ở phụ nữ Miền Bắc Việt Nam từ 50 tuổi trở lên.  
Nội Khoa, 249-256.  
7.  
Trần Đức Thọ (2005) Bệnh loãng xương ở người cao tuổi. NXB Y  
học, tr34-45.  
- Mối liên hệ giữa giới, bệnh tim mạch, viêm  
phế quản – COPD, và dùng corticoid kéo dài với  
loãng xương có ý nghĩa thống kê.  
Ngày nhận bài báo:  
11-04-2014  
20-04-2014  
20-05-2014  
- Mối liên hệ giữa tuổi, BMI, bệnh cơ xương  
khớp, bệnh đái tháo đường với loãng xương  
không có ý nghĩa thống kê.  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
262  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2014  
pdf 7 trang yennguyen 17200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tình trạng loãng xương ở bệnh nhân lớn tuổi điều trị tại khoa Nội cơ xương khớp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tinh_trang_loang_xuong_o_benh_nhan_lon_tuoi_dieu_tr.pdf