Kiến thức tự chăm sóc và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2016

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN  
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ  
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2016  
Hoàng Thị Minh Thái1, Lê Thanh Tùng1, Nguyễn Bá Tâm1,  
Nguyễn Thị Thu Hương1, Phạm Thị Hoàng Yến1  
1Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Mô tả kiến thức tự chăm sóc  
của người cao tuổi tăng huyết áp đang điều  
trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam  
Định và xác định mối liên quan giữa kiến thực  
tự chăm sóc với tuổi, giới và thời gian mắc  
bệnh. Phương pháp nghiên cứu: nghiên  
cứu mô tả cắt ngang trên 410 người cao tuổi  
tăng huyết áp. Đối tượng được lựa chọn ngẫu  
nhiên và phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi.  
Kết quả: Kiến thức tự chăm sóc của người  
cao tuổi tăng huyết áp chưa đầy đủ với điểm  
trung bình đạt mức 7,49 ± 0,88/10 điểm. Kiến  
thức của người bệnh còn nhiều hạn chế:  
52,9% người bệnh chưa nhận định được đầy  
đủ chỉ số huyết áp; 19,5% người bệnh uống  
thuốc chưa đúng cách; 16,8% chưa tuân thủ  
dùng thuốc; 60% người bệnh chưa có kiến  
thức đúng về loại thịt tốt cho người bệnh tăng  
huyết áp và 60% người bệnh không biết tăng  
huyết áp có thể gây suy thận, rối loạn thị giác.  
Nghiên cứu này cũng cho thấy tuổi và giới  
liên quan nghịch, mức độ yếu với kiến thức  
tự chăm sóc của người bệnh với r lần lượt  
là -0,179 và -0,259. Kết luận: Kiến thức tự  
chăm sóc của người cao tuổi tăng huyết áp  
trong nghiên cứu còn nhiều hạn chế.  
Từ khóa: kiến thức, tăng huyết áp, tự  
chăm sóc.  
SELF-CARE KNOWLEDGE AND RELATED FACTORS  
AMONG OLDER OUT-PATIENTS WITH HYPERTENSION  
IN NAM DINH GENERAL HOSPITAL IN 2016  
ABSTRACT  
± 0.88 /10 points. Patients had a lack of  
knowledge in some aspects: 52.9% of patients  
were not fully aware of numbers for high  
blood pressure; 19.5% of patients took the  
medicine incorrectly; 16.8% of patients had  
no medication adherence; 60% of patients  
did not have proper knowledge about types of  
meat benifited for hypertensive patients and  
60% of patients did not know hypertension  
can cause kidney failure, visual disorders.  
The study also found that age and sex had  
a negative correlation with the patients’ self-  
care knowledge with r of -0.179 and -0.259,  
respectively. Conclusion: the self-care  
knowledge of the elderly outpatients with  
hypertension within this study was limited.  
Objective: To describe the knowledge  
of self-care of elderly outpatients with  
hypertensioninNamDinhgeneralhospitaland  
explore the relationship of self-care with age,  
gender and the duration of disease. Method:  
The descriptive design was conducted among  
410 elderly outpatients with hypertension.  
The participants were randomized selected  
and interviewed with questions. Results: the  
knowledge of elderly hypertensive patients  
was not adequate with mean score of 7.49  
Người chịu trách nhiệm: Hoàng Thị Minh Thái  
Email: minhthai82nd@gmail.com  
Ngày phản biện: 30/5/2018  
Ngày duyệt bài: 18/6/2018  
Ngày xuất bản: 28/6/2018  
Key word: knowledge, hypertension,  
selfcare.  
36  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Định và xác định mối liên quan giữa tuổi,  
giới tính, thời gian mắc bệnh, kiến thức tự  
chăm sóc.  
Tăng huyết áp (THA) có tỷ lệ mắc  
bệnh cao và tăng dẫn theo nhóm tuổi, từ  
60 tuổi trở lên tỷ lệ mắc THA khoảng 50%  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
[3],[12]. Đặc biệt trên đối tượng người cao NGHIÊN CỨU  
tuổi(NCT), THA cũng là một bệnh chiếm tỷ  
lệ cao nhất (73,9%) trong 10 bệnh thường  
gặp. Theo Tổ chức y tế thế giới, tăng huyết  
áp là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong  
cao nhất ở người cao tuổi [15]. Với tỷ lệ mắc  
bệnh cao và biến chứng nặng nề, THA tạo  
ra một gánh nặng bệnh tật không nhỏ. Tại  
Mỹ, THA tiêu tốn khoảng 46,4 tỷ USD mỗi  
năm, con số này tại Trung Quốc là 231,7  
triệu USD [12]. Tại Việt Nam, chi phí điều  
trị trực tiếp THA trung bình khoảng 65 USD/  
người [13].  
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt  
ngang.  
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Người cao  
tuổi tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại  
bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định trong thời  
gian nghiên cứu đạt các tiêu chuẩn chọn  
mẫu.  
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Toàn bộ người  
bệnh từ 60 tuổi trở lên, được chẩn đoán  
tăng huyết áp và đang được điều trị ngoại  
trú tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Nam Định.  
- Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh không  
giao tiếp được; người mắc các bệnh tâm  
thần, người bệnh không đồng ý tham gia  
nghiên cứu.  
Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh  
được xem là yếu tố quan trọng trong việc  
cải thiện hành vi tự chăm sóc của người  
bệnh. Người bệnh có kiến thức tự chăm  
sóc tốt thì sẽ điều chỉnh hành vi theo hướng  
tích cực từ đó sẽ giúp hạn chế sự tiến triển  
của bệnh, hỗ trợ hiệu quả điều trị; dự phòng  
được các biến chứng và giảm biến chứng  
của bệnh [4], [7], [16]. Kiến thức của người  
bệnh được cải thiện thông qua chương trình  
can thiệp giáo dục sức khỏe. Tuy nhiên,để  
tiến hành can thiệp giáo dục hiệu quả thì  
điều cần thiết là phải tìm được khoảng trống  
kiến thức của người bệnh.  
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 năm  
2016 đến tháng 10 năm 2016.  
- Địa điểm: Khoa khám bệnh – Bệnh viện  
Đa khoa tỉnh Nam Định.  
2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu:  
- Cỡ mẫu được tính bằng công thức ước  
tính cho một tỷ lệ với d = 0,05 ; p = 0,41 [8]  
chúng tôi tính được cỡ mẫu là 410 người.  
- Phương pháp chọn mẫu: Trong số 3068  
người cao tuổi đang được quản lý và điều  
trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam  
Định với tần suất tái khám 1 tháng/1 lần.  
Mỗi ngày có khoảng 150 người bệnh đến  
khám. Nếu đối tượng đáp ứng đủ tiêu chuẩn  
chọn mẫu thì chúng tôi tiến hành phỏng vấn  
cho đến khi đủ 410 người bệnh.  
Tại Nam Định, tỷ lệ mắc THA ở NCT là  
52,4%, 49,6% số NCT tăng huyết áp không  
điều trị và trong số những người có tham  
gia điều trị có 30,2% không tuân thủ đúng  
phác đồ điều trị [3]. Theo thống kê của bệnh  
viện Đa khoa tỉnh Nam Định, năm 2015 có  
khoảng 3068 NB THA đang tham gia quản lý  
điều trị ngoại trú, trong số đó chủ yếu là NCT  
và nhiều người trong số này phải nhập viện  
vì các biến chứng do THA gây nên. Chính vì  
vậy, nghiên cứu này được thực hiện với mục  
đích xác định mức độ kiến thức tự chăm sóc  
của người cao tuổi tăng huyết áp đang điều  
trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam  
2.5. Công cụ, phương pháp đánh giá  
Kiến thức về bệnh THA được đo bằng  
thang đo “The Hypertension Knowledge-  
Level Scale của Sultan Baliz Erkoc và CS  
(2012) [9]. Thang đo có tổng số 22 câu hỏi  
được chia thành 6 lĩnh vực kiến thức: định  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
37  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
nghĩa; điều trị; tuân thủ dùng thuốc; lối sống; hoặc không biết về vấn đề này. Tuy nhiên,  
biến chứng của bệnh. Có 9 câu hỏi âm tính kiến thức đúng về định nghĩa THA khi Khi  
gồm: 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 14 và 17.  
HA tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu  
≥ 90 mmHg thì có đến 52,9% NB trả lời sai  
hoặc không biết.  
Thiết kế cho mỗi một câu hỏi là một mệnh  
đề, có 3 phương án để người bệnh lựa chọn  
là đúng, sai và không biết; với mỗi câu mà  
Tính điểm trung bình kiến thức của người  
người bệnh có phương án trả lời đúng sẽ bệnh về định nghĩa THA là 6,51 ± 3,5 điểm,  
được 1 điểm, trả lời sai hoặc không biết trong đó điểm thấp nhất là 0 điểm và cao  
sẽ nhận 0 điểm. Điểm số của kiến thức về nhất là 10 điểm.  
THA được tính bằng cộng điểm số câu trả  
lời đúng của NB (điểm thấp nhất là 0 điểm  
và cao nhất là 22 điểm), sau đó tổng điểm  
kiến thức của người bệnh sẽ được quy về  
thang điểm 10, điểm càng cao thì kiến thức  
của người bệnh về tăng huyết áp càng cao.  
Bảng 3.2: Kiến thức của NB về cách  
dùng thuốc điều trị THA (n = 410)  
Kiến thức  
Đúng  
Chưa đúng  
của NB về  
cách dùng  
thuốc  
Số lượng  
(%)  
Số lượng  
(%)  
Bộ công cụ có hệ số KR-20 = 0.78.  
2.6. Phương pháp thu thập số liệu:  
phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết  
kế sẵn.  
Phải uống  
thuốc hàng  
ngày.  
397 (93,8)  
13 (3,2)  
2.7. Xử lý và phân tích số liệu. Phân  
tích mô tả và phân tích mối tương quan  
được thực hiện trên phần mềm SPSS 22.0.  
Chỉ phải dùng  
thuốc khi  
không khỏe.  
372 (90,7)  
335 (81,7)  
38 (9,3)  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Phải uống  
suốt đời.  
3.1. Kiến thức của người bệnh  
75 (18,3)  
Bảng 3.1: Kiến thức của người bệnh về  
định nghĩa tăng huyết áp (n = 410)  
Phải dùng  
thuốc theo  
cách làm cho 330 (80,5)  
họ cảm thấy  
tốt.  
80 (19,5)  
Đúng  
Số lượng Số lượng  
(%) (%)  
Chưa đúng  
Kiến thức (KT)  
về định nghĩa  
THA  
Kết quả tại bảng 3.2 cho thấy 93,8% NB  
trả lời đúng thuốc điều trị huyết áp phải uống  
hàng ngày; 90,7% NB trả lời đúng về nội  
dung chỉ phải dùng thuốc điều trị tăng HA  
khi họ không khỏe; 81,7% NB trả lời đúng  
về nội dung thuốc điều trị tăng huyết áp phải  
uống suốt đời và 80,5% NB trả lời đúng về  
nội dung người bệnh THA phải dùng thuốc  
điều trị tăng huyết áp theo cách mà làm cho  
họ cảm thấy tốt.  
Khi HA tối đa ≥  
140 mmHg gọi 341 (83,2) 69 (16,8)  
là THA.  
Khi HA tối đa  
≥ 140 mmHg  
và/hoặc  
HA  
193 (47,1) 217 (52,9)  
tối thiểu ≥ 90  
mmHg gọi là  
THA.  
Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.1 cho  
thấy đa số NB có kiến thức đúng về định  
nghĩa THA khi HA tối đa ≥ 140 mmHg  
83,2%; vẫn còn 16,8 người bệnh trả lời sai  
Tính điểm trung bình kiến thức của người  
bệnh về cách dùng thuốc điều trị THA là  
8,49 ± 1,78 điểm, trong đó điểm thấp nhất là  
2,5 điểm và cao nhất là 10 điểm.  
38  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Bảng 3.3: Kiến thức của NB về tuân thủ  
Bảng 3.4: Kiến thức của NB về lối  
sống (n = 410).  
điều trị (n = 410).  
Chưa  
đúng  
Số  
lượng  
(%)  
Chưa  
đúng  
Số  
lượng  
(%)  
Đúng  
Đúng  
Số lượng  
(%)  
Kiến thức của NB  
về tuân thủ điều  
trị  
Kiến thức của  
NB về lối sống  
Số  
lượng  
(%)  
NBTHA có thể  
uống nhiều  
rượu, bia.  
366  
(89,3)  
44  
(10,7)  
Không cần thiết phải  
thay đổi lối sống  
nếu dùng thuốc điều  
trị THA mà kiểm  
soát được HA  
298  
(70,5)  
121  
(29,5)  
342  
(83,4)  
68  
(16,6)  
NBTHA không  
được hút thuốc.  
Nên ăn trái  
cây và rau quả  
thường xuyên.  
395  
(96,3)  
15  
(3,7)  
Tăng huyết áp  
là kết quả của  
quá trình lão hóa  
do vậy điều trị là  
không cần thiết.  
322  
(78,5)  
88  
(21,5)  
357  
(87,1)  
53  
(12,9)  
NBTHA nên ăn  
thức ăn rán  
NBTHA nên ăn  
thức ăn luộc/  
hấp/nướng  
NB THA thay đổi lối  
sống thì không cần  
phải dùng thuốc.  
361  
(88)  
49  
(12)  
338  
(82,4)  
72  
(17,6)  
Loại thịt tốt nhất  
cho NB THA là  
thịt trắng  
152  
(37,1)  
258  
(62,9)  
NB THA có thể ăn  
nhiều muối miễn là  
họ dùng thuốc điều trị  
THA thường xuyên.  
341  
(83,2)  
69  
(16,8)  
Loại thịt tốt nhất  
cho NB THA là  
thịt đỏ  
147  
(35,9)  
263  
(64,1)  
Kết quả nghiên cứu tại bảng trên chỉ ra  
vẫn còn 29,5% NB trả lời sai/không biết khi  
cho rằng không cần thiết phải thay đổi lối  
sống nếu dùng thuốc điều trị THA mà kiểm  
soát được HA; 21,5% NB trả lời sai/không  
biết khi được hỏi tăng huyết áp là kết quả  
của quá trình lão hóa do vậy điều trị là không  
cần thiết; 17,6% NB trả lời sai hoặc không  
biết khi hỏi rằng NB THA thay đổi lối sống thì  
Số liệu tại bảng 3.4 cho thấy 10,7% NB  
trả lời sai/không biết khi hỏi rằng NB THA có  
thể uống nhiều đồ uống có cồn; 16,6% NB  
trả lời sai/không biết rằng NB THA không  
được hút thuốc. 12,9% trả lời sai/không biết  
khi hỏi rằng BN THA nên ăn thức ăn rán;  
12% người bệnh trả lời sai/không biết thức  
ăn tốt nhất cho người bệnh THAlà luộc hoặc  
hấp. Có đến 62,9% NB trả lời sai/không biết  
không cần phải dùng thuốc và 16,8% trong khi hỏi rằng loại thịt tốt nhất cho người bệnh  
tăng huyết áp là thịt trắng và 64,1% NB cho  
rằng loại thịt tốt nhất cho người bệnh tăng  
huyết áp là thịt đỏ.  
số những người được hỏi cho rằng họ có  
thể ăn nhiều muối.  
Tính điểm trung bình kiến thức của người  
bệnh về tuân thủ điều trị THA là 7,87 ± 2,05  
điểm, trong đó điểm thấp nhất là 2,5 điểm và  
cao nhất là 10 điểm.  
Tính điểm trung bình kiến thức của người  
bệnh về lối sống là 6,17 ± 2,00 điểm, trong  
đó điểm thấp nhất là 0 điểm và cao nhất là  
10 điểm.  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
39  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Bảng 3.5: Kiến thức của NB về biến  
chứng THA (n = 410).  
Bảng 3.6. Sự khác nhau giữa giới tính  
với kiến thức tự chăm sóc  
Điểm trung  
bình kiến thức  
Kiến thức  
Đúng  
Số lượng  
(%)  
Chưa đúng  
Số lượng  
(%)  
Biến  
t
p
NB về biến  
chứng của  
THA  
Nam 17,04 ± 1,81  
<
0,01  
Giới  
5,385  
THA có thể  
gây tử vong  
Nữ  
16,05 ± 1,93  
388 (94,6)  
22 (5,4)  
24 (5,9)  
Bảng 3.7: Mối liên quan kiến thức  
tự chăm sóc với tuổi và thời gian mắc  
bệnh (n = 410)  
THA có thể  
gây bệnh tim 386 (94,1)  
mạch  
Kiến thức  
Biến  
THA có thể  
370 (90,2)  
gây đột quỵ  
40 (9,8)  
r
p
THA có thể  
115 (37,8)  
Tuổi  
-0,179  
< 0,01  
255 (62,2)  
248 (60,5)  
gây suy thận  
Thời gian mắc bệnh 0,011  
> 0,05  
THA có thể  
gây rối loạn  
thị giác  
Tuổi liên quan nghịch với kiến thức tự  
chăm sóc với r = -0,179 (p < 0,01). Thời gian  
mắc bệnh không liên quan đến kiến thức tự  
chăm sóc của người bệnh (p > 0,05).  
162 (39,5)  
Kết quả tại bảng 3.5 đã chỉ ra, đa số NB  
đã trả lời đúng về những biến chứng của  
tăng huyết áp như gây tử vong (94,6%),  
bệnh tim mạch (94,1%), đột qụy (90,2%).  
Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh trả lời sai hoặc  
không biết về biến chứng gây suy thận và rối  
loạn thị giác thì còn cao, lần lượt là 62,2%  
và 60,5%.  
4. BÀN LUẬN  
4.1. Kiến thức của người cao tuổi tăng  
huyết áp về tự chăm sóc  
4.1.1. Kiến thức về định nghĩa tăng  
huyết áp.  
Nhận thức được chỉ số huyết áp trong  
giới hạn cho phép sẽ giúp người bệnh đánh  
giá được hiệu quả điều trị, điều chỉnh lối  
sống phù hợp, đặc biệt giúp người bệnh chủ  
động hơn trong việc tự quản lý bệnh [2]. Kết  
quả tại bảng 3.2 cho thấy đa số người bệnh  
chỉ biết đến chỉ số huyết áp tối đa (83,2%);  
số người bệnh biết đánh giá THA dựa vào  
cả 2 chỉ số chiếm tỷ lệ thấp (47,1%). Lý giải  
về điều này có thể cho rằng ở người cao  
tuổi tăng huyết áp tâm thu là phổ biến nhất  
[1] và đa số biến chứng nguy hiểm gây đột  
quỵ, suy tim,… đều do tăng huyết áp tâm  
thu gây ra. Tuy nhiên, cần thiết phải hiểu  
đầy đủ rằng, khi đánh giá về tăng huyết áp  
phải dựa vào cả 2 chỉ số là huyết áp tâm thu  
Tính điểm trung bình kiến thức của người  
bệnh về biến chứng của THA là 7,13 ± 2,05  
điểm, trong đó điểm thấp nhất là 0 điểm và  
cao nhất là 10 điểm.  
Điểm trung bình chung kiến thức của  
người bệnh về tăng huyết áp là 7,49 ± 0,88  
điểm, trong đó điểm thấp nhất là 5,45 điểm  
và cao nhất là 9,55 điểm.  
3.2. Mối liên quan giữa kiến thức tự  
chăm sóc với đặc điểm chung  
Phân tích đơn biến cho thấy nữ giới có kiến  
thức tự chăm sóc tốt hơn nam giới (p < 0,01)  
(Bảng 3.6).  
40  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
và huyết áp tâm trương [2], [6]. Đây là nội  
4.1.4. Kiến thức về lối sống  
dung quan trọng giúp cho điều dưỡng lập kế  
hoạch để tư vấn giáo dục cho người bệnh  
đạt hiệu quả. Kết quả này tương đồng với  
nghiên cứu của F Saleem khi cho rằng chỉ  
52.2% người bệnh nhận định được chỉ số  
tăng huyết áp [10].  
Một lối sống lành mạnh như tập thể dục  
thường xuyên, không hút thuốc, hạn chế  
uống rượu/bia, chế độ ăn hợp lý như: giảm  
muối, tăng cường rau xanh, hoa quả tươi  
và hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và  
acid béo no … giúp người bệnh ngăn ngừa  
sự tiến triển của bệnh và hạn chế được các  
biến chứng và di chứng. Bảng 3.4 cho thấy  
tỷ lệ cao người bệnh có kiến thức đúng về  
việc hạn chế rượu bia là 89,3%; không hút  
thuốc 83,4%; nên ăn trái cây và rau quả  
96,3%, hạn chế thức ăn rán 87,1% và nên  
ăn thức ăn luộc hoặc hấp 88%. Tuy nhiên,  
kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có đến  
62,9% người bệnh trả lời sai hoặc không biết  
rằng thịt trắng là loại thịt tốt cho người THA  
và 64,1% người bệnh trả lời sai hoặc không  
biết thịt đỏ là loại thịt có nhiều chất béo bão  
hòa tăng nguy cơ xơ vữa mạch máu dẫn  
đến làm tăng huyết áp [2],[7].Kết quả của  
chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu  
của E. Afriyie (2015) cho thấy 74% biết tác  
dụng của việc ăn nhiều trái cây/rau; 63% đối  
tượng không nhận thức được tác động của  
thịt đỏ lên bệnh tăng huyết áp [8]. Nghiên  
cứu của M. Michalska (2014) cũng chỉ ra  
người cao tuổi tăng huyết áp có kiến thức  
sai về lối sống chiếm tỷ lệ cao (65%) [11].  
4.1.2. Kiến thức về cách dùng thuốc  
điều trị tăng huyết áp  
Kiến thức về tuân thủ sử dụng thuốc có  
vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh,  
người bệnh cần uống thuốc đều đặn theo  
phác đồ điều trị. Kết quả tại bảng 3.3 cho  
thầy đa số người bệnh đã có kiến thức đúng  
về cách dùng thuốc. Tuy nhiên, vẫn còn một  
tỷ lệ nhỏ người bệnh có kiến thức sai hoặc  
không biết về việc phải uống thuốc hàng  
ngày (3,2%); chỉ uống thuốc khi ốm (9,3%);  
phải uống thuốc suốt đời (18,3%) hay cho  
rằng uống theo cách làm cho họ cảm thấy  
tốt (19,5%). Nghiên cứu của F Saleem cho  
thấy chỉ có 40,3% đối tượng trả lời đúng khi  
được hỏi về cách uống thuốc [10].  
4.1.3. Kiến thức về tuân thủ điều trị  
Kém tuân thủ điều trị là nguyên nhân  
chính dẫn đến tình trạng tái nhập viện của  
người bệnh tăng huyết áp[2], tuy nhiên vẫn  
còn 29,5% người bệnh cho rằng chỉ cần  
uống thuốc mà không cần thay đổi lối sống;  
83,2% người bệnh cho rằng có thể ăn nhiều  
muối, kết quả này cũng phù hợp với nghiên  
cứu của E. Afriyie (2015) khi ông cho rằng  
có trên 25% người bệnh cho rằng tăng huyết  
áp là bệnh tuổi già nên chỉ uống thuốc khi  
cần [8]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi  
phù hợp với các nghiên cứu trước khi chỉ ra  
rằng 29,2% người cao tuổi không biết phải  
điều chỉnh lối sống [11] và họ có thể ăn thêm  
muối khi đã uống thuốc đều đặn [14]. Thay  
đổi lối sống với người bệnh mãn tính gặp rất  
nhiều khó khăn, vì phải thực hiện trong thời  
gian dài cũng như những rào cản trong quá  
trình thực hiện từ phía gia đình, xã hội… do  
đó tỉ lệ người bệnh tuân thủ thay đổi lối sống  
thường là thấp [14].  
4.1.5. Kiến thức về biến chứng  
Biến chứng trên người bệnh THA rất  
nguy hiểm có nguy cơ cao để lại di chứng  
suốt đời. Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.7  
cho thấy tỷ lệ người bệnh đã có kiến thức  
đúng như nguy cơ gây tử vong (94,6%);  
nguy cơ gây bệnh tim mạch (94,1%) và  
nguy cơ gây đột quỵ (90,2%). Tuy nhiên,  
nguy cơ gây suy thận và rối loạn thị giác thì  
số người bệnh trả lời đúng chiếm tỷ lệ thấp  
lần lượt là 37,8% và 39,5%. Kết quả nghiên  
cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả  
của tác giả A. Malik (2014) khi cho rằng có  
70,4% đối tượng biết được 3 biến chứng tim  
mạch. Sự khác biệt này là do sự khác nhau  
về văn hóa của 2 quốc gia [5].  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
41  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
4.2. Mối liên quan giữa kiến thức tự của người bệnh về tự chăm sóc càng cao.  
chăm sóc với tuổi, giới tính và thời gian Tuy nhiên kết quả nghiên cứu này lại chỉ ra  
mắc bệnh  
thời gian mắc bệnh không liên quan đến  
kiến thức tự chăm sóc của người bệnh. Có  
thể thấy rằng, đối tượng là người cao tuổi,  
thời gian mắc bệnh càng dài thì tuổi lại càng  
cao; sự gia tăng về tuổi kéo theo sự gia tăng  
về mức độ lão hóa như đã trình bày ở trên  
do vậy mà nghiên cứu này không tìm thấy  
mối liên quan giữa kiến thức tự chăm sóc  
với thời gian mắc bệnh của người bệnh (r =  
0,011, p > 0,05). Kết quả này tương đồng so  
với nghiên cứu của V.Eugene (2013) [14].  
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra nữ giới có  
kiến thức tốt hơn nam giới với t = 5,385; p  
< 0,01. Kết quả này được giải thích có thể  
là do nữ giới thường chịu trách nhiệm chính  
trong việc nội trợ và sinh hoạt gia đình, do  
vậy có thể họ sẽ chủ động hơn trong việc  
lựa chọn thức ăn, điều tiết sinh hoạt của bản  
thân và gia đình. Hơn nữa nam giới thường  
thích uống rượu bia, hút thuốc nên thường  
ít quan tâm đến tác hại của nó đến sức khỏe  
của mình. Chính vì vậy nữ giới thường có  
kiến thức tốt hơn nam giới trong việc chăm  
sóc sức khỏe. Kết quả này khác với nghiên  
cứu của V.Eugene và Z. He và cộng sự  
(2016) khi kết quả của các nghiên cứu này  
đều chỉ ra rằng không có sự khác biệt kiến  
thức giữa 2 giới [14], [16]; sự khác biệt này  
có thể là do sự khác nhau về vùng miền và  
văn hóa.  
5. KẾT LUẬN  
Kiến thức tự chăm sóc của người cao tuổi  
tăng huyết áp chưa đầy đủ với điểm trung  
bình đạt mức 7,49 ± 0,88/10 điểm. Đặc biệt  
có 52,9% NB chưa nhận định được đầy đủ  
chỉ số huyết áp; 19,5% NB uống thuốc chưa  
đúng cách; trên 16,8% chưa tuân thủ dùng  
thuốc; trên 60% NB chưa có kiến thức đúng  
về loại thịt tốt cho NB THA và trên 60% NB  
Bảng 3.8 cũng chỉ ra tuổi càng cao thì không biết THA có thể gây suy thận, rối loạn  
kiến thức tự chăm sóc của người bệnh càng thị giác. Nghiên cứu này cũng cho thấy tuổi,  
giảm (r = - 0,179; p < 0,01). Điều này được lý giới liên quan âm tính mức độ yếu với kiến  
giải là do đối tượng nghiên cứu là NCT, cùng thức tự chăm sóc của NB với r lần lượt là -  
với sự gia tăng về tuổi kéo theo sự gia tăng 0,179 và - 0,259.  
về mức độ lão hóa cơ thể trong đó có sa sút  
trí tuệ. Chính vì vậy, khả năng học tập và lưu  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Hoàng Bảo và Nguyễn Thị Mỹ  
Hạnh (2017), Tăng huyết áp tâm thu đơn  
độc: Cập nhật sau nghiên cứu Sprint, truy  
cập ngày 03/6/2018, tại trang web http://  
timmachhoc.vn/thong-tin-khoa-hoc/1385-  
tang-huyet-ap-tam-thu-don-doc-cap-nhat-  
sau-nghien-cuu-sprint.html.  
giữ kiến thức của người có tuổi cao sẽ kém  
hơn người trẻ tuổi. Đây là điểm đặc biệt ở  
đối tượng này để người điều dưỡng lần lưu  
ý trong chăm sóc sức khỏe cho người bệnh  
sau này. So với nghiên cứu của V.Eugene,  
nghiên cứu này chỉ ra không có sự liên quan  
giữa tuổi và kiến thức [14]. Điều này là do đối  
tượng trong nghiên cứu này là người trưởng  
thành (từ 18 – 65 tuổi), ở độ tuổi này khả  
năng nhận thức còn cao và chưa bị suy giảm  
trí tuệ. Kết quả này tương đồng với nghiên  
cứu của Z. He và cộng sự (2016) khi ông cho  
rằng nhóm tuổi từ 60 – 75 tuổi có kiến thức  
cao hơn nhóm tuổi > 75 tuổi [16].  
2. Bộ Y tế (2010), Hướng dẫn chẩn  
đoán và điều trị tăng huyết áp, ban hành  
kèm theo Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày  
31/08/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Bộ Y tế  
- Cục quản lý khám chữa bệnh.  
3. Trần Văn Long, Nguyễn Thị Tuyết  
Dương và Trịnh Hùng Mạnh (2010), Thực  
trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới tình  
trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi huyện  
Với các bệnh mạn tính, thông thường  
thời gian mắc bệnh càng dài thì kiến thức  
42  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tạp chí Y học thực  
hành, 818-819, tr. 691-696.  
10. F Saleem, et al. (2011), Association  
between Knowledge and Drug Adherence  
in Patients with Hypertension in Quetta,  
Pakistan. Tropical Journal of Pharmaceutical  
Research, 10(2), pp. 125-132  
4. Almas, et al. (2012), Good  
knowledge about hypertension is linked to  
better control of hypertension: A multicentre  
cross sectional study in Karachi, Pakistan.  
BMC Research, 5.  
11. M. Michalska, et al. (2014), The  
knowledge and awareness of hypertension  
among patients with hypertension in central  
Poland: a pilot registry.Sage journal, 65(6), pp.  
525-532.  
5. Malik, et al. (2014), Hypertension  
related knowledge, practice and drug  
adherence among inpatients of a hospital  
in Samarkand, Uzbekistan.Nagoya Journal  
Medication Science, 76, pp. 255-263.  
12. Mozaffarian, D., et al. (2015), Heart  
disease and stroke statistics--2015 update: a  
report from the American Heart Association.  
Circulation, 131(4), pp. e29-322.  
6. CDC (2015), Heart Disease and  
Stroke Statistics—2015 Update: A Report  
From the American Heart Association.  
Circulation, 131, pp. e29-e322.  
13. Nguyen, T. P., et al. (2014), Direct  
costs of hypertensive patients admitted to  
hospital in Vietnam- a bottom-up micro-  
costing analysis.BMC Health Serv Res, 14,  
p. 514.  
7. Chobanian, A.V., et al. (2003),  
The Seventh Report of the Joint National  
Committee on Prevention, Detection,  
Evaluation, and Treatment of High Blood  
Pressure.  
14. Verna Eugene and Paul Andrew, B.  
(2013), Hypertensive patients: knowledge,  
self-care management practices and  
challenges.Journal of Behavioral Health, 2  
(3), pp. 259-268.  
8. E. Afriyie (2015), Assessment  
of knowledge, attitudes and behaviors  
of hypertension patients at ST. Michael  
hospital Master, University of Science and  
Technology.  
15. WHO (2015), World health statistic  
2015, Risk factor.  
9. Erkoc,  
S.B.  
et  
al.  
(2012),  
16. Z. He, et al. (2016), Factors  
Hypertension Knowledge-Level Scale (HK- Influencing  
Health  
Knowledge  
and  
LS): A Study on Development, Validity Behaviorsamong the Elderly in Rural China.  
and Reliability.International Journal of International Journal of Environmental  
Environmental Research and Public Health, Research and Public Health, 13, p. 975.  
9(12), pp. 1018-1029.  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 02  
43  
pdf 8 trang yennguyen 32100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức tự chăm sóc và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2016", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_tu_cham_soc_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_cua_nguoi_c.pdf