Quản lý bệnh nhân nhiễm HIV đồng nhiễm lao tại 9 phòng khám ngoại trú tại tỉnh Sơn La năm 2012

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
QUẢN LÝ BỆNH NHÂN NHIỄM HIV ĐỒNG NHIỄM LAO  
TẠI 9 PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TẠI TỈNH SƠN LA NĂM 2012  
Đào Thị Minh An1, Trần Minh Như Nguyện2, Phan Trọng Lân3, Bùi Hồng Ngọc1,  
Vũ Toàn Thịnh1, Keith Sabin2, Kato Masaya2, Nguyễn Thanh Long4  
¹
Trường Đại học Y Hà Nội; ²Tổ chức Y tế Thế giới; 3Cục y tế dự phòng; 4Bộ Y tế  
Mô tả quy trình sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và chuyển tuyến điều trị lao cho bệnh nhân HIV tại các  
phòng khám ngoại trú (OPC) để cung cấp bằng chứng cho các nhà lập định chính sách trong việc tăng  
cường quản lý đồng nhiễm Lao/HIV. Trong 653 bệnh nhân HIV, có 11 (1,7%) bệnh nhân được phát hiện lao  
từ trước khi đăng ký tại OPC. Trong lần đầu đăng ký tại OPC, tỷ lệ bệnh nhân HIV được sàng lọc lâm sàng  
lao là cao (92,5%) và dao động từ 96,3% đến 100% qua các lần tái khám. Trong những người có sàng lọc  
lâm sàng (+) (có một trong bốn triệu chứng: đang ho, đang sốt, vã mồ hôi vào ban đêm, sụt cân), tỉ lệ được  
chỉ định xét nghiệm đờm hoặc chụp x - quang là thấp và không ổn định qua 15 lần tái khám, lần lượt dao  
động từ 0% đến 29,4% và 28,6% đến 100%. Trong 416 bệnh nhân có kết quả sàng lọc lâm sàng lao (+),  
29,1% được xét nghiệm đờm và 75,5% được chụp x - quang, 3,4% được chuyển đến các cơ sở lao nhưng  
tất cả các bệnh nhân này đều không có thông tin về điều trị lao. Đặc biệt có 52/416 (12,5%) bệnh nhân có  
sàng lọc lâm sàng lao (+) nhưng không được xét nghiệm đờm hoặc chụp x - quang hoặc chuyển tuyến và  
trong số 62 bệnh nhân có sàng lọc lâm sàng lao (+), xét nghiệm đờm (-) và chụp x - quang (-) cần được  
chuyển đến bệnh viện lao tỉnh Sơn La thì chỉ có 6 (9,7%) được chuyển tuyến thành công.  
Từ khóa: bệnh nhân Lao/HIV, quản lý Lao/HIV, Sơn La  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
năm 2011 khoảng 3,2 triệu người sống chung  
với HIV được sàng lọc lao [4]. Tỷ lệ được  
sàng lọc lao ở bệnh nhân HIV tăng gấp 12 lần  
trong giai đoạn 2005 - 2010 từ 200 nghìn  
người lên 2,3 triệu và tính đến năm 2012, 910  
nghìn người đồng nhiễm Lao/HIV đã được  
cứu sống [5]. Tuy nhiên, công tác sàng lọc  
lâm sàng lao, xét nghiệm đờm và chụp X-  
quang còn nhiều thiết sót đặc biệt trong nhóm  
bệnh nhân HIV/AIDS [6]. Theo nhận định của  
Bộ Y tế, sự phối hợp giữa hai chương trình  
quản lý lao và HIV còn nhiều hạn chế; hệ  
thống văn bản hướng dẫn về chuyên môn và  
quản lý chưa hoàn thiện [2].  
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới  
(WHO) giai đoạn 2008 - 2011, ít nhất 1/3 số  
người nhiễm HIV có đồng nhiễm lao. Theo  
ước tính số người chết vì lao có liên quan đến  
HIV tăng đáng kể từ 350.000 người năm 2010  
lên 430.000 người năm 2011 [1]. Nguy cơ tiến  
triển lao từ thể ẩn sang thể hoạt động cao hơn  
gấp nhiều lần trong nhóm người nhiễm HIV so  
với nhóm không nhiễm HIV (21 - 34 lần theo  
báo cáo của WHO 2011 [1] và từ 20 - 37 lần  
theo báo cáo của Bộ Y tế (MOH) 2012 [2]). Vì  
vậy WHO đã ra hướng dẫn về giám sát, đánh  
giá hoạt động phối hợp trong quản lý các  
trường hợp đồng nhiễm lao/HIV năm 2009 [3].  
Theo báo cáo của tổ chức UNAIDS, trong  
Tại Việt Nam có tổng số 204,019 trường  
hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống tới thời  
điểm tháng 6/2012 [7]. Dịch HIV/AIDS hiện  
nay còn đang ở mức cao và khó kiểm soát,  
nhất là các tỉnh miền núi phía bắc [8]. Tính  
đến 31/12/2005, cả nước đã có 55/64 tỉnh  
thành có bệnh nhân đồng nhiễm Lao/HIV. Tỷ  
Địa chỉ liên hệ: Đào Thị Minh An, Viện Đào tạo Y học và Y  
tế Công cộng, trường Đại học Y Hà Nội  
Email: daothiminhan@yahoo.com  
Ngày nhận: 05/02/2013  
Ngày được chấp thuận: 20/6/2013  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
179  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
lệ đồng nhiễm lao ở bệnh nhân HIV có sự khác  
nhau giữa các tỉnh/thành phố: cao nhất là An  
Giang với 23,1%; Hải Phòng là 10,6%; Quảng  
Ninh là 7,6%; Hà Nội là 7,1%; thành phố Hồ Chí  
Minh là 6,5% và Đồng Tháp là 5,5% [9].  
3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu  
Chọn mẫu toàn bộ các hồ sơ bệnh án của  
bệnh nhân HIV đăng ký khám và điều trị tại  
các phòng khám ngoại trú từ 01/01/2012 đến  
31/10/2012.  
Sơn La là tỉnh đứng vị trí thứ 5 trong cả  
nước về số lượng người nhiễm HIV còn sống  
(6.294 trường hợp) [7]. Theo ước tính, có  
khoảng 10% bệnh nhân HIV có nhiễm Lao  
[10], trong khi đó theo số liệu báo cáo từ trung  
tâm AIDS tỉnh Sơn La thì tỷ lệ này được phát  
hiện rất thấp (2%). Vì vậy, câu hỏi được đặt ra  
là số liệu báo cáo này đã ước tính đúng được  
tỷ lệ mắc lao trong HIV chưa và vấn đề này  
liên quan trực tiếp đến quy trình sàng lọc, phát  
hiện, chẩn đoán, chuyển tuyến và điều trị lao  
(quản lý lao) ở bệnh nhân HIV tại Sơn La như  
thế nào? Vì vậy đề tài này nhằm mục tiêu:  
Mô tả công tác sàng lọc, phát hiện, chẩn  
đoán, chuyển tuyến điều trị lao cho bệnh nhân  
HIV tại các cơ sở OPC tỉnh Sơn La năm 2012.  
3.3. Phương pháp và công cụ thu thập  
thông tin  
Toàn bộ các biến số nghiên cứu được phát  
triển dựa trên khảo sát thực tế hoạt động của  
các phòng phòng khám ngoại trú tại Sơn La và  
theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới  
(2009) và Bộ Y tế (2007) về quy trình phối hợp  
trong chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân  
Lao/HIV. Các biến số và chỉ số sau khi phát  
triển đã được các chuyên gia của WHO góp ý  
để chỉnh sửa hoàn thiện.  
Các biến số được đưa vào bảng thu thập  
thông tin được thiết kế trên phần mềm Epi info  
7.0 và 9 điều tra viên đã trực tiếp nhập liệu từ  
hồ sơ bệnh án vào bảng thu thập thông tin  
trên phần mềm Epi info 7.0 tại thực địa.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
4. Biến số, chỉ số nghiên cứu  
1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:  
Nghiên cứu được tiến hành tại 9 phòng khám  
ngoại trú thuộc 9 huyện/thành phố trên địa bàn  
tỉnh Sơn La trong khoảng thời gian từ tháng  
01/2012 đến tháng 12/2012.  
Thu thập số liệu theo các biến số về đặc  
điểm nhân khẩu học, đăng ký khám và điều trị  
tại phòng khám ngoại trú, sàng lọc và chẩn  
đoán lao, giới thiệu chuyển tuyến và điều trị.  
5. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu  
được nhập trên phần mềm Epi Info 7 sau đó  
được lọc sạch và phân tích trên phần mềm  
Stata/Se 10. Phân tích mô tả: tỷ lệ phần trăm.  
2. Đối tượng: Bệnh nhân đăng kí khám và  
điều trị tại phòng khám ngoại trú từ 01/01/2012  
đến 31/10/2012 trong đó hồ sơ bệnh án của  
các bệnh nhân này được lấy làm đơn vị mẫu.  
6. Đạo đức nghiên cứu  
3. Phương pháp  
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng  
đạo đức tại Trường Đại học Y tế Công cộng.  
3.1. Thiết kế nghiên cứu  
III. KẾT QUẢ  
Nghiên cứu điều tra cắt ngang sử dụng kỹ  
thuật hồi cứu thu thập thông tin từ bệnh án  
của bệnh nhân HIV đăng ký khám chữa bệnh  
tại các phòng khám ngoại trú Sơn La từ  
01/01/2012 đến 31/10/2012.  
1. Đặc điểm chung của đối tượng  
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam  
71,3% (466/653), độ tuổi trung bình là 33 ± 8  
180  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
(từ 1 đến 68); nghề nghiệp chính là nông dân  
đăng ký tại các OPC khá đồng đều giữa các  
tháng, thấp nhất là tháng 1 với 5,4% (35/650).  
96,52% (610/632). Số lượng bệnh nhân HIV  
2. Thực trạng quản lý bệnh nhân HIV nhiễm lao tại 9 phòng khám ngoại trú tỉnh Sơn La  
từ ngày 1/1/2012 đến ngày 31/10/2012  
Tổng số bệnh nhân đăng kí khám và điều trị tại phòng  
khám ngoại trú từ 1/1/2012 đến 31/10/2012  
(n = 653)  
Bệnh nhân chưa được chẩn đoán lao (+)  
tại thời điểm đăng kí tại OPC  
(n = 642)  
Bệnh nhân được chẩn đoán lao (+) tại  
thời điểm đăng kí tại OPC  
(n = 11)  
Được SLLSL  
Không được SLLSL  
Được SLLSL  
Không được SLLSL  
(n = 11)  
(n = 0)  
SLLSL (+)  
SLLSL(-)  
SLLSL(-)  
SLLSL(+)  
XNĐ  
n=4+121=125  
Không làm gì  
n = 1+ 52 = 53  
CXQ  
n = 6 + 314 = 320  
XNĐ(+)  
XNĐ(-)  
CXQ(-)  
CXQ(+)  
Số BN cần được chuyển tuyến tới bệnh viện Lao tỉnh Sơn La  
(SLLSL(+), CXQ(-), XNĐ(-))  
(n = 62)  
Số bệnh nhân được giới  
thiệu chuyển tuyến  
(n=14)  
Số bệnh nhân không  
được chuyển tuyến  
(n = 48)  
Số bệnh nhân được chuyển thành công  
(n = 6)  
Thông tin điều trị tại các cơ sở điều trị lao  
Sơ đồ 1. Thực trạng quản lý bệnh nhân HIV nhiễm lao tại 9 cơ sở phòng khám ngoại trú  
tỉnh Sơn La từ ngày 1/1/2012 đến ngày 31/10/2012  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
181  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
* SLLSL: sàng lọc lâm sàng lao; XNĐ: xét nghiệm đờm; CXQ: chụp X-quang  
Sơ đồ 1 cho thấy công tác quản lý lao trên bệnh nhân HIV đăng ký tại OPC Sơn La đã được  
thực hiện qua 4 bước: sàng lọc lâm sàng lao phát hiện các bệnh nhân nghi ngờ; chỉ định xét  
nghiệm đờm và chụp X-quang; chuyển tuyến và điều trị. Tuy nhiên qui trình này chưa được thực  
hiện đồng bộ. Vẫn còn các trường hợp có sàng lọc lâm sàng lao (+) nhưng không được xét  
nghiệm đờm, chụp X-quang. Có những trường hợp có sàng lọc lâm sàng lao (+), xét nghiệm đờm  
(-) và chụp X-quang (-) nhưng không được chuyển tuyến tới bệnh viện lao tỉnh Sơn La để khẳng  
định lao. Một điểm đáng quan tâm là toàn bộ hồ sơ của bệnh nhân được chuyển tuyến hoặc  
chuyển tuyến thành công hoàn toàn không có thông tin về ngày điều trị và phác đồ điều trị lao.  
3. Sàng lọc lâm sàng, xét nghiệm đờm, chụp X-quang  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ sàng lọc lâm sàng và tỉ lệ có dấu hiệu lâm sàng (+) trong 15 lần tái khám  
Tỷ lệ sàng lọc lâm sàng lao cao qua 15 lần tái khám dao động từ 92,5% đến 100%. Tuy nhiên  
tỷ lệ có sàng lọc lâm sàng lao (+) không cao từ 0% - 17,3% trừ lần đầu tiên là 64,1%.  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ chụp X-quang và xét nghiệm đờm trong số bệnh nhân có kết quả  
sàng lọc lâm sàng lao (+)  
182  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Tỷ lệ được chỉ định xét nghiệm đờm hoặc chụp X-quang trong số bệnh nhân có kết quả sàng  
lọc lâm sàng lao (+) là thấp và không ổn định ở 15 lần tái khám, dao động từ 0% đến 29,4% đối  
với xét nghiệm đờm và từ 78,7% đến 100% đối với chỉ định chụp X-quang.  
IV. BÀN LUẬN  
tỉnh Sơn La (của dự án Life Gap và Quỹ toàn  
cầu) đều được Chương trình AIDS của Đại  
Tỷ lệ sàng lọc lâm sàng  
học Y Harvard tại Việt Nam (HAIVN) tập huấn  
Công tác sàng lọc lâm sàng lao cho bệnh  
về kỹ năng sàng lọc lao. Do đó tập huấn sàng  
nhân HIV đã được thực hiện ở nhiều quốc gia  
lọc lao cho cán bộ điều trị tại các phòng khám  
trên thế giới. Tỷ lệ sàng lọc lâm sàng lao cho  
ngoại trú theo mô hình của HAIVN hỗ trợ các  
bệnh nhân HIV tại Ethiopia năm 2010 là 94%  
phòng khám ngoại trú Sơn La cho các tỉnh  
[11], tại Nam Phi năm 2001 là 40,8 % [12]. Tại  
chưa được hỗ trợ là cần thiết.  
Việt Nam, theo quyết định số 3116/QĐ-BYT,  
Chỉ định xét nghiệm đờm, chụp X-quang  
tất cả các bệnh nhân HIV phải được sàng lọc  
và chuyển tuyến trong số bệnh nhân có kết  
lâm sàng lao [13]. Theo báo cáo của thành  
quả sàng lọc lâm sàng lao dương tính  
phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ sàng lọc lâm sàng lao  
tại phòng khám ngoại trú quận 5 năm 2011 là  
42% [14]. Nghiên cứu này chỉ ra công tác  
sàng lọc lâm sàng lao tại các phòng khám  
ngoại trú tỉnh Sơn La được thực hiện khá tốt  
với tỷ lệ sàng lọc lâm sàng lao qua các lần tái  
khám từ 92,5% đến 100%.  
Theo qui định của Bộ Y tế về quy trình phối  
hợp trong chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh  
nhân Lao/HIV năm 2007 [13], 100% trường  
hợp bệnh nhân có sàng lọc lâm sàng lao (+)  
cần được chỉ định chụp X-quang và xét  
nghiệm đờm. Nhưng kết quả của nghiên cứu  
này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có sàng lọc lâm  
sàng lao (+) được chỉ định xét nghiệm đờm  
hoặc chụp X-quang còn thấp và không ổn định  
giữa các lần tái khám. Tỷ lệ bệnh nhân có  
sàng lọc lâm sàng lao (+) được xét nghiệm  
đờm chỉ từ 0% đến 29,4% và tỷ lệ được chụp  
X-quang trong nhóm bệnh nhân này từ 28,6%  
đến 100%. Tỷ lệ chụp X-quang cao hơn hẳn  
xét nghiệm đờm có thể do chụp X-quang đơn  
giản và dễ làm hơn xét nghiệm đờm. So sánh  
hoạt động này với một số nước trên thế giới  
phần nào cho thấy kỹ năng chỉ định chụp  
X-quang và xét nghiệm đờm tại các phòng  
khám ngoại trú tỉnh Sơn La là chưa tốt. Tại  
Kenya năm 2010 tỷ lệ bệnh nhân HIV có lâm  
sàng lao (+) được chỉ định chụp X-quang là  
68,4% trong khi đó tỉ lệ này ở phòng khám  
ngoại trú Sơn La là 66,4%; tỷ lệ chỉ định xét  
nghiệm đờm tại Kenya là 55,3% so với 22,9%  
tại phòng khám ngoại trú Sơn La [15].  
Tỷ lệ mắc lao trong nhóm người nhiễm HIV  
tại Việt Nam theo các báo cáo từ các tỉnh dao  
động xung quanh mức 10% [10]. Tỷ lệ này ở  
Hải Phòng là 10,6%, thành phố Hồ Chí Minh  
là 6,5%, Đồng Tháp là 5,5 %, Hà Nội là 7,1 %  
và An Giang là 23,1% [9]. Nghiên cứu này chỉ  
ra toàn bộ hồ sơ bệnh nhân HIV đăng ký tại  
các phòng khám ngoại trú Sơn La không ghi  
nhận thông tin khẳng định chẩn đoán lao (+)  
nên không ước tính được tỷ lệ mắc lao trong  
nhóm HIV. Tuy nhiên dựa vào tỷ lệ 17,2%  
bệnh nhân HIV được sàng lọc lâm sàng lao  
(+) tại các phòng khám ngoại trú Sơn La thì có  
thể thấy tỷ lệ này ở mức cao hơn so với tỷ lệ  
mắc lao trên nhóm người HIV ở hầu hết các  
tỉnh thành trừ An Giang. Điều này phần nào có  
thể gián tiếp nhận thấy rằng kỹ năng sàng lọc  
lâm sàng lao tại các phòng khám ngoại trú tỉnh  
Sơn La là khá tốt. Trên thực tế, hiện nay các  
cán bộ làm việc tại các phòng khám ngoại trú  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
183  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tỉ lệ bệnh  
nhân có biểu hiện nghi ngờ lao được chuyển  
tuyến rất thấp. Trong tổng số 416 bệnh nhân  
có kết quả sàng lọc lâm sàng lao (+), chỉ có 14  
bệnh nhân được phát hiện lao từ trước khi  
đăng ký tại xét nghiệm đờm. Trong lần đầu  
đăng ký tại xét nghiệm đờm, tỷ lệ bệnh nhân  
HIV được sàng lọc lâm sàng lao là cao  
(92,5%) và dao động từ 96,3% đến 100% qua  
các lần tái khám.  
(3,4%) trường hợp được giới thiệu chuyển  
tuyến tới các cơ sở chẩn đoán và điều trị lao  
thể hiện bằng chỉ định chuyển tuyến của bác  
sĩ ghi trong hồ sơ bệnh án. Trong số 416 bệnh  
nhân có kết quả sàng lọc lâm sàng lao (+), có  
62 bệnh nhân có kết quả chụp X-quang (-) và  
xét nghiệm đờm (-) là những bệnh nhân cần  
được chuyển tuyến tới bệnh viện lao tỉnh Sơn  
La theo hướng dẫn của Bộ Y tế [13] và tập  
huấn của HAIVN nhưng chỉ có 9,7% (6/62)  
được chuyển tuyến thành công thông qua  
danh sách tên các bệnh nhân này được ghi  
nhận tại bệnh viện lao tỉnh Sơn La. Tỷ lệ này  
thấp có thể do cán bộ y tế của xét nghiệm đờm  
không chỉ định chuyển tuyến hoặc có chỉ định  
chuyển tuyến nhưng bệnh nhân không đi. Theo  
số liệu của thành phố Hồ Chí Minh năm 2011,  
tỷ lệ chuyển tuyến thành công bệnh nhân nghi  
ngờ mắc lao từ xét nghiệm đờm đến cơ sở  
điều trị lao là 62% [14]. Như vậy từ kết quả của  
nghiên cứu này, có thể thấy mặc dù chỉ định  
sàng lọc lâm sàng lao tại các xét nghiệm đờm  
tỉnh Sơn La là rất cao nhưng kỹ năng chỉ định  
chụp X-quang, xét nghiệm đờm và chuyển  
tuyến chưa được thực hiện tốt. Bên cạnh đó  
nghiên cứu này chỉ ra rằng việc phản hồi và  
ghi nhận thông tin điều trị lao (ngày bắt đầu  
điều trị và phác đồ điều trị lao) cho xét nghiệm  
đờm là rất hạn chế. Có thể thấy 2 vấn đề này  
là điểm yếu kém trong công tác phối hợp giữa  
hệ quản lý điều trị HIV và hệ quản lý điều trị  
lao, vì vậy cần có những giải pháp sớm để  
khắc phục tình trạng này.  
Trong những người có sàng lọc lâm sàng  
lao (+) (có một trong bốn triệu chứng: đang  
ho, đang sốt, vã mồ hôi vào ban đêm, sút  
cân), tỷ lệ được chỉ định xét nghiệm đờm  
hoặc chụp X-quang là thấp và không ổn định  
qua 15 lần tái khám, lần lượt dao động từ 0%  
đến 29,4% và 28,6% đến 100%. Trong 416  
bệnh nhân có kết quả sàng lọc lâm sàng lao  
(+), 29,1% được xét nghiệm đờm và 75,5%  
được chụp X-quang, 3,4% được chuyển đến  
các cơ sở lao nhưng tất cả các bệnh nhân này  
đều không có thông tin về điều trị lao. Đặc biệt  
có 52/416 (12,5%) bệnh nhân có sàng lọc lâm  
sàng lao (+) nhưng không được xét nghiệm  
đờm hoặc chụp X-quang hoặc chuyển tuyến  
và trong số 62 bệnh nhân có sàng lọc lâm  
sàng lao (+), xét nghiệm (-) và chụp X-quang  
(-) cần được chuyển đến bệnh viện lao tỉnh  
Sơn La thì chỉ có 6 (9,7%) được chuyển tuyến  
thành công.  
Khuyến nghị  
Tăng cường công tác tập huấn cho cán bộ  
xét nghiệm đờm về nâng cao năng lực trong  
kỹ năng chỉ định chụp X-quang, xét nghiệm  
đờm và chuyển tuyến cho bệnh nhân có sàng  
lọc lâm sàng lao (+) theo đúng hướng dẫn của  
số 3116/BYT. Đưa chỉ số về tỷ lệ được chỉ  
định xét nghiệm đờm, tỷ lệ được chỉ định chụp  
X-quang trong số những bệnh nhân có sàng  
lọc lâm sàng lao (+) và chỉ số về chuyển tuyến  
thành công vào bộ chỉ số giám sát Lao/HIV  
của chương trình giám sát HIV cũng như  
chương trình Lao quốc gia. Bên cạnh đó, cần  
V. KẾT LUẬN  
Trong 653 bệnh nhân HIV, có 11 (1,7%)  
184  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
có thêm các nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu  
lý do tại sao chỉ định chụp X-quang, xét  
nghiệm đờm và chuyển tuyến thấp và không  
ổn định từ phía cung cấp dịch vụ cũng như từ  
phía bệnh nhân để làm cơ sở cho các giải  
pháp khắc phục tình trạng chuyển tuyến thấp  
tại các xét nghiệm đờm Sơn La.  
7. Bộ Y tế (2012). Báo cáo công tác  
phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và  
trọng tâm kế hoạch 6 tháng cuối năm. Hà Nội.  
8. Global Fund (2012). Nghiên cứu điều  
tra trong nhóm nghiện chích ma túy và phụ nữ  
bán dâm ở 10 tỉnh/thành phố. Hà Nội; 2012.  
9. Hoàng Hà (2012). Thực trạng HIV/AIDS  
và kết quả truyền thông phòng chống lao/HIV  
cho bệnh nhân HIV(+) ở một số xã/phường  
tp.Thái Nguyên. Đại học Thái nguyên; 2012.  
Lời cám ơn  
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Tổ chức Y  
tế Thế giới và MECOR đã hỗ trợ kinh phí cho  
chúng tôi để hoàn thành nghiên cứu này.  
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn các  
lãnh đạo, nhân viên y tế tại trung tâm phòng  
chống HIV/AIDS, các cơ sở phòng khám  
ngoại trú, bệnh viện Lao tỉnh Sơn La đã nhiệt  
tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thu thập  
số liệu nghiên cứu.  
10. Đại sứ quán Hợp chủng Quốc Hoa  
kỳ tại Việt Nam (2012). Những biện pháp  
quan trọng phòng chống bệnh lao và HIV/  
AIDS. Kế hoạch Khẩn cấp Cứu trợ HIV/AIDS  
của Tổng thống Mỹ (PEPFAR).  
11. Melaku Z (2011). TB screening and  
IPT: Experience from Ethiopia. The 17th Core  
Group Meeting of the TB/HIV Working Group,  
Beijing (China).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. World Health Organization (2009,  
12. Day JH, Charalambous S, Fielding  
KL et al (2006). Screening for tuberculosis  
prior to isoniazid preventive therapy among  
HIV-infected gold miners in South Afreica. INT  
J Tuberc Lung Dis 2006, 10(5): 523 - 529.  
2010, 2011). TB/HIV Facts 2009, 2010, 2011.  
2. Bộ Y tế (2012). Quyết định số 2494: Về  
khung kế hoạch phối hợp giữa chương trình  
mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS và  
dự án phòng chống bệnh lao thuộc chương  
trình mục tiêu quốc gia y tế, giai đoạn 2012-  
2015. Hà Nội.  
13. Bộ Y tế (2012). Quy trình phối hợp  
trong chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân  
lao/HIV. Hà Nội.  
3. WHO (2012). Policy on collaborative TB/  
HIV activities.  
14. Nguyen Ngoc Phat, Nguyen Van  
Quy, Nguyen Thi Hong Van, Vu Trieu Thi  
Trinh (2012). TB Screening at Out-patient HIV  
Clinic, District 5, HCMC, Vietnam. Healthqual  
International; 2012.  
4. UNAIDS (2012). UNAIDS Report on the  
Global AIDS Epidemic 2012.  
5. UNAIDS (2012). UNAIDS calls for an  
integrated approach to HIV and TB services.  
In. Geneva.  
15. Kosgei RJ, Ndavi PM, Ong’ech JO et  
6. Reid MJ, MRCP, Shah NS, MDb  
(2009): Approaches to tuberculosis screening  
and diagnosis in people with HIV in resource-  
limited settings. The Lancet infectious  
diseases 2009, 9(3): 173 - 184.  
al (2011). Symptom screen: diagnostic  
usefulness  
in  
detecting  
pulmonary  
tuberculosis in HIV-infected pregnant women  
in Kenya. Public health action. 1(2), 30.  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
185  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Summary  
MANAGEMENT CASCADE OF HIV PATIENTS WITH ACTIVE  
TUBERCULOSIS AT NINE HIV CARE OUTPATIENT CLINICS IN SON  
LA PROVINCE, VIET NAM, 2012  
Our study was to describe the cascade of screening, diagnosis, and referral to TB treatment  
for HIV patients in OPC to provide evidence for policy-makers in strengthening management of  
HIV-TB patients. Of 653 HIV patients, 11 (1.7%) had history of TB disease before enrolled for  
care at OPC. TB clinical screening in the OPC was high (92.5%) at the first visit and ranged from  
96.3% to 100% at subsequent re-examinations. Among those screened with TB clinical signs (+),  
with one of the four symptoms, cough, fever, night sweats or weight loss, through their  
re-examination visits, the proportion of being tested by x-ray or sputum were low and fluctuated  
from 28.6% to 100% and 0% to 29.4%, respectively. Overall, among 416 patients with positive TB  
diagnosis, only 29.1% were prescribed for sputum testing, 75.5% for x-ray, 3.4% were referred to  
TB facilities for diagnosis and treatment but all of these 14 medical records had no information of  
TB treatment and there was still 12.5% (52/416) had no record of further testing or referral. Of 62  
patients who was screened positive for TB (+) but was not tested by X-ray and sputum testing and  
should have been referred to provincial TB hospital, only six (9.7%) were referred successfully.  
Key words: HIV-TB patients, management of HIV-TB, Son La  
186  
TCNCYH 83 (3) - 2013  
pdf 8 trang yennguyen 15940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý bệnh nhân nhiễm HIV đồng nhiễm lao tại 9 phòng khám ngoại trú tại tỉnh Sơn La năm 2012", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_ly_benh_nhan_nhiem_hiv_dong_nhiem_lao_tai_9_phong_kham.pdf