Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa năm 2020

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI  
XÃ CAM HÒA, HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA, NĂM 2020  
Hồ Phan Uyên1, Diệp Từ Mỹ1, Trần Thị Tuyết Nga1  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Y văn cho thấy chất lượng cuộc sống (CLCS) có mối liên hệ chặt chẽ đến tuổi già và tình trạng  
sức khỏe. Ngoài ra, phần lớn người cao tuổi ở Việt Nam hiện đang sống ở nông thôn (72,9%) mặc dù phần lớn  
con cái của họ đã di cư ra thành thị để có cơ hội việc làm tốt. Vì vậy, việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc người cao  
tuổi ngày càng tăng ở Việt Nam là vô cùng quan trọng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá CLCS  
của người cao tuổi tại xã Cam Hòa, một vùng nông thôn thuộc duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam.  
Mục tiêu: Xác định điểm số CLCS trung bình ở người cao tuổi tại xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh  
Khánh Hòa và các yếu tố liên quan.  
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 228 người từ 60 tuổi trở lên trong  
khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2020. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu  
hỏi WHOQol-OLD đánh giá CLCS người cao tuổi trên 6 lĩnh vực (“Giác quan”, “Tự chủ”, “Cái chết”, “Hoạt  
động quá khứ, hiện tại, tương lai”, “Hoạt động xã hội”, “Tình thương”).  
Kết quả: Điểm số trung bình CLCS chung của người cao tuổi là 66,1 ± 10,9 điểm. Những yếu tố đặc điểm  
dân số - xã hội như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế và các yếu tố tinh  
thần như tham gia hoạt động xã hội, sự quan tâm của con cháu, niềm tin vào cộng đồng địa phương, sự gắn  
kết/hỗ trợ trong cộng đồng địa phương có ảnh hưởng tới điểm số CLCS của người cao tuổi.  
Kết luận: Sự suy giảm của niềm tin và sự gắn kết/ hỗ trợ trong cộng đồng địa phương làm giảm CLCS của  
người cao tuổi.  
Từ khóa: chất lượng cuộc sống, người cao tuổi, vốn xã hội  
ABSTRACT  
QUALITY OF LIFE OF THE ELDERLY IN CAM HOA COMMUNE, CAM LAM DISTRICT, KHANH  
HOA PROVINCE IN 2020  
Ho Phan Uyen, Diep Tu My, Tran Thi Tuyet Nga  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 118 - 124  
Background: Previous studies have shown the relation between quality of life (QoL) and aging, health  
status. Besides, the majority of the elderly in Vietnam are now living in rural area (72.9%) though most of their  
children have migrated to urban areas for better job opportunities. Therefore, it is crucial to cope with the  
increasing needs for elderly care in Vietnam. This study was conducted for assessing the QoL of elderly in a rural  
area in the coastal South Central Vietnam.  
Objectives: To identify the mean score of the QoL and its related factors of the elderly in Cam Hoa  
commune, Cam Lam District, Khanh Hoa Province.  
Methods: A cross sectional study was conducted with 228 people 60 years and older from June to September  
2020. Face to face household interviews that used WHOQoL-OLD questionnaire to assess six QoL facets:  
"fungười cao tuổiioning of the sensory", "autonomy", "death and dying", "past, present and future activities",  
"social participation", and "intimacy").  
1Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: TS. Diệp Từ Mỹ  
ĐT: 0903999893  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
118  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
Results: The mean score of the quality of life of the elderly was 66.1 ± 10.9. Social demographic  
characteristics (age, sex, education, marital status, economic situation) and mental factors including social  
activities, the offspring caring for parents, trust and social coperation affect the quality of life of the elderly.  
Conclusion: The decrease in trust and social coperation both reduces the quality of life of the elderly.  
Keywords: quality of life, elderly, social capital  
thành thị để có cơ hội việc làm tốt(8). Vì vậy, việc  
ĐẶTVẤNĐỀ  
đáp ứng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi ngày  
Già hóa dân số phản ánh quá trình chuyển  
càng tăng ở Việt Nam là vô cùng quan trọng.  
đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng tỷ trọng  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh  
giá CLCS của người cao tuổi tại xã Cam Hòa,  
một vùng nông thôn thuộc duyên hải Nam  
Trung Bộ Việt Nam với dân số từ 60 tuổi trở lên  
chiếm 10% tổng dân số vào năm 2019(1).  
dân số già, được thể hiện qua chỉ số già hóa (tỉ  
số giữa dân số từ 60 tuổi trở lên so với dân số  
dưới 15 tuổi tính theo phần trăm). Già hóa dân  
số là một trong những xu hướng quan trọng  
nhất của thế kỷ 21, phản ánh sự phát triển kinh  
tế - xã hội và những tiến bộ trong hệ thống  
chăm sóc sức khỏe, đẩy lùi bệnh tật, nâng cao  
tuổi thọ của loài người. Không nằm ngoài xu  
hướng già hóa dân số toàn cầu, già hóa dân số  
ở Việt Nam đang diễn ra nhanh với chỉ số già  
hóa là 48,8%, tăng 13,3 điểm phần trăm so với  
năm 2009 và tăng hơn gấp đôi so với năm  
1999(1). Chỉ số già hóa có xu hướng tiếp tục  
tăng lên trong những năm sắp tới.  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp  
người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) hiện đang sinh  
sống tại xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh  
Khánh Hòa liên tục ít nhất 6 tháng bằng bộ câu  
hỏi soạn sẵn được thực hiện từ tháng 6 – 9/2020.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu cắt ngang.  
Cỡ mẫu  
Mặc dù được xem là thành tựu của sự phát  
triển, già hóa dân số đặt ra nhiều thách thức lên  
kinh tế, xã hội, và đặc biệt đối với hệ thống chăm  
sóc y tế. Quá trình lão hóa không chỉ là sự suy  
giảm chức năng các cơ quan như nghe, nhìn, vận  
động; đồng thời gia tăng nguy cơ mắc các bệnh  
lý; vì vậy ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống  
(CLCS) của người cao tuổi. Y văn cho thấy  
những đặc điểm nhân khẩu học như tuổi, tình  
trạng học vấn, hôn nhân, bệnh tật có mối liên hệ  
với CLCS(2,3). Ngoài ra, những đặc điểm xã hội  
trong cộng đồng địa phương cũng được xem là  
một yếu tố quyết định đến sức khỏe và hạnh  
phúc của con người trong cộng đồng đó nói  
chung, và người cao tuổi nói riêng(4). Nhiều y  
văn trên thế giới cho thấy sự tồn tại ảnh hưởng  
của vốn xã hội ở mức độ cộng đồng địa phương  
như niềm tin vào cộng đồng, sự hỗ trợ gắn kết  
trong xã hội đến chất lượng cuộc sống của người  
cao tuổi(5,6,7). Hơn nữa, phần lớn người cao tuổi ở  
Việt Nam hiện đang sống ở nông thôn (72,9%)  
mặc dù phần lớn con cái của họ đã di cư ra  
Cỡ mẫu được tính bằng công thức ước lượng  
một trung bình. Với xác suất sai lầm loại I là 0,05;  
sai số biên của ước lượng là 1,5. Dựa trên nghiên  
cứu của tác giả Lê Thị Quý Như Ý, để có cỡ mẫu  
lớn nhất ở từng lĩnh vực CLCS, lựa chọn độ lệch  
chuẩn điểm số CLCS lớn nhất ở lĩnh vực Tình  
thương (σ=11,56)(9). Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết  
cho nghiên cứu là 228 người.  
Kỹ thuật chọn mẫu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn  
mẫu thuận tiện. Chọn ngẫu nhiên 3 thôn trong 8  
thôn của xã Cam Hòa, số mẫu mỗi thôn cần lấy  
228/3 là 76 người cao tuổi. Tiến hành nghiên cứu  
bắt đầu từ cổng thôn, tuần tự chọn 1 người cao  
tuổi/1 nhà theo phương pháp “cổng liền cổng”.  
Vốn xã hội  
Vốn xã hội là một khái niệm đa chiều, phức  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
119  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
tạp và không có một định nghĩa cụ thể thống  
nhất trên toàn thế giới. Theo Ngân hàng Thế  
giới, vốn xã hội được cấu thành bởi nhiều yếu tố  
mối quan hệ giữa các cá nhân, bản sắc tập thể,  
cộng đồng, sự chia sẻ về hiểu biết, những chuẩn  
mực chung, giá trị chung, niềm tin, hợp tác và  
quan hệ gắn kết xã hội(10). Nghiên cứu của  
Sariyamon Tiraphat cho thấy niềm tin vào cộng  
đồng địa phương là yếu tố dự báo mạnh nhất về  
CLCS ở người cao tuổi(11). Nhiều nghiên cứu đã  
chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa sự gắn kết/hỗ trợ  
đó, đối với tất cả các lĩnh vực, điểm số có thể dao  
động trong khoảng từ 4 đến 20 điểm. Điểm số  
CLCS chung sẽ là tổng điểm số của 24 câu hỏi.  
Về cơ bản, điểm cao thể hiện CLCS cao, điểm  
thấp thể hiện CLCS thấp(13).  
Phân tích và xử lý số liệu  
Dùng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu,  
sau đó dữ kiện được chuyển đổi sang định dạng  
sử dụng cho phần mềm phân tích dữ kiện thống  
kê Stata 14.  
Kiểm định T không bắt cặp, kiểm định  
ANOVA, tương quan Pearson được sử dụng để  
xét mối liên quan giữa điểm số CLCS và các yếu  
tố khác.  
trong cộng đồng địa phương với CLCS(11,12,13)  
.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét  
đặc điểm vốn xã hội ở mức độ cộng đồng địa  
phương trên hai khía cạnh là niềm tin (Hầu hết  
mọi người sẵn sàng giúp đỡ; Môi trường thân  
thiện, gắn bó; Tin tưởng vào hàng xóm; Hòa giải  
khi có vấn đề) và sự gắn kết/hỗ trợ xã hội (Thành  
lập quỹ hỗ trợ; Nhận sự giúp đỡ; Hàng xóm  
giúp đỡ; Lời khuyên; Vay mượn tiền bạc). Đối  
với mục niềm tin, mỗi câu hỏi được đánh giá  
dựa trên thang điểm Likert, từ 1 điểm (rất không  
đồng ý) tới 5 điểm (rất đồng ý). Đối với khía  
cạnh gắn kết/hỗ trợ xã hội, mỗi câu hỏi được  
đánh giá trên thang điểm từ 1 (rất không sẵn  
sàng) tới 4 (rất sẵn sàng). Điểm số sẽ được tính  
bằng cách lấy điểm trung bình của các câu hỏi  
trong từng khía cạnh.  
Sử dụng phép kiểm Kruksal Wallis thay thế  
cho kiểm định ANOVA khi không thỏa điểu  
kiện của phép kiểm ANOVA (phương sai khác  
nhau). Kiểm định có ý nghĩa thống kê khi giá trị  
p <0,05.  
Tương quan Pearson dùng để mô tả mối liên  
quan giữa CLCS với điểm số vốn xã hội.  
KẾT QUẢ  
Nghiên cứu thực hiện trên 228 người từ 60  
tuổi trở lên với tỉ lệ nữ chiếm 51,3% và đa số  
thuộc nhóm 60-69 tuổi (59,7%). Đối tượng tham  
gia nghiên cứu có trình độ học vấn tương đối  
cao với hơn một phần ba người cao tuổi có trình  
độ từ cấp 3 trở lên (38,6%), tiếp theo là trình độ  
học vấn cấp 2 chiếm 26,3%. Về nghề nghiệp, gần  
1/2 các đối tượng đã nghỉ hưu (48,2%), kế tiếp là  
buôn bán (22,4%). Tỉ lệ người cao tuổi đã kết hôn  
trong nghiên cứu khá cao, chiếm 70,2% người  
cao tuổi; 23,2% người cao tuổi góa. Hầu hết  
người cao tuổi (91,2%) hiện đang sống chung với  
người thân. Đối tượng trong nghiên cứu có tỉ lệ  
sử dụng bảo hiểm y tế khá cao, chiếm 75,4%.  
Trong 228 người cao tuổi tham gia nghiên cứu,  
có tới 158 người (69,3%) mắc ít nhất một bệnh  
mãn tính. Trong đó, thường gặp nhất là Tăng  
huyết áp (64,6%). Tỉ lệ người cao tuổi tự đánh  
giá về mức độ hài lòng và tạm được với tình  
trạng kinh tế hiện tại lần lượt là 17,2% và 64,1%  
(Bảng 1).  
Điểm số chất lượng cuộc sống  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ  
câu hỏi WHOQoL-OLD do WHO xây dựng,  
phát triển và sử dụng phổ biển trên thế giới, với  
hơn 20 phiên bản ngôn ngữ các quốc gia(13). Tại  
Việt Nam, phiên bản Tiếng Việt của bộ câu hỏi  
này được xây dựng có độ tin cậy cao, với hệ số  
Cronbach’s Alpha dao động 0,68 – 0,92(15).  
Bộ câu hỏi WHOQoL – OLD bao gồm 24 câu  
hỏi, đánh giá CLCS của người cao tuổi trên 6  
lĩnh vực: Giác quan; Tự chủ; Cái chết; Hoạt động  
quá khứ, hiện tại, tương lai; Hoạt động xã hội;  
Tình thương. Mỗi câu hỏi được đánh giá dựa  
trên thang điểm Likert, từ 1 điểm tới 5 điểm (các  
câu tích cực) và ngược lại, từ 5 điểm tới 1 điểm  
(câu hỏi phủ định). Mỗi lĩnh vực có 4 câu hỏi, do  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
120  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
*Trung vị (khoảng tứ phân vị)  
**Trung bình ± Độ lệch chuẩn  
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=228)  
Đặc điểm  
Tần số  
Tỷ lệ %  
Giới tính  
Tỉ lệ người cao tuổi tham gia ít nhất một hoạt  
động xã hội trong nghiên cứu tương đối thấp,  
chiếm chưa tới một phần ba đối tượng nghiên  
cứu (32%). Hơn 10% người cao tuổi cảm thấy  
không hài lòng với sự quan tâm chăm sóc của  
con cháu; Đồng thời, gần 1/4 người cao tuổi có  
xảy ra mâu thuẫn hoặc xung đột với ít nhất một  
đối tượng khác (Bảng 2).  
Nam  
Nữ  
111  
117  
48,7  
51,3  
Nhóm tuổi  
60 – 69  
70 – 79  
≥80  
136  
76  
59,7  
33,3  
7
16  
Học vấn  
< Cấp 1  
Cấp 1  
59  
21  
61  
87  
25,9  
9,2  
Kết quả Bảng 3 cho thấy điểm số CLCS của  
người cao tuổi có sự chênh lệch giữa các nội  
dung. Lĩnh vực “giác quan” có điểm số cao nhất,  
trong khi lĩnh vực “Hoạt động xã hội” và lĩnh  
vực “Tình thương” có điểm số thấp nhất.  
Nghiên cứu này cũng cho thấy, điểm số CLCS  
chung của người cao tuổi là 66,1 ± 10,9 điểm.  
Cấp 2  
26,3  
38,6  
≥ Cấp 3  
Nghề nghiệp  
Nghỉ hưu  
Nội trợ  
110  
35  
48,2  
15,4  
Buôn bán  
Nông dân  
Khác  
51  
22,4  
27  
11,8  
5
2,2  
Đặc điểm  
Tần số  
Tỷ lệ %  
Bảng 3: Điểm số chất lượng cuộc sống  
Tình trạng hôn nhân  
Trung bình ± độ  
Lĩnh vực  
Độc thân  
9
160  
6
4
lệch chuẩn  
Đã kết hôn  
Ly thân/ ly hôn  
70,2  
2,6  
Giác quan  
Tự chủ  
13 (11 – 15,5)*  
10,9 ± 2,89  
Góa  
53  
208  
23,2  
91,2  
Cái chết  
12,6 ± 3,74  
Tình trạng sống chung (Có)  
Hoạt động quá khứ, hiện tại và tương  
lai  
11,1 ± 2,63  
Nguồn thu nhập  
Lương  
Chu cấp  
41  
74  
71  
42  
18  
Hoạt động xã hội  
Tình thương  
10,6 ± 2,57  
10,6 ± 3,19  
66,1 ± 10,9  
32,5  
31,1  
18,4  
Tích lũy  
CLCS chung  
Lương hưu, trợ cấp XH  
*Trung vị (khoảng tứ phân vị)  
Tình trạng kinh tế  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy  
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm số  
CLCS chung với nhiều đặc điểm dân số xã hội  
của người cao tuổi (Bảng 4). Cụ thể, người ở  
nhóm tuổi càng cao thì có điểm số trung bình  
CLCS chung càng thấp. Người cao tuổi có trình  
độ học vấn càng cao, thì có điểm số trung bình  
CLCS chung càng cao. Về kinh tế, người cao tuổi  
có nguồn thu nhập chính từ lương hưu, trợ cấp  
xã hội và hài lòng với tình trạng kinh tế của bản  
thân có điểm số CLCS chung cao hơn so với các  
đối tượng khác. Về tình trạng hôn nhân, người  
cao tuổi chưa kết hôn có điểm số trung bình  
CLCS cao nhất, thấp nhất là đối tượng người cao  
tuổi có tình trạng hôn nhân là góa.  
Không hài lòng  
Tạm được  
43  
146  
39  
18,8  
64,1  
17,2  
75,4  
69,3  
64,6  
Hài lòng  
BHYT (Có)  
172  
158  
102  
Bệnh mạn tính kèm theo (Có)  
Tăng huyết áp (Có)  
Bảng 2: Đặc điểm yếu tố tinh thần (n=228)  
Đặc điểm  
Tần số Tỷ lệ (%)  
73 32,0  
Tham gia hoạt động XH (Có)  
Mức độ hài lòng với sự quan tâm của con cháu  
Rất/Không hài lòng  
Tạm được  
26  
137  
63  
11,5  
60,6  
27,9  
24,1  
Rất/Hài lòng  
Mâu thuẫn/Xung đột (Có)  
55  
Vốn xã hội  
Niềm tin  
3,75 (3 – 4)*  
2,4 ± 0,42**  
Gắn kết/hỗ trợ xã hội  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
121  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
Bảng 4: Mối liên quan giữa điểm số CLCS chung và các đặc điểm dân số xã hội  
Điểm CLCS  
Trung bình ± ĐLC  
Điểm CLCS  
Trung bình ± ĐLC  
Đặc điểm  
Tần số  
Đặc điểm  
Tần số  
Nhóm tuổi  
Tình trạng kinh tế  
60 –69  
70 –79  
≥ 80  
136  
76  
69,5 ± 8,9  
62,0 ± 11,6  
56,6 ± 11,1  
<0,001b  
Rất/Không hài lòng  
Tạm được  
43  
146  
39  
60,0 ± 11,5  
65,6 ± 9,0  
74,7 ± 11,5  
<0,001b  
16  
Rất/Hài lòng  
Giá trị p  
Giá trị p  
Trình độ học vấn  
Nguồn thu nhập  
< Cấp 1  
Cấp 1  
59  
21  
61  
87  
61,8 ± 13,5  
66,8 ± 9,8  
63,2 ± 7,6  
70,9 ± 9,1  
<0,001b  
Lương  
Chu cấp  
Tích lũy  
41  
74  
71  
69,3 ± 7,8  
59,5 ± 10,6  
66,8 ± 9,3  
73,3 ± 10,2  
<0,001c  
Cấp 2  
≥ Cấp 3  
Lương hưu, trợ cấp XH  
Giá trị p  
42  
Giá trị p  
Tình trạng hôn nhân  
Chưa kết hôn  
Kết hôn  
Góa  
9
160  
53  
6
77,4 ± 13,6  
ĐLC: độ lệch chuẩn  
66,9 ± 9,5  
61,2 ± 12,3  
71,3 ± 9,3  
<0,001c  
b: Kiểm định Kruskal Wallis  
c: Kiểm định Anova  
Ly hôn  
Giá trị p  
hội cũng có trung bình điểm số CLCS chung cao  
hơn so với đối tượng không tham gia. Người cao  
tuổi có xảy ra mâu thuẫn/xung đột cũng được  
tìm thấy có điểm số CLCS chung thấp hơn so với  
đối tượng khác.  
Bảng 5: Mối liên quan giữa điểm số CLCS chung và  
các yếu tố thể chất  
Điểm CLCS  
Trung bình ± độ lệch chuẩn  
Đặc điểm  
Tần số  
Tập thể dục  
Có  
155  
73  
68,5 ± 9,5  
60,9 ± 11,7  
<0,001d  
Bảng 6: Mối liên quan giữa điểm số CLCS chung và  
Không  
các yếu tố tinh thần  
Giá trị p  
Bệnh mãn tính  
Đặc điểm  
Tần số  
Điểm CLCS*  
Có  
158  
70  
67,7 ± 10,6  
72,2 ± 12,8  
<0,006e  
Sự quan tâm của con cháu  
Không  
Rất/ Không hài lòng  
28  
137  
63  
59,1 ± 14,0  
64,6 ± 8,6  
72,3 ± 11,0  
<0,001b  
Giá trị p  
Tạm được  
Hài lòng/ Rất hài lòng  
Giá trị p  
d: Kiểm định t với phương sai không bằng nhau  
e: Kiểm định t với phương sai bằng nhau  
Tham gia hoạt động xã hội  
73  
Xét về đặc điểm các yếu tố thể chất (Bảng 5),  
nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa  
thống kê giữa đặc điểm tập thể dục và bệnh lý  
mãn tính với trung bình điểm số CLCS chung.  
Bảng 6 trình bày mối liên quan có ý nghĩa thống  
kê giữa điểm số CLCS chung với các yếu tố tinh  
thần của người cao tuổi. Sự quan tâm của con  
cháu, tham gia hoạt động xã hội, và mâu  
thuẫn/xung đột cũng được tìm thấy có mối liên  
quan có ý nghĩa thống kê với điểm số CLCS  
chung của người cao tuổi. Cụ thể, người cao tuổi  
càng cảm thấy hài lòng với sự quan tâm của con  
cháu càng có điểm số CLCS chung cao hơn. Các  
đối tượng có tham gia ít nhất một hoạt động xã  
Có  
76,3 ± 11,0  
65,7 ± 10,2  
<0,001e  
Không  
155  
Giá trị p  
Mâu thuẫn/xung đột  
Có  
55  
64,9 ± 13,4  
70,4 ± 10,6  
0,007d  
Không  
173  
Giá trị p  
*Trung bình ±  
Kruskal Wallis  
l ch chu n b: Ki m  
nh  
d: Kiểm định t với phương sai không bằng nhau  
e: Kiểm định t với phương sai bằng nhau  
Nghiên cứu của chúng tôi cũng tìm thấy có  
mối tương quan giữa trung bình điểm số CLCS  
chung với niềm tin, sự gắn kết/hỗ trợ xã hội  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
122  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
trong cộng đồng địa phương (Bảng 7). Đây là các  
tương quan thuận với r >0 và mức độ tương  
quan trung bình/vừa (0,3≤ |r| <0,5).  
trạng hôn nhân. Kết quả này phù hợp với các  
nghiên cứu tại Thái Lan, Thỗ Nhĩ Kỳ, Brazil(17,18,20)  
cũng như nghiên cứu của tác giả Võ Xuân  
Nam(2), Lê Thị Quý Như Ý(9) tại Việt Nam.  
Bảng 7: Mối tương quan giữa điểm số CLCS  
chung và vốn xã hội  
Về đặc điểm yếu tố thể chất, người cao tuổi  
tham gia tập thể dục và không mắc bệnh lý mãn  
tính có điểm số CLCS chung cao hơn so với đối  
tượng khác, đặc điểm này tương đồng so với  
nghiên cứu của Nguyễn Thiên Ân(16). Nhiều  
nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho thấy mối  
liên hệ tích cực giữa tham gia hoạt động thể chất  
hiệu quả với điểm số CLCS nói chung(21,22). Bệnh  
tật không chỉ làm suy giảm sức khỏe, giới hạn  
khả năng vận động thể chất, đồng thời chi phí  
điều trị là một trong những yếu tố tác động tiêu  
cực đến sức khỏe tâm thần, từ đó tác động lên  
nhiều lĩnh vực đời sống của người cao tuổi.  
Khía cạnh  
Niềm tin  
CLCS Chung  
Hệ số tương quan  
Giá trị p của r  
0,4286  
<0,001  
Sự gắn kết/hỗ trợ xã hội  
Hệ số tương quan  
Giá trị p của r  
0,4393  
<0,001  
BÀN LUẬN  
Chất lượng cuộc sống  
Kết quả của nghiên cứu cho thấy điểm số  
trung bình CLCS chung là 66,1 ± 10,9 điểm, thấp  
hơn so với các nghiên cứu tại Việt Nam(2,9,16) và  
trên thế giới(3,17,18). Điều này có thể lí giải bởi vì sự  
hoang mang và lo sợ về đại dịch Covid-19, có thể  
đã tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần từ  
đó ảnh hưởng tới điểm số CLCS của người cao  
tuổi(19). Mặt khác, tác động kinh tế của Covid-19,  
thực hiện giãn cách xã hội, hạn chế việc tổ chức  
các hoạt động tập thể cũng có thể dẫn đến  
những ảnh hưởng đối với tâm lý. Theo nghiên  
cứu, tỷ lệ trầm cảm, căng thẳng sau chấn thương  
(PTSD) - những yếu tố đã được chứng minh có  
ảnh hưởng đáng kể đến CLCS - đã gia tăng đáng  
kể ở người cao tuổi dưới tác động của Covid-  
19(20). Những yếu tố trên phần nào có thể lí giải  
điểm số CLCS ở người cao tuổi trong nghiên cứu  
của chúng tôi khá thấp khi so sánh với các  
nghiên cứu trước đó.  
Sự quan tâm của con cháu, tham gia hoạt  
động xã hội, mâu thuẫn/xung đột cũng được tìm  
thấy có mối liên quan với CLCS của người cao  
tuổi. Cụ thể, người cao tuổi hài lòng với sự quan  
tâm của con cháu, tham gia hoạt động xã hội,  
không có mâu thuẫn/xung đột có điểm số cao  
hơn so với các đối tượng khác. Đặc điểm này  
tương đồng với đa số các nghiên trước đó tại  
Việt Nam, cũng như trên thế giới(9,16,17)  
.
Chất lượng cuộc sống và vốn xã hội  
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy mối  
tương quan thuận giữa niềm tin, sự gắn kết/hỗ  
trợ xã hội trong cộng đồng địa phương với điểm  
số CLCS với mức độ tương quan trung  
bình/vừa. Kết quả này tương đồng với nhiều  
nghiên cứu về vốn xã hội cộng đồng địa phương  
trước đó(6,11,12,23). Mức độ tin tưởng vào cộng đồng  
địa phương cao hơn có thể làm giảm cảm xúc  
tiêu cực, căng thẳng; tăng cảm giác an toàn, tác  
động tích cực đối với sức khỏe tâm thần cũng  
như CLCS trong cộng đồng địa phương(6).  
Tương tự, sự gắn kết/hỗ trợ xã hội giữa những  
người hàng xóm có thể giúp gia tăng hỗ trợ tình  
cảm, nâng cao sự tôn trọng lẫn nhau, từ đó gia  
tăng mức độ hạnh phúc, khả năng tham gia hoạt  
Nghiên cứu này cũng cho thấy lĩnh vực “Cái  
chết” có trung bình điểm số CLCS cao nhất, và  
lĩnh vực “Hoạt động xã hội” có trung bình điểm  
số CLCS thấp nhất, đặc điểm này tương đồng  
với hầu hết các nghiên cứu khác tại Việt  
Nam(2,9,16) và trên thế giới(17,18)  
.
Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy  
mối liên quan giữa điểm số CLCS chung và các  
đặc điểm dân số xã hội như: nhóm tuổi, trình độ  
học vấn, nguồn thu nhập, tình trạng kinh tế, tình  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
123  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
9. Lê Thị Quý Như Ý, Huỳnh Ngọc Vân Anh, Tô Gia Kiên (2017).  
Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi  
tại thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Y học  
Thành phố Hồ Chí Minh, 21(1):234-243.  
động xã hội trong cộng đồng địa phương ở  
người cao tuổi(12).  
KẾT LUẬN  
10. Grootaert C, Narayan D, Jones VN, Woolcock M (2004).  
Measuring social capital: An integrated questionnaire, pp.25-45.  
The World Bank.  
Nghiên cứu được tiến hành ở đối tượng  
người cao tuổi ở một khu vực nông thôn nhằm  
có cái nhìn tổng quát về CLCS của người cao  
tuổi tại nơi đây, tìm ra những mối liên quan giữa  
CLCS và những đặc điểm dân số xã hội, các yếu  
tố về thể chất cũng như các yếu tố về tinh thần  
của người cao tuổi. Kết quả của nghiên cứu này  
là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị giúp cho  
việc hoạch định chính sách nâng cao CLCS của  
người cao tuổi ở địa phương. Đây cũng là đề tài  
mới ở địa phương này. Người cao tuổi ở nhóm  
tuổi càng cao, có trình độ học vấn thấp, không  
hài lòng với tình trạng kinh tế, không nhận được  
sự quan tâm của con cháu có điểm số CLCS thấp  
hơn những người cao tuổi không có những đặc  
điểm này. Sự suy giảm niềm tin và suy giảm sự  
gắn kết/hỗ trợ trong cộng đồng địa phương làm  
giảm CLCS của người cao tuổi.  
11. Tiraphat S, Peltzer K, Thamma-Aphiphol K, Suthisukon K  
(2017). The Role of Age-Friendly Environments on Quality of  
Life among Thai Older Adults. International Journal of  
Environmental Research and Public Health, 14(3):28.  
12. Cramm JM, Van Dijk HM, Nieboer AP (2013). The importance  
of neighborhood social cohesion and social capital for the well  
being of older adults in the community. Gerontologist, 53(1):142-  
152.  
13. Van Dyck D, Teychenne M, McNaughton SA, De  
Bourdeaudhuij I, Salmon J (2015). Relationship of the perceived  
social and physical environment with mental health-related  
quality of life in middle-aged and older adults: mediating effects  
of physical activity. PLoS One, 10(3):e0120475.  
14. WHO (2005). “The WHOQOL-OLD module – manual”. URL:  
https://www.who.int/mental_health/evidence/WHOQOL_OLD  
_Manual.pdf?ua=1.  
15. Phạm Lê Đắc Phú, Võ Quang Trung (2016). Xây dựng và đánh  
giá phiên bản tiếng Việt của bộ câu hỏi WHOQoL - OLD của Tổ  
chức Y tế Thế giới. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):79-85.  
16. Nguyễn Thiên Ân, Nguyễn Thị Thanh Trúc (2019). Chất lượng  
cuộc sống của người cao tuổi Phường Hố Nai, Thành Phố Biên  
Hòa, Tỉnh Đồng Nai năm 2018. Y học Thành phố. Hồ Chí Minh,  
23(2):16-23.  
17. Bilgili N, Arpacı F (2014). Quality of life of older adults in  
Turkey. Archives of Gerontology and Geriatrics, 59(2):415-421.  
18. Hongthong D, Somrongthong R, Ward P (2015). Factors  
Influencing the Quality of Life (Qol) Among Thai Older People  
in a Rural Area of Thailand. Iranian Journal of Public Health,  
44(4):479-485.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung Ương (2019).  
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1  
tháng 4 năm 2019. Nhà xuất bản Thống Kê.  
2. Vo XN, Vo QT, Watanapongvanich S, Witvorapong N (2019).  
Measurement and determinants of quality of life of older adults  
in Ho Chi Minh City, Vietnam. Social Indicators Research,  
142(3):1285-1303.  
19. Banerjee D (2020). How COVID-19 is overwhelming our mental  
health. Nature India Journal, DOI: 10.1038/nindia.2020.46.  
20. Campos AC, Ferreira e Ferreira E, Vargas AM, Albala C (2014).  
Aging, Gender and Quality of Life (AGEQOL) study: factors  
associated with good quality of life in older Brazilian  
community-dwelling adults. Health and Quality of Life Outcomes,  
12:166.  
3. Gambin G, Molzahn A, Fuhrmann AC, Morais E P, Paskulin L  
M (2015). Quality of life of older adults in rural southern Brazil.  
Rural Remote Health, 15(3):3300.  
4. Barton H, Grant M (2006). A health map for the local human  
habitat. Journal of the Royal Society for the Promotion of Health,  
126(6):252-253.  
21. Brown DW, Balluz LS, Heath GW, Moriarty DG, Ford ES, Giles  
WH, Mokdad AH (2003). Associations between recommended  
levels of physical activity and health-related quality of life  
Findings from the 2001 Behavioral Risk Factor Surveillance  
System (BRFSS) survey. Preventive Medicine, 37(5):520-528.  
22. Hsin-Yen Y, Li-Jung L (2018). Quality of life in older adults:  
Benefits from the productive engagement in physical activity.  
Journal of Exercise Science & Fitness, 16(2):49-54.  
5. Johnston R, Propper C, Sarker R, et al (2005). Neighbourhood  
Social Capital and Neighbourhood Effects. Environment and  
Planning A: Economy and Space, 37(8):1443-1459.  
6. Lane A, Wong CH, Močnik S, Song S, Yuen B (2019).  
Association of Neighborhood Social Capital With Quality of Life  
Among Older People in Singapore. Journal of Aging and Health,  
32(7-8):841-850  
23. Leung A, Kier C, Fung T, Fung L, Sproule R (2011). Searching  
for happiness: The importance of social capital. Journal of  
Happiness Studies, 12(3):443-462.  
7. Mackenbach JD, Lakerveld J, Van Lenthe FJ, et al (2016).  
Neighbourhood social capital: measurement issues and  
associations with health outcomes. Obesity Reviews, 17(1):96-107.  
8. Le VH, Pham T, Lindholm L (2011). Elderly care in daily living  
in rural Vietnam: Need and its socioeconomic determinants.  
BMC Geriatrics, 11(1):81.  
Ngày nhận bài báo:  
16/11/2020  
01/02/2021  
10/03/2021  
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
124  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021  
Nghiên cứu Y học  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
125  
pdf 8 trang yennguyen 11400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_cua_nguoi_cao_tuoi_xa_cam_hoa_huyen_cam.pdf