Điều tra tỷ lệ mắc táo bón và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện lão khoa Trung ương

TCNCYH Phụ trương 91 (5) - 2014  
ĐIỀU TRA TỶ LỆ MẮC TÁO BÓN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG  
Hồ Thị Kim Thanh1, Nguyễn Thị Lương2  
1 Trưꢀng ꢁꢂꢃ hꢄꢅ Y Hꢆ Nꢇꢃꢈ 2 ꢉꢊnh ꢋꢃꢊn ꢌꢍꢎ ꢏhꢎꢐ trꢑng ương  
Nghꢃꢒn ꢅꢓꢑ ꢔưꢕꢅ thꢖꢅ hꢃꢊn nhꢗꢘ ꢏhꢙꢎ ꢚꢛt tꢜ ꢌꢊ ꢘꢝꢅ tꢛꢎ ꢞꢟn ꢅꢠꢐ ꢞꢊnh nhꢡn ꢅꢐꢎ tꢑꢢꢃ ꢔꢃꢣꢑ trꢤ nꢇꢃ trꢥ tꢂꢃ ꢉꢊnh ꢋꢃꢊn  
ꢌꢍꢎ ꢏhꢎꢐ trꢑng ương ꢋꢆ ꢅꢛꢅ ꢦꢧꢑ tꢨ ꢌꢃꢒn ꢩꢑꢐnꢪ ꢁꢃꢣꢑ trꢐ ꢅꢝt ngꢐng 124 ngưꢀꢃ ꢞꢊnh nꢇꢃ trꢥ nꢗꢘ ꢋꢃꢊn ꢫt nhꢬt 1 tꢑꢭnꢈ tꢬt  
ꢅꢙ ꢔꢣꢑ ꢔưꢕꢅ thꢮꢘ ꢏhꢛꢘ ꢌꢡꢘ ꢚꢆngꢈ ꢔꢃꢣꢑ trꢐ ꢏhꢯꢑ ꢰhꢭn ꢮn ꢑꢨng 24 gꢃꢀ ꢋꢆ ꢌꢆꢘ ꢞꢊnh ꢛn thꢱꢎ ꢘꢲꢑ thꢨng nhꢬtꢪ ꢳꢧt ꢩꢑꢙ  
ꢅhꢎ thꢬꢦꢴ tꢜ ꢌꢊ tꢛꢎ ꢞꢟn ꢅꢠꢐ ꢞꢊnh nhꢡn ꢔꢃꢣꢑ trꢤ nꢇꢃ trꢥ tꢂꢃ ꢉꢊnh ꢋꢃꢊn ꢵꢍꢎ ꢳhꢎꢐ trꢑng ương ꢌꢆ ꢶ4ꢈꢷꢸꢹ tꢜ ꢌꢊ ꢞꢊnh nhꢡn  
ꢅꢟ tꢃꢣn ꢚꢺ tꢛꢎ ꢞꢟn ꢌꢆ ꢻ2ꢈ9ꢸꢪ ꢳhꢼng ꢅꢟ ꢚꢖ ꢏhꢛꢅ ꢞꢃꢊt rꢽ rꢊt ꢋꢣ tꢜ ꢌꢊ ꢘꢝꢅ tꢛꢎ ꢞꢟn gꢃꢾꢐ 2 gꢃꢿꢃꢪ Tꢜ ꢌꢊ ꢘꢝꢅ tꢛꢎ ꢞꢟn ꣀ ngưꢀꢃ  
trꢒn ꢷ0 tꢑꢢꢃ ꢌꢆ 41ꢈꢶꢸꢈ ꢅhꢧ ꢔꢇ ꢮn ꢫt ꢅhꢬt ꣁơ (ꣂ 10 gꢐꢘꣃngꢆꢦ) ꢌꢆ 41ꢈꢷꢸꢈ ꢮn ꢩꢑꢐ ꢚꢎn꣄ꢱ ꢷꢶꢈꢶꢸꢈ ꢑꢨng ꢫt nưꢿꢅ ꣂ 500 ꢘꢌꣃ  
ngꢆꢦ ꢌꢆ 55ꢈꢻꢸꢈ hꢂn ꢅhꢧ ꢋꣅn ꢔꢇng ꢌꢆ 40ꢈ9ꢸꢈ ꢷ4ꢈ4ꢸ ꢅꢛꢅ trưꢀng hꢕꢰ tꢛꢎ ꢞꢟn ꣁꢑꢬt hꢃꢊn ꢚꢐꢑ ꢏhꢃ ꢋꢆꢎ ꢋꢃꢊnꢪ ꢳꢧt ꢌꢑꣅnꢴ Tꢜ  
ꢌꢊ tꢛꢎ ꢞꢟn ꢅꢠꢐ ꢞꢊnh nhꢡn ꢔꢃꢣꢑ trꢤ nꢇꢃ trꢥ tꢂꢃ ꢉꢊnh ꢋꢃꢊn ꢵꢍꢎ ꢳhꢎꢐ trꢑng ương ꢌꢆ ꢶ4ꢈꢷꢸꢹ tꢜ ꢌꢊ ꢞꢊnh nhꢡn ꢅꢟ tꢃꢣn ꢚꢺ tꢛꢎ  
ꢞꢟn ꢌꢆ ꢻ2ꢈ9ꢸꢪ Cꢛꢅ ꢦꢧꢑ tꢨ ngꢑꢦ ꢅơ tꢛꢎ ꢞꢟn ꣀ ngưꢀꢃ ꢅꢐꢎ tꢑꢢꢃꢴ Tꢑꢢꢃ ꣆ ꢷ0ꢈ ꢅhꢧ ꢔꢇ ꢮn ꢫt ꢅhꢬt ꣁơ (ꣂ 10 gꢐꢘꣃngꢆꢦ)ꢈ ꢮn ꢩꢑꢐ  
ꢚꢎn꣄ꢱꢈ ꢑꢨng ꢫt nưꢿꢅꢈ hꢂn ꢅhꢧ ꢋꣅn ꢔꢇngꢈ ꢰhꢙꢃ nꢗꢘ ꢋꢃꢊn ꢏ꣇ꢎ ꣄ꢆꢃꢪ  
Từ khóa: táo bón, người cao tuổi  
lượng sống và làm diễn biến bệnh lý của người mắc  
bệnh mạn tính ngày càng nặng hơn. Táo bón kéo dài có  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
thể gây ra các chứng bệnh khác như trĩ, sa trực tràng,  
Táo bón là hiện tượng đại tiện khó khăn do phân lưu  
ung thư trực tràng, chảy máu, rách hậu môn, tăng nguy  
giữ trong ruột quá lâu làm cho số lần đi ngoài ít dưới  
cơ nhồi máu não hoặc xuất huyết não ở người cao tuổi  
3 lần/tuần, phân thường khô cứng [1]. Đây là một hội  
có bệnh lý tim mạch…[6]. Có nhiều nguyên nhân gây  
chứng rất phổ biến mà trong cuộc sống mỗi con người  
ra táo bón: do chế độ ăn ít chất xơ, uống ít nước, thói  
ai cũng có lúc mắc phải. Hội chứng này gặp ở mọi lứa  
quen nhịn đi ngoài, do thuốc, do bệnh tật, tổn thương  
tuổi, mọi giới, mọi ngành nghề. Tại Hoa Kỳ mỗi năm có  
thực thể ở đại tràng, hậu môn trực tràng, tổn thương  
khoảng 4,5 triệu người bị ảnh hưởng dài ngày của táo  
não tủy sống. [7]. Tùy theo nguyên nhân mà ta lựa  
bón, các đối tượng thường gặp là trẻ em, phụ nữ, người  
chọn phương pháp điều trị táo bón phù hợp và hiệu quả  
cao tuổi. Tỷ lệ mắc táo bón ở nam là 26 %, ở nữ là 34  
như thay đổi chế độ ăn, tập thể dục, dùng thuốc nhuận  
%, 3% số trẻ đến khám nhi và 25 % số trẻ khám tiêu  
tràng, điều trị các bệnh kèm theo... Ở người cao tuổi,  
hóa nhi do táo bón, 30 - 40% những người trên 65 tuổi.  
chức năng các cơ quan trong cơ thể giảm sút, chức  
Mỗi năm tại Hoa Kỳ chi khoảng 725 triệu đô la cho việc  
năng hệ tiêu hóa cũng giảm đi, khả năng nhai giảm, chế  
chữa trị táo bón bằng thuốc nhuận tràng [2]. Theo điều  
độ ăn ít chất xơ, uống ít nước, hạn chế vận đông, có  
tra của Bộ Y tế Trung Quốc, khoảng 130 triệu người  
các bệnh kèm theo...nên người cao tuổi có nguy cơ cao  
đang có những vấn đề về chứng táo bón, trong đó 75%  
mắc táo bón. Trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện  
có chứng táo bón mạn tính [3]. Theo nghiên cứu của  
Lão khoa Trung ương, triệu chứng táo bón ở các bệnh  
Robain và cộng sự, tỷ lệ táo bón ở bệnh nhân tai biến  
nhân điều trị nội trú là khá thường gặp, vì vậy nghiên  
mạch máu não đang trong thời kì phục hồi chức năng  
cứu này được thực hiện nhằm hai mục tiêu:  
lên tới trên 60% [4]. Ở Việt Nam chưa có số liệu thống  
1. Xác định tỷ lệ táo bón ở bệnh nhân điều trị nội trú tại  
Bệnh viện Lão khoa Trung ương.  
kê cụ thể về chứng táo bón trên toàn quốc, nhưng qua  
điều tra của Hà Văn Ngạc về thói quen đại tiện ở 2127  
người bình thường cho thấy số người đại tiện ≥ 4 ngày/  
lần chiếm tỷ lệ 1,68% [5]. Táo bón ảnh hưởng tới chất  
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng táo  
bón ở người cao tuổi  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
ꢁꢤꢐ ꢅh꣈ ꢌꢃꢒn hꢊꢴ H꣉ Thꢤ ꢳꢃꢘ Thꢐnhꢈ ꢉꢇ ꢘꢼn Nꢇꢃ tꢢng hꢕꢰꢈ  
trưꢀng ꢁꢂꢃ hꢄꢅ Y Hꢆ Nꢇꢃ  
1. Đối tượng  
꣊ꢘꢐꢃꢌꢴ thꢐnhhꢎꢏꢃꢘ꣋ꢦꢐhꢎꢎꢪꢅꢎꢘ  
Ngꢆꢦ nhꣅnꢴ 22ꣃ꣌ꣃ2014  
- Chọn tất cả các bệnh nhân điều trị nội trú tại 3 khoa  
của Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 12/2013  
Ngꢆꢦ ꢅhꢬꢰ thꢑꣅnꢴ 1ꢻꣃ11ꣃ2014  
73  
TCNCYH Phụ trương 91 (5) - 2014  
đến tháng 3/2014.  
- Thời gian đại tiện kéo dài.  
- Thời gian đã điều trị tại viện ≥ 7 ngày.  
- Bệnh nhân đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu.  
- ꢵꢎꢂꢃ tr꣍ꢴ Bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính, phải  
3. Xử lý số liệu: bằng chương trình SPSS phiên  
bản 15.0.  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Nghiên cứu tuân thủ các qui tắc về đạo đức trong  
nghiên cứu y sinh. Các đối tượng nghiên cứu đồng  
thuận tham gia và có thể rút lui bất kỳ khi nào nếu không  
đồng ý. Thông tin về đối tượng cũng như kết quả nghiên  
cứu được bảo mật theo qui định.  
điều trị tích cực.  
2. Phương pháp  
-
Phương pháp nghiên cứu: dịch tễ học mô tả, cắt  
ngang  
- Mỗi bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được hỏi và  
trả lời trực tiếp theo bộ câu hỏi phỏng vấn và phiếu hỏi  
ghi khẩu phần ăn theo phương pháp nhớ lại khẩu phần  
ăn 24h đã được thiết kế sẵn,  
III. KẾT QUẢ  
1 Đặc điểm chung  
Chẩn đoán táo bón theo tiêu chuẩn Rome III:  
Táo bón chức năng được xác định khi có ít nhất 2  
trong 6 tiêu chuẩn sau:  
Điều tra 124 bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện  
Lão Khoa trung ương tại các khoa: Nội tổng hợp, Nội  
tiết chuyển hóa, Tâm thần kinh từ tháng 12/2013 đến  
tháng 3/2014. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là  
73,7 ± 11,5, cao nhất là 92 tuổi, thấp nhất là 50 tuổi,  
trong đó nhóm bệnh nhân ≥ 70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất  
64,5%. Nhóm nghiên cứu có 45,2% nam; 54,8% nữ.  
2. Tỷ lệ mắc táo bón và các yếu tố liên quan  
- Đại tiện dưới 3 lần/tuần.  
- Rặn nhiều, lâu khi đại tiện.  
- Phân khô cứng, màu đen hay vón cục.  
- Đại tiện xong vẫn không thấy hết phân.  
- Cảm thấy như bị nghẽn tắc vùng hậu môn trực tràng.  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ táo bón  
Tỷ lệ mắc táo bón của nhóm nghiên cứu là 34,7%. Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử bị táo bón là 62,9%.  
Bảng 1. Tỷ lệ táo bón theo tuổi, giới  
Táo bón  
Tỷ lệ (%)  
Không táo bón  
OR  
(95% CI)  
Đặc điểm  
n
n
Tỷ lệ (%)  
58,7  
≥ 70  
< 70  
Nam  
Nữ  
33  
10  
24  
19  
41,3  
22,7  
42,9  
27,9  
47  
34  
32  
49  
2,39  
(1,34 - 3,56)  
Tuổi  
Giới  
77,3  
57,1  
1,93  
(0,90 - 4,14)  
72,1  
Nhóm bệnh nhân ≥ 70 tuổi có tỷ lệ táo bón gấp 2,39 lần nhóm bệnh nhân < 70 tuổi, sự khác biệt này có ý nghĩa  
thống kê với 95% CI (1,34 - 3,56).  
74  
TCNCYH Phụ trương 91 (5) - 2014  
Bảng 2. Tỷ lệ táo bón theo thời gian xuất hiện  
Thời gian xuất hiện táo bón  
Trước vào viện  
Sau vào viện  
n
Tỷ lệ (%)  
25,6  
11  
32  
43  
74,4  
Tổng  
100  
Hầu hết táo bón xuất hiện sau khi vào viện với tỷ lệ 74,4%  
Bảng 3. Mối liên quan giữa táo bón và lượng chất xơ, lượng nước uống trong khẩu phần ăn 24h  
Táo bón  
Tỷ lệ (%)  
Không táo bón  
OR  
95% CI  
Lượng chất xơ/nước uống  
n
40  
3
n
Tỷ lệ (%)  
58,3  
< 10gram/ngày  
≥ 10gram/ngày  
41,7  
10,7  
55,6  
47,8  
22,2  
10,0  
56  
25  
16  
12  
35  
18  
5,95 (1,32 - 11,3 )  
89,3  
≤ 500 ml/ngày  
20  
11  
10  
2
44,4  
11,2 (1,8 - 68,5)  
8,2 (1,3 - 52,9)  
2,6 (0,5 - 13,4)  
1
500 – 999 ml/ngày  
1000 – 1499 ml/ngày  
≥ 1500 ml/ngày  
52,2  
77,8  
90,0  
100% các bệnh nhân mắc táo bón có lượng chất xơ ăn hàng ngày thấp < 15 gram/ngày. Nhóm có lượng chất xơ  
trong khẩu phần ăn < 10 gram/ngày có nguy cơ mắc táo bón gấp 5,95 lần nhóm ăn ≥ 10 gram/ngày, sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê với 95% CI (1,32 - 11,3).  
- Lượng nước uống trung bình của nhóm nghiên cứu là 936 ± 440 ml/ngày, của nhóm táo bón là 757 ± 370 ml/ngày.  
Càng uống ít nước thì nguy cơ táo bón càng cao.  
Bảng 4. Mối liên quan giữa táo bón và mức độ vận động, cách ăn  
Táo bón  
Không táo bón  
OR  
(95% CI)  
n
(%)  
40,9  
19,4  
73,3  
29,4  
n
(%)  
59,1  
Hạn chế vận động  
Đi lại bình thường  
Ăn qua sonde  
Tự ăn  
36  
7
52  
29  
4
2,87  
(1,11 - 7,43)  
80,6  
11  
32  
26,7%  
70,6  
6,6  
(1,84 - 23,8)  
77  
Nhóm hạn chế vận động có nguy cơ mắc táo bón gấp 2,87 lần nhóm đi lại bình thường. Nhóm ăn qua sonde có  
tỷ lệ táo bón gấp 6,6 lần nhóm tự ăn.  
nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương  
có các đặc điểm chung: tuổi trung bình là 73,7 ± 11,5,  
IV. BÀN LUẬN  
nhóm bệnh nhân ≥ 70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 64,5%,  
Táo bón là một hội chứng thường gặp ở người cao  
có 45,2% nam, 54,8% nữ. Trong nghiên cứu, tiêu chuẩn  
tuổi, do nhiều nguyên nhân gây ra: do chế độ ăn ít chất  
chọn bệnh nhân là số ngày đã điều trị tại viện ≥ 7 ngày  
xơ, uống ít nước, thói quen nhịn đi ngoài, do thuốc,  
giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nằm  
bệnh tật, tổn thương thực thể ở đại tràng, hậu môn trực  
viện với táo bón. Số ngày điều trị của nhóm nghiên cứu  
tràng, tổn thương não tủy sống... [8]. Điều tra 124 bệnh  
75  
TCNCYH Phụ trương 91 (5) - 2014  
trung bình là 11,5 ± 4,6 trong đó tỷ lệ bệnh nhân điều trị  
từ 11 - 20 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất 58,9%; điều trị dài  
nhất là 35 ngày. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán táo bón của  
Rome III, chúng tôi xác định có 43 bệnh nhân (34,7%)  
mắc táo bón trong tổng số 124 bệnh nhân nghiên cứu.  
Trong nghiên cứu của Hà Văn Ngạc về thói quen đại  
tiện ở 2127 người bình thường cho thấy: 83,2% đi đại  
tiện hàng ngày, 15,3% đại tiện 2 - 3 ngày/lần, 1,68% đại  
tiện ≥ 4 ngày/lần [5]. Theo nghiên cứu của Arnold Wald  
(2005) ở người bình thường ≥ 20 tuổi, tỷ lệ táo bón ở  
Hoa Kỳ là 18%, ở Anh là 8%, ở Pháp là 14%, ở Đức là  
5%, Italia là 8%, ở Brazil là 17%, ở Hàn Quốc là 17%.  
Tỷ lệ táo bón chung trên thế giới là khoảng 14% [2].  
Nghiên cứu của chúng tôi lấy đối tượng là bệnh nhân  
điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa có độ tuổi trung  
bình cao hơn, mắc nhiều bệnh kèm theo nên tỷ lệ táo  
bón cao hơn các nghiên cứu khác thực hiện ở người  
bình thường. Khai thác tiền sử bị táo bón có 62,9%  
bệnh nhân đã từng mắc, phù hợp với kết quả nghiên  
cứu của Đào Văn Long (khoảng 50% người cao tuổi ở  
cộng đồng mắc táo bón) [7]. Hosia-Randell H. và cộng  
sự (2007) nghiên tại trung tâm dưỡng lão ở Hensinki  
(Phần Lan) cũng cho thấy trong số 1987 người thì có  
82% có dùng thuốc nhuận tràng hay mắc táo bón [9].  
Chứng tỏ táo bón là hiện tượng rất thường gặp ở người  
cao tuổi.  
stress.  
ꢵưꢕng ꢅhꢬt ꣁơꢈ nưꢿꢅ ꢑꢨng trꢎng ꢏhꢯꢑ ꢰhꢭn ꢮn ꢋꢆ  
ꢘꢓꢅ ꢔꢇ ꢋꣅn ꢔꢇng  
Chất xơ có nhiều trong các rau củ quả, một số loại  
chất xơ không bị tiêu hóa sẽ giúp làm phân mềm và  
không cứng. Bình thường, chúng ta cần 20 - 35 gram  
chất xơ trong khẩu phần ăn mỗi ngày. Trong nghiên cứu  
này chúng tôi thấy 100% các bệnh nhân mắc táo bón có  
lượng chất xơ ăn hàng ngày < 15 gram/ngày. Nhóm có  
lượng chất xơ trong khẩu phần ăn < 10 gram/ngày có  
tỷ lệ táo bón gấp 5,95 lần nhóm ăn ≥ 10 gram/ngày, sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê với 95% CI 1,32 - 11,3. So  
với nghiên cứu của Alayne D Markland DO và cộng sự  
trên 10.914 người (từ 20 tuổi) có 30,5% những người  
đàn ông và 32,8 % phụ nữ bị táo bón báo cáo lượng  
chất xơ < 10 gram/ngày so với 17,3% những người đàn  
ông và 27,1 % phụ nữ không có táo bón. Sự khác biệt  
có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [12].  
Lượng nước uống trong 1 ngày trung bình của nhóm  
nghiên cứu là 936 ± 440 ml/ngày. Người cao tuổi có  
ngưỡng khát rất cao, ít có nhu cầu uống nước, nhất  
là khi nằm viện điều kiện ăn uống không thuận lợi như  
ở nhà, do đó lượng nước uống hàng ngày cũng giảm.  
Nhóm bệnh nhân uống ≤ 500 ml/ngày, 500 - 999 ml/  
ngày có tỷ lệ mắc táo bón tương ứng gấp 11,2 lần, 8,2  
lần so với nhóm uống ≥ 1500 ml/ngày, sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê với 95% CI 1,8 - 68,5 và 1,3 - 52,9. Như  
vậy, uống càng ít nước nguy cơ mắc táo bón càng cao.  
So với kết quả của Alayne D Markland DO và cộng sự  
có sự tương đồng [12]. Lượng nước uống trong ngày  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng trung bình  
lượng nước cần uống vào khoảng 2000 ml/ngày.  
Tꢜ ꢌꢊ tꢛꢎ ꢞꢟn thꢱꢎ tꢑꢢꢃꢈ gꢃꢿꢃꢈ thꢀꢃ gꢃꢐn nꢗꢘ ꢋꢃꢊn  
Táo bón là một hội chứng khá phổ biến có thể gặp  
ở mọi lứa tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi  
trung bình của bệnh nhân mắc táo bón trong nghiên  
cứu là 75 ± 10,8. Tuổi thấp nhất mắc táo bón của nhóm  
nghiên cứu là 53 tuổi, cao nhất là 92 tuổi. Nhóm bệnh  
nhân ≥ 70 tuổi có tỷ lệ táo bón gấp 2,39 lần nhóm bệnh  
nhân < 70 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (95%CI  
1,34 - 3,56). Nghiên cứu của Sonnenberg A, Koch TR  
cho thấy có khoảng 30 - 40% người trên 65 tuổi có vấn  
đề về táo bón [10]. Các nghiên cứu đều ghi nhận sự  
gia tăng tỷ lệ táo bón theo tuổi. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi tỷ lệ mắc táo bón ở nam (42,9%) nhiều hơn  
ở nữ ( 27,9%), sự khác biệt không có ý nghĩa thống  
kê. Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của  
Danielle Harari và cộng sự, tỷ lệ táo bón ở nhóm nghiên  
cứu là 53,4% ở nam, nữ là 46,6% [11].  
Nhóm ăn qua sonde có tỷ lệ táo bón gấp 6,6 lần  
nhóm tự ăn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 95%  
CI dao động 1,84 - 23,8. Trong số 15 bệnh nhân ăn  
qua sonde thì 11 bệnh nhân mắc táo bón chiếm 73,3%.  
Thức ăn của bệnh nhân ăn qua sonde thường là cháo,  
súp, sữa…đều ở dạng lỏng, đã được làm nhuyễn, hàm  
lượng chất xơ trong đó rất thấp. Người chăm sóc cho  
rằng ăn súp sữa đã nhiều nước nên có thể không cho  
bệnh nhân uống thêm nước, do đó lượng nước đưa  
vào cơ thể ít, dẫn tới hậu quả táo bón gặp nhiều hơn  
trên những bệnh nhân này.  
Bệnh nhân cao tuổi nằm viện rất hay gặp tình trạng  
hạn chế vận động do mệt mỏi, đau cơ xương khớp, có  
các loại sonde như sonde ăn, sonde tiểu, tiêm truyền…  
Kết quả nghiên cứu cho thấy 88/124 bệnh nhân có sự  
hạn chế về vận động. 40,9% bệnh nhân có hạn chế về  
vận động mắc táo bón, 19,4% bệnh nhân đi lại bình  
thường mắc táo bón. Nhóm hạn chế vận động có tỷ lệ  
táo bón gấp 2,87 lần nhóm đi lại bình thường, sự khác  
Trong số các bệnh nhân mắc táo bón có những  
người xuất hiện táo từ trước khi vào viện (25,6%), có  
người vào viện rồi mới xuất hiện táo bón (74,4%), tỷ lệ  
táo bón tăng gấp khoảng 3 lần sau khi vào viện. Nằm  
viện đồng nghĩa với tăng nguy cơ gây táo bón như:  
tác động của thuốc điều trị bệnh chính, các tổn thương  
não và tủy sống, hạn chế vận động, sử dụng nhiều loại  
thuốc có nguy cơ gây táo bón, chế độ ăn giảm chất xơ,  
76  
TCNCYH Phụ trương 91 (5) - 2014  
biệt có ý nghĩa thống kê với 95% CI 1,11 - 7,43.  
hemiplegia: a propective cohort of 152 pations, ꣒ꢱꢋ  
Nꢱꢑrꢎꢌꢪ (Pꢐrꢃꢚ)ꢈ 158 (5 Pt1):, tr. 589 - 592.  
V. KẾT LUẬN  
5. Nguyễn Thế Ba; Nguyễn Thị Ngọc Thảo; Hà Văn  
Ngạc (2001), Tìm hiểu về thói quen đi đại tiện ở người  
lớn bình thường, Tạp chí thông tin y dược, (5), tr. 15 -  
16.  
Tỷ lệ táo bón của bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh  
viện Lão Khoa trung ương là 34,7%; tỷ lệ bệnh nhân có  
tiền sử táo bón là 62,9%.  
6. Các bộ môn nội trưởng đại học Y Hà Nội (2012),  
Hướng chẩn đoán và điều trị táo bón, Bệnh học nội  
khoa tập 2, Nhꢆ ꣁꢑꢬt ꢞꢙn Y hꢄꢅꢈ 91 - 95  
Các yếu tố nguy cơ táo bón ở người cao tuổi: Tuổi ≥  
70, chế độ ăn ít chất xơ (< 10 gam/ngày), ăn qua sonde,  
uống ít nước, hạn chế vận động, phải nằm viện kéo dài.  
7. Đào Văn Long (2004). Táo bón, Lâm sàng bệnh tiêu  
hóa thực hành dựa trên vấn đề 245 - 263.  
Lời cảm ơn  
8. Ozturk R (2007). Defecation disorders: an important  
subgroup of functional constipation, its pathophysiol-  
ogy, evaluation and treatment with biofeedback, Tꢑrꢏ  
꣓ꢪ꣔ꢐꢚtrꢎꢱntꢱrꢎꢌꢈ 18(3), 139 - 149.  
9. Hosia R.H.; Suominen M.; Muurinen S.; Pitkala  
K.H (2007). Use of laxatives among older nursing home  
residents in Hensinki, Finland, ꣎rꢑgꢚ ꣕gꢃngꢈ 24(2), 147  
- 154.  
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc bệnh viện Lão  
khoa Trung ương và các khoa lâm sàng đã tạo điều  
kiện cho chúng tôi thu thập số liệu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trường Đại học Y Hà Nội (2004), Táo bón, Bệnh  
học nội khoa tập 1- Bài giảng dành cho đối tượng sau  
đại học, Nhꢆ ꣁꢑꢬt ꢞꢙn ꢦ hꢄꢅꢈ 153 - 167.  
10. Sonnenberg A; Koch TR. (1989). Epidemiology of  
constipation in the United States, ꣎ꢃꢚ Cꢎꢌꢎn ꣒ꢱꢅtꢑꢘꢪꢈ  
32(1):1 - 8.  
2. Arnold Wald (2005). The BI Omnibus Study: An in-  
ternational survey of community prevalence of consti-  
pation and laxative use in adults, ꣎ꢎ꣏nꢌꢎꢐ꣄ ꢐrtꢃꢅꢌꢱ ꣐rꢎꢘ  
꣑ꢐꢌ꣄ꢐ꣋ꢘꢚꣁꢪꢑꢰꢘꢅꢪꢱ꣄ꢑꢪ  
11. Danielle H.; Christine N.; Linda L. and Cameron  
S. (2004). Treatment of Constipation and Fecal Inconti-  
nence in Stroke Patients: Randomized Controlled Trial,  
꣖trꢎꢏꢱꢈ 35, 2549 - 2554.  
3. Xin Yang (2005), Bệnh táo bón, Nhà xuất bản Hà  
Nội.  
12. Kathryn L.B; Jan Busby W.; William E.W et al  
(2013). Association of Low Dietary Intake of Fiber and  
Liquids With Constipation, ꣕ꢘ ꣓ ꣔ꢐꢚtrꢎꢱntꢱrꢎꢌꢈ 8(5):  
796 - 803.  
4. Robain G., Chennevelle J.M., Petit F., Piera J.B.  
(2002), Incidence of constipation after recent vascular  
Summary  
CONSTIPATION AND RELATIVE FACTORS IN THE ELDERLY IN-PATIENTS IN  
VIETNAM NATIONAL GERIATRIC HOSPITAL  
The study was to investigate the prevalence of constipation and risk factors in the elderly in-patients. 124 patients  
admitted in the hospital for at least 1 week were included in the study. 34.7% hospitalized patients are reported to  
have bowel incontinence; the patients have the previous history of the constipation was 62.9%, there is no difference  
between both sexes. Prevalence of constipation in patients over 70 years old was 41.3%, low fber consumption  
(<10g/day) was 41.7%, tube feeding was 73.3%, low water intake (500ml/day) was 55.6%, and decrease in mobility  
was 40.9%. 74.4% patients suffered from constipation after hospitalization.  
In conclusion, the prevalence of constipation in inpatients was 34.7%. Risk factors of constipation were: age >70,  
low fber consumption (<10g/day), tube feeding, low water intake, and decrease in mobility, and prolonge hospital  
admission.  
Key words: constipation, elderly  
77  
pdf 5 trang yennguyen 18440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điều tra tỷ lệ mắc táo bón và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện lão khoa Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_tra_ty_le_mac_tao_bon_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_benh.pdf