Già hóa chủ động của người cao tuổi tại Hà Nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
GIÀ HÓA CHỦ ĐỘNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HÀ NỘI  
NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Vꢀ Thꢁ Huꢂ, Nguyễn Hà Lâm, Phꢃm Hꢄi Thanh  
Nguyễn Ngọc Khánh và Nguyễn Hữu Thắng  
Viện Đào tạo YHDP &YTCC - Trường Đại học Y Hà Nội  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 502 người cao tuổi nhằm mô tả thực trạng già hóa chủ  
động của người cao tuổi tại Hà Nội và xác định một số yếu tố liên quan. Chúng tôi tiến hành kiểm định lại bộ  
câu hỏi ASS-Thai-36 câu trước khi đưa vào nghiên cứu chính thức. Phân tích ROC curve và phân tích phân  
lớp LCA được sử dụng để xác định điểm phân nhóm đối tượng. Phân tích hồi quy tuyến tính được sử dụng để  
xác định các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy 78,1% NCT (người cao tuổi) có già hóa chủ động chưa tốt  
và 21,9% NCT có già hóa chủ động tốt. Các yếu tố người chăm sóc chính và thu nhập có ảnh hưởng tới già  
hóa chủ động của NCT với p < 0,05. Kết luận, hơn 3/4 NCT tại thành phố Hà Nội có tình trạng già chủ động  
chưa tốt. Thực trạng già hóa chủ động của người cao tuổi bị ảnh hưởng bởi người chăm sóc và thu nhập.  
Từ khóa: Người cao tuổi, già hóa chủ động, Viꢂt Nam  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Hiện nay già hóa dân số là xu hướng biến  
đổi dân số mạnh mẽ nhất, ước tính người cao  
tuổi (NCT) trong tổng dân số thế giới sẽ tăng  
từ 10% (năm 2010) đến 25% (năm 2050).¹ Số  
liệu thống kê cho thấy, hiện nay Việt Nam có  
khoảng 10,2% dân số ở độ tuổi trên 60 tuổi,  
tương đương với gần 10 triệu người.2  
và làm việc để NCT tiếp tꢄc cống hiến và cải  
thiện chất lượng cuộc sống.3 Khái niệm vꢁ già  
hóa chủ động nhấn mạnh sự bꢂnh đẳng, đoàn  
kết và công bằng xã hội, nhꢃn ra ý nghĩa quan  
trọng của giới khi xác định các chiến lược phát  
triển sức khỏe.4  
Một nghiên cứu tại Brazil cho thấy 40,2%  
NCT tham gia các hoạt động văn hóa xã hội,  
25,3% NCT hoạt động thể chất trong thời gian  
rảnh rỗi, 21,7% NCT sử dꢄng Internet, 22,1%  
NCT thực hiện công việc được trả lương và  
chỉ 2,6% NCT tham gia các khóa học.⁵ Tại Thái  
Lan, NCT đã sử dꢄng thời gian của họ trong  
các hoạt động khác nhau, phần lớn dành thời  
gian để ngủ và nghỉ ngơi.⁶ Mỗi yếu tố đꢁu có  
sự ảnh hưởng đến già hóa chủ động theo cách  
khác nhau tꢅy từng khu vực. Một số nghiên cứu  
cho thấy, mức độ già hóa chủ động của NCT  
phꢄ thuộc vào tuổi tác, nơi cư trú, giáo dꢄc, tꢂnh  
trạng hôn nhân, hỗ trợ xã hội, giới, thu nhꢃp,  
công việc, sức khỏe, kiểm tra sức khỏe, chăm  
sóc tꢃp trung và tꢃp thể dꢄc.7,8  
Già hóa dân số nhanh ảnh hưởng trực tiếp  
đến mọi khía cạnh cuộc sống của NCT, kéo  
theo đó nhꢀng thách thức vꢁ kinh tế và xã hội.  
Vꢂ vꢃy già hóa chủ động chính là giải pháp cho  
vấn đꢁ này. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đang  
thúc đẩy các chính sách nhằm tăng quá trꢂnh  
già hóa chủ động - được hiểu là quá trꢂnh tối  
ưu hóa các cơ hội vꢁ sức khỏe, điꢁu kiện sống  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Hữu Thắng,  
Bộ môn Tổ chức và Quản lý Y tế - Viện Đào tạo  
YHDP & YTCC - Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 15/12/2019  
Ngày được chấp nhận: 20/02/2020  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
170  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Dựa vào đó, việc nghiên cứu tꢂm ra các yếu  
tố liên quan ảnh hưởng đến già hóa chủ động  
tại Việt Nam là cần thiết để đưa ra các chính  
sách phꢅ hợp. Bên cạnh đó, các nghiên cứu vꢁ  
già hóa chủ động và các yếu tố liên quan ảnh  
hưởng đến già hóa chủ động ở Việt Nam cꢆn  
hạn chế. Vꢂ vꢃy chúng tôi tiến hành nghiên cứu  
này nhằm: (1) Kiểm định bộ câu hỏi già hóa  
chủ động ASS-Thái Lan; (2) Mô tả tꢂnh trạng già  
hóa chủ động người cao tuổi tại Hà Nội và (3)  
Xác định yếu tố liên quan đến già hóa chủ động  
người cao tuổi tại Hà Nội, năm 2018.  
trả lời phỏng vấn. Có 502/540 người đã hoàn  
thành bảng câu hỏi. Tỷ lệ phản hồi là 92,96%.  
Bộ câu hỏi gồm 2 phần: Phần một là nhân  
khẩu học, bao gồm các biến: tuổi, giới, tôn giáo,  
tꢂnh trạng hôn nhân, trꢂnh độ học vấn, thu nhꢃp  
từ công việc, nợ nần, bệnh đang mắc, sức khỏe  
tự đánh giá, người sống cꢅng, người chăm sóc  
chính, chủ hộ gia đꢂnh, con cái, khu vực sống.  
Phần hai là già hóa chủ động, sau khi kiểm định  
cꢆn 20 câu chia làm 6 phần: Tự chăm sóc (5  
câu), Tham gia các hoạt động xã hội (5 câu),  
Khả năng tài chính (3 câu), Duy trꢂ lối sống lành  
mạnh (3 câu), Chủ động tꢂm tꢆi, học hỏi (2 câu),  
Gắn kết gia đꢂnh (2 câu).  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Bộ câu hỏi AAS 36 bằng tiếng Anh được  
Việt hóa, sau đó thử nghiệm trên 30 NCT. Kết  
quả phân tích nhân tố khẳng định CFA nhằm  
kiểm định cấu trúc bộ câu hỏi AAS-36 được.  
20 ác câu đảm bảo hệ số tải nhân tố > 0,5,  
Giá trị tương quan > 0,5, AVE > 0,5, CR > 0,7,  
Eigenvalues khởi tạo > 1, Hệ số Cronbach’s  
Alpha > 0,8.⁹  
Người được chọn để trả lời phỏng vấn phải  
là người từ 60 tuổi trở lên sống trong cộng đồng;  
không bị khuyết tꢃt nặng, mất trí nhớ nghiêm  
trọng hoặc rối loạn tâm thần và có thể hiểu, nói  
tiếng Việt. Nếu hộ gia đꢂnh nào có nhiꢁu hơn  
một người lớn tuổi đáp ứng các tiêu chí trên  
thꢂ chúng tôi thực hiện lấy mẫu ngẫu nhiên đơn  
bằng cách đặt tất cả tên của họ vào 1 nhóm và  
chọn ra 1 người.  
3. Xử lý số liꢂu  
Kết quả của phân tích được khẳng định  
bằng mô hꢂnh cấu trúc SEM với các hệ số:  
CMIN/DF < 3, RMSEA < 0,08, SRMR < 0,08,  
GFI > 0,9, CF > 0,9.⁹ Vꢁ tꢂm điểm chia hợp lý,  
chúng tôi xác định phân lớp đối tượng bằng  
phân tích Lantent class analysis (LCA). Số  
phân lớp tốt nhꢃt được dựa vào các thông số:  
sự thấp nhất của tiêu chí thông tin Bayes (BIC)  
và tiêu chí thông tin Akaike (AIC) cꢅng sự cao  
nhất của chỉ số biện pháp Entropy. Phân tích  
biểu đồ đường cong ROC được sử dꢄng với  
từng phân lớp của LCA để xác định điểm chia  
phꢅ hợp nhất. Điểm chia tốt nhất tương ứng  
với chỉ số Youden’s Index cao nhất. Để tꢂm ra  
yếu tố liên quan của già hóa chủ động, hồi quy  
đa biến được sử dꢄng để xác định các yếu tố  
ảnh hưởng. Kết quả có ý nghĩa thống kê với giá  
trị p < 0,05.  
2. Phương pháp  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện  
trên 540 NCT. Mẫu được chọn ngẫu nhiên từ 6  
quꢃn của Hà Nội bằng cách sử dꢄng kỹ thuꢃt  
lấy mẫu phân tầng để đảm bảo tính đại diện  
cho NCT tại Hà Nội. Phương pháp đã được  
sử dꢄng để chọn đối tượng nghiên cứu là lấy  
mẫu ngẫu nhiên gồm bốn giai đoạn: Chọn quꢃn  
(6 quꢃn/huyện) gồm 3 quꢃn nội thành (huyện  
Đống Đa, huyện Long Biên, huyện Nam Từ  
Liêm) và 3 quꢃn ngoại thành (huyện Đông Anh,  
huyện Thanh Trꢂ và huyện Thanh Oai), chọn  
ra 2 xã/phường ở mỗi quꢃn/huyện xã/phường  
(12 xã/phường), chọn ra 3 thôn/tổ dân phố ở  
mỗi quꢃn/huyện (36 thôn/tổ dân phố) và chọn  
đối tượng phỏng vấn tại từng hộ gia đꢂnh (540  
người). Tổng số 540 người đã được chọn để  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
171  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
4. Đꢃo đức nghiên cứu  
nhóm tuổi 61 - 70 tuổi, nꢀ nhiꢁu hơn nam và  
75,5% NCT đã từng kết hôn. Bên cạnh đó tỉ  
lệ người chưa tốt nghiệp cấp 3 chiếm hơn 4/5  
tổng số. Chiếm 77% NCT không có thu nhꢃp  
và hầu hết họ không có bất kỳ khoản nợ nào.  
Chiếm gần 2/3 NCT cho biết họ không mắc  
bệnh nào. Đa số NCT sống cꢅng người thân  
(91,4%) trong đó xấp xỉ 5% người cao tuổi  
không có con cái. Hơn ½ NCT là chủ sở hꢀu  
nhà ở. Khoảng 30% người già không thể tự  
chăm sóc được cho bản thân mà cần đến sự  
giúp đỡ của người khác.  
Nghiên cứu là một phần trong nghiên cứu  
được thực hiện tại 5 nước châu Á doTrường  
Đại học Mahidol, Thái Lan chịu trách nhiệm  
chính và đã được phê duyệt tại hội đồng kiểm  
định của Trường Đại học Manhidol Thái Lan  
ngày 10/03/2018 với mã số 2018/218.2809.  
III. KẾT QUẢ  
1. Thông tin đối tượng nghiên cứu  
Độ tuổi trung bꢂnh của đối tượng nghiên  
cứu là 68,3 ± 7,3 tuổi, gần 2/3 đối tượng thuộc  
2. Kiểm đꢁnh thang đo  
Biểu đồ 1. Biểu đồ SEM  
Các chỉ số của mô hꢂnh: CMIN/DF = 3,163; RMSEA = 0,066; SRMR = 0,059; GFI = 0,909; CFI =  
0,909.  
Bộ công cꢄ được sắp xếp lại theo một trꢂnh tự hợp lý và chia thành 6 nhóm, gồm 20 câu: Tự chăm  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
172  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
sóc (5 câu), Tham gia các hoạt động xã hội (5 câu), Khả năng tài chính (3 câu), Duy trꢂ lối sống lành  
mạnh (3 câu), Chủ động tꢂm tꢆi, học hỏi (2 câu), Gắn kết gia đꢂnh (2 câu).  
3. Thực trꢃng già hóa chủ động của người cao tuổi tꢃi Hà Nội  
Bꢄng 1. Bꢄng kết quꢄ ROC với các phân lớp của LCA  
Phân nhóm  
đối tượng  
Trung  
bình  
Điểm  
chia  
Độ  
Độ  
Chỉ số  
N
ĐLC  
p-value  
nhꢃy  
đặc hiꢂu  
Youden  
Phân nhóm 1  
Phân nhóm 2  
Phân nhóm 3  
Phân nhóm 4  
Phân nhóm 5  
106  
129  
69  
71,2  
63,7  
60,9  
55,0  
49,1  
4,7  
3,9  
4,3  
6,6  
6,4  
67,5  
61,5  
60,5  
56,5  
-
79,2%  
83,0%  
81,0%  
80,6%  
-
6,6%  
19,5%  
15,2%  
12,5%  
-
72,7%  
63,5%  
66,1%  
68,1%  
-
0,00  
118  
80  
Có 5 mức độ già hóa chủ động đã được tꢂm thấy bởi LCA. Kết quả cho thấy, điểm cắt tối ưu là  
67,5 với độ nhạy là 79,20%, độ đặc hiệu là 6,60% và chỉ số Youden cao nhất là 72,70%. Người cao  
tuổi có điểm già hóa chủ động ≥ 67,5 có mức độ già hóa chủ động tốt.  
Biểu đồ 2. Biểu đồ phân nhóm già hóa chủ động  
Biểu đồ 2 cho thấy hơn 3/4 đối tượng nghiên cứu có mức già hóa chủ động chưa tốt.  
4. Yếu tố ꢄnh hưởng đến già hóa chủ động  
Kết quả phân tích hồi quy đơn biến cho người chăm sóc, thu nhꢃp có ảnh hưởng tới già hóa chủ  
động của người cao tuổi với p < 0,05. NCT tự chăm sóc có phân mức già hóa chủ động không tốt  
hơn gấp 2,8 lần so với NCT có người chăm sóc. NCT có thu nhꢃp có phân mức già hóa chủ động  
không tốt cao hơn 1,9 lần so với NCT không có thu nhꢃp.  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
173  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bꢄng 2. Kết quꢄ phân tích hồi quy đơn biến  
Phân mức già hóa  
chủ động  
95% CI  
Đặc điểm  
OR  
p-value  
Không tốt  
Tốt  
Mức dưới Mức trên  
294  
(74,2%)  
91  
(85,8%)  
Tự chăm sóc  
Người  
chăm sóc  
2,8  
1,8  
0,1  
4,2  
0,4  
0,00  
102  
(25,8%)  
15  
(14,2%)  
Người khác  
Có  
128  
(32,3%)  
21  
(19,8%)  
Thu nhꢃp  
1,9  
0,00  
268  
(67,7%)  
85  
(80,2%)  
Không  
IV. BÀN LUẬN  
Nghiên cứu của chúng tôi đã đưa ra bằng  
chứng vꢁ có 78,1% NCT tại Hà Nội có mức  
già hóa chủ động chưa tốt và 21,9% NCT có  
mức già hóa chủ động tốt. Nghiên cứu tại Thái  
Lan của Autchariya Punyakaew (2019) có tỷ lệ  
già hóa chủ động tốt cao hơn với gần 60% đối  
tượng tham gia đạt giá hóa chủ động ở mức  
cao.13 Sự khác nhau giꢀa hai nghiên cứu có thể  
giải thích do sự chênh lệch vꢁ phát triển kinh tế  
xã hội và văn hóa giꢀa hai quốc gia. Mặt khác,  
việc hạn chế vꢁ quy mô nghiên cứu và phạm  
vi nghiên cứu không trải dọc trên cả nước như  
nghiên cứu tại Thái Lan cũng khiến cho kết quả  
giꢀa hai nghiên cứu có sự chênh lệch.  
Bộ công cꢄ kiểm định của Việt Nam sử dꢄng  
bộ AAS-Thai-36 câu sau khi đã kiểm định cꢆn  
20 câu và cꢆn 6/7 lĩnh vực được giꢀ lại, trừ lĩnh  
vực Tâm linh. Hiện nay, bộ công cꢄ đánh giá  
già hóa chủ động dựa vào chỉ số AAS được  
phát minh và sử dꢄng bởi 28 quốc gia trong  
khối Liên minh châu Âu EU.10 Do sự chênh lệch  
lớn vꢁ trꢂnh độ phát triển giꢀa các quốc gia phát  
triển của EU và Việt Nam nên chúng tôi không  
sử dꢄng bộ công cꢄ này. Sở dĩ chúng tôi sử  
dꢄng bộ công cꢄ AAS-Thai 36 câu vꢂ sự tương  
đồng giꢀa nꢁn văn hóa, kinh tế, xã hội, chủng  
tộc, tôn giáo của hai nước và tính khả thi có thể  
nhꢂn thấy của bộ công cꢄ.  
Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy  
yếu tố người chăm sóc và thu nhꢃp có ảnh  
hưởng tới già hóa chủ động của người cao  
tuổi với p < 0,05. Các yếu tố như tuổi, giới, con  
cái, khu vực sống, giáo dꢄc, bệnh tꢃt không  
ảnh hưởng đến già hóa chủ động của người  
cao tuổi. Mặt khác, nghiên cứu của Autchariya  
Punyakaew chỉ ra rằng, mức độ già hóa chủ  
động không phꢄ thuộc vào các yếu tố khác như  
tuổi, hôn nhân, học vấn, tꢂnh trạng sức khỏe,  
việc làm và tꢂnh trạng gia đꢂnh.13 Sự khác biệt  
này có thể được giải thích bởi trꢂnh độ phát triển  
kinh tế xã hội, chế độ hưu trí có sự chênh lệch  
Thái Lan và Việt Nam đꢁu là các quốc gia  
đa tôn giáo, đặc biệt phần lớn dân cư theo đạo  
Phꢃt.11,12 Từ năm 2004 đến nay, khu vực miꢁn  
Nam Thái Lan phải hứng chịu nhiꢁu cuộc xung  
đột tôn giáo.11 Tại Việt Nam đã công nhꢃn nhiꢁu  
tôn giáo hoặc có nhꢀng biện pháp pháp lý phꢅ  
hợp làm dịu căng thẳng giꢀa các tôn giáo.12  
Nhờ vꢃy, tôn giáo vẫn nằm trong tầm kiểm soát  
của chính phủ Việt Nam, chưa gây ra nhꢀng  
thiệt hại lớn và ảnh hưởng sâu đến đời sống  
nhân dân giống như nhꢀng cuộc biểu tꢂnh và  
khủng bố tại Thái Lan.  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
174  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
nhất định giꢀa hai quốc gia. Tại Thái Lan, hệ  
thống hưu trí phát triển từ năm 2009 cho phép  
90% NCT được nhꢃn lương hưu hoặc bất kỳ  
loại trợ cấp nào từ nguồn ngân sách nhà nước,  
tối thiểu mỗi tháng là khoảng 451.000 VNĐ đối  
với người từ 60 - 69 tuổi và khoảng 768.000  
VNĐ đối với người trên 80 tuổi.14 Trong khi đó,  
tại Việt Nam, tỷ lệ NCT được nhꢃn trợ cấp hàng  
tháng và số tiꢁn được trợ cấp đꢁu ít hơn, theo  
Khoản 5 Điꢁu 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP  
quy định mức trợ cấp đối với NCT trên 80 tuổi  
là 270.000 VNĐ/tháng, trong đó chỉ có khoảng  
30% NCT được có lương hưu hoặc nhꢃn trợ  
cấp hàng tháng như trên theo thống kê Bảo  
hiểm xã hội 2015. Mặt khác, yếu tố người chăm  
sóc ảnh hưởng đến già hóa chủ động có thể  
giải thích do truyꢁn thống văn hóa của Việt Nam  
là con cái có trách nhiệm chăm sóc và phꢄng  
dưỡng cha mẹ vꢁ khi vꢁ già, vꢂ vꢃy NCT phꢄ  
thuộc rất nhiꢁu vào sự chăm sóc của con cái.  
Bên cạnh đó, tại Việt Nam cꢆn tồn tại nhiꢁu mô  
hꢂnh gia đꢂnh hạt nhân – gia đꢂnh hai thế hệ  
gồm cha mẹ và con cái, cha mẹ sống chung  
cꢅng các con và khi vꢁ già, cha mẹ sẽ được  
sự chăm sóc trực tiếp và cũng phần lớn nhất  
từ phía con cái của mꢂnh. Vꢂ vꢃy việc có người  
chăm sóc tốt có thể sẽ tác động lớn đến già hóa  
chủ động của NCT.  
LỜI CẢM ƠN  
Nhóm nghiên cứu gửi lời cảm ơn đến Trường  
Đại học Manhidol, tất cả nhꢀng cộng sự tham  
gia vào nghiên cứu và chính quyꢁn địa phương  
đã giúp nghiên cứu được thực hiện thành công.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. United Nation Fund Population. Ageing  
report. UNFPA Vietnam. 2019.  
2. Tổng cꢄc Dân số. Hội thảo phổ biến chính  
sách, pháp luꢃt vꢁ chăm sóc sức khỏe người  
cao tuổi. 2019.  
3. Álvarez-García J, Durán-Sánchez A, Del  
Río-Rama M. de la C. Active Ageing: Mapping  
of Scientific Coverage. Int J Environ Res Public  
Health, 2018.12:1512-2727.  
4. Berenson G. Healthy ageing: A challenge  
for Europe. Swed Natl Inst Public Health. 2006;  
203:1-9.  
5. Sousa NF da S, Lima MG, Cesar CLG,  
et al. Active aging: prevalence and gender and  
age differences in a population-based study.  
Cad Saude Publica, 2019.11:173-317.  
6. Punyakaew A, Lersilp S, and Putthinoi S.  
Active Ageing Level and Time Use of Elderly  
Persons in a Thai Suburban Community. Occup  
Ther Int, 2019:709-2695.  
7. Wongkeenee W, Chintanawat R and  
Sucamvang K. Factors predicting active ageing  
among population of Mueang District, Chiang  
Mai Province. Nurs J (Manila). 2013;40(4):91-  
99.  
V. KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên 3/4 người  
cao tuổi có mức độ già hóa chủ động chưa tốt.  
Tỷ lệ này này tương đối cao từ đó cho thấy tính  
cấp thiết trong việc hỗ trợ và giải quyết các vấn  
đꢁ vꢁ người cao tuổi của chính quyꢁn Hà Nội.  
Xã hội cần đặc biệt quan tâm tới vấn đꢁ người  
chăm sóc và việc làm nhằm giải quyết vấn đꢁ  
kinh tế cho người cao tuổi. Bên cạnh đó, cần có  
nhꢀng nghiên cứu tiếp theo vꢁ các yếu tố liên  
quan đến mức độ già hóa chủ động của người  
cao tuổi để có cái nhꢂn sâu hơn vꢁ vấn đꢁ này.  
8. S.Saengprachaksakula.Thedeterminants  
of Thai active ageing level. Songklanakarin J  
Soc Sci Humanit. 2015;21(1):139–167.  
9. Hair JF, ed. Multivariate Data Analysis.  
Pearson; 2014.  
10. UNECE Statswiki. Active Ageing Index.  
UNECE Statswiki. 2018.  
11. Nguyễn Hồng Quang. Giải quyết xung  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
175  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
đột tôn giáo-sắc tộc ở miꢁn Nam Thái Lan từ  
thời kỳ thủ tướng Yinglick đến nay. Religious  
Studies. 2015; 147: 76–84.  
Persons in a Thai Suburban Community.  
Occupational Therapy International. 2019;  
2019: 709-2695.  
12. Nguyễn Hồng Dương. Nhꢀng thách  
thức của đa dạng tôn giáo tại Việt Nam hiện  
nay. Religious Studies. 2015. 148: 3–30.  
13. Punyakaew A., Lersilp S., and Putthinoi  
S. Active Ageing Level and Time Use of Elderly  
14. United Nations Population, UNFPA. Old  
age income security in Thailand: Work, family  
and social protection. United Nations Population  
and UNFPA. 2017.  
Summary  
ACTIVE AGING AMONG ADULT ELDERLY IN HANOI IN 2018  
AND SOME RELATED FACTORS  
A cross – sectional study was conducted to describe the reality active ageing of the elderly  
people in Hanoi and some related factors. The study was conducted on the 502 elderly people  
in Hanoi. We retested the ASS questionnaire in this study. ROC curve analysis and LCA were  
used to determine the cutoff point to divide in groups. Linear regression was used to identify  
influencing factors. The results showed that 78.1% people had a poor active aging level and  
21.9% people with a good active aging level. The factors such as main caregiver and income  
affected the active aging level with p < 0.05. Conclusion, over 3/4 elderly people in Hanoi had a  
poor active aging level. The reality active aging was affected by main caregiver and income.  
Key words: elderly, active ageing, Vietnam  
TCNCYH 126 (2) - 2020  
176  
pdf 7 trang yennguyen 13600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Già hóa chủ động của người cao tuổi tại Hà Nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_hoa_chu_dong_cua_nguoi_cao_tuoi_tai_ha_noi_nam_2018_va_m.pdf