Nhận xét bước đầu về nội soi lồng ngực chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi ở người cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ NỘI SOI LỒNG NGỰC CHẨN ĐOÁN  
VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ MÀNG PHỔI Ở NGƯỜI CAO TUỔI  
TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT  
Nguyễn Đỗ Nhân*, Trần Văn Sơn*  
TÓM TẮT  
Mở đầu: nội soi lồng ngực trong 10 năm gần đây có nhiều bước tiến vượt bậc. Với nhiều ưu điểm, nội soi  
lồng ngực cần được đánh giá bước đầu trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi trên người cao tuổi  
tại bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh.  
Mục tiêu: nhận xét bước đầu về nội soi lồng ngực chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi ở người cao tuổi  
tại bệnh viện Thống Nhất.  
Phương pháp: mô tả những trường hợp được nội soi chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi tại bệnh viện  
Thống Nhất từ tháng 11/2010 đến 11/2011.  
Kết quả: từ tháng 11/2010 đến 11/2011, có 06 trường hợp nội soi màng phổi chẩn đoán và điều trị. Chúng  
tôi ghi nhận những thông tin về độ tuổi, giới tính, bệnh sử, bệnh nội khoa đi kèm, kết quả nội soi chẩn đoán, điều  
trị(ngắn hạn), thời gian phẫu thuật, nằm viện, hậu phẫu, biến chứng.  
Kết luận: kết quả bước đầu cho thấy thời gian lành vết mổ nhanh, ít đau, kết quả chẩn đoán đúng, điều trị  
hiệu quả. Cần nghiên cứu nhiều hơn để áp dụng vào điều trị bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Thống Nhất ngày  
một hiệu quả.  
Từ khóa: bệnh viện Thống Nhất, nội soi lồng ngực, can thiệp tối thiểu.  
ABSTRACT  
INITIAL REMARKS ON THORACOSCOPY FOR DIAGNOSIS AND TREATMENT OF PLEURAL  
DISEASES IN ELDERLY PERSON IN THE THONG NHAT HOSPITAL  
Nguyen Do Nhan, Tran Van Son  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 280 - 284  
Objective: Since the last decade, thoracoscopy have many major. With many advantages, the effectiveness of  
thoracoscopy should be evaluated initially in the diagnosis and treatment of pleural disease in the aged person at  
Thong Nhat Hospital in Ho Chi Minh City.  
Initial remarks on thoracoscopy for diagnosis and treatment of pleural diseases in elderly person in the Thong  
Nhat hospital.  
Methods: cases series of diagnostic and therapeutic pleural endoscopy in Thong Nhat hospital from 11/2010  
to 11/2011.  
Results: it have carried out 06 cases of diagnostic and therapeutic pleural endoscopy. We recorded  
information on age, sex, medical history, associated medical conditions, results of diagnosis and (short term)  
treatment by pleural endoscopy, duration of endoscopic surgery, hospital stay, post-operative complications.  
Initial results showed faster wound healing time, less pain, precise diagnosis, effective treatment.  
* Bệnh viện Thống Nhất Tp Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Đỗ Nhân  
ĐT: 0982 220994  
Email: bsnguyendonhan@gmail. com  
280  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Conclusions: More studies are needed in order to apply quickly this method to elderly patients treated  
Thong Nhat hospital for its effectiveness.  
Keywords: Thong Nhat hospital, thoracoscopy, pleural disease. minimize invasive.  
mạch vào đầu thập niên 1980 giúp đưa hình  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
ành nội soi lên màn hình, mọi người đều quan  
Phẫu thuật nội soi lồng ngực trong 10 năm  
sát được một cách rõ ràng(9).  
gần đây có nhiều bước tiến vượt bậc. Một số  
Tại thành phố Hồ Chí Minh, dù mới bắt đầu  
chẩn đoán, giám sát và điều trị bệnh màng  
vào năm 1996 với nội soi cắt hạch giao cảm điều  
phổi trước đây phải mổ hở thì nay đã có thể  
trị tăng tiết mồ hôi tay. Chỉ trong chưa đầy 10  
thực hiện qua nội soi. Tại thành phố Hồ Chí  
năm tiếp theo, nhiều trung tâm lớn trong thành  
Minh, từ năm 1996 đến nay, một số bệnh viện đã  
phố Hồ Chí Minh như: bệnh viện Chợ Rẫy,  
bắt đầu áp dụng phẫu thuật nội soi chẩn đoán  
bệnh viện Nhân Dân Gia Định, bệnh viện Cấp  
và điều trị thay thế mổ hở như bệnh viện Bình  
cứu Trưng Vương đã thực hiện phẫu thuật nội  
Dân, Chợ Rẫy, Nhân Dân Gia Định, Cấp Cứu  
soi để chẩn đoán và điều trị, nhất là trong lĩnh  
Trưng Vương v.v… đã đạt được nhiều kết quả  
vực Lồng ngực và Tim mạch.  
khả quan.  
Chỉ định nội soi lồng ngực chẩn đoán bệnh  
Từ những năm 2000, Tại bệnh viện Thống  
màng phổi bao gồm: Tràn dịch màng phổi tái  
Nhất thành phố Hồ Chí Minh, đã triển khai  
phát và khu trú (ngoại trừ tràn dịch do lao hoặc  
phẫu thuật mổ mở chẩn đoán và điều trị có hiệu  
ung thư), sinh thiết màng phổi (ngoại trừ lao  
quả nhiều bệnh lý phổi-màng phổi phức tạp  
hoặc u trung biểu mô). Nội soi lồng ngực điều  
trên người cao tuổi. Tuy nhiên, phẫu thuật nội  
trị bệnh màng phổi có chỉ định tương đối rộng  
soi cũng có nhiều ưu điểm như đường mổ nhỏ  
rãi, thay thế cho nhiều phương pháp điều trị mổ  
nhưng nhìn và thao tác rộng, ít xâm lấn, giảm  
hở trước đây như: tràn dịch màng phổi tái phát  
đau, giảm nguy cơ xẹp phổi, thời gian hậu phẫu  
nội soi làm xơ hóa với bột Talc, viêm mủ màng  
ngắn. v. v… (9). Những ưu điểm này sẽ càng hữu  
phổi (đặc biệt dẫn lưu trong viêm mủ màng  
ích hơn nữa khi áp dụng trên những bệnh nhân  
phổi đóng kén, khu trú). Bóc vỏ màng phổi  
cao tuổi, nhiều bệnh lý nội khoa kèm theo. Vì  
(màng phổi dầy dính, ép xẹp phế nang), lấy  
vậy, cần có nhận xét bước đầu về nội soi lồng  
máu đông và khống chế chảy máu, dẫn lưu, rửa  
ngực chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi ở  
màng phổi trong tràn máu màng phổi. Cần chú  
người cao tuổi để nghiên cứu nhiều hơn, áp  
ý những chống chỉ định của nội soi như: dầy  
dụng lâm sàng, mang lại hiệu quả điều trị tốt  
dính màng phổi, bất thường không thể gây mê  
hơn cho người bệnh.  
chọn lọc để xẹp phổi một bên, những chống chỉ  
Tổng quan  
Đầu thế kỷ thứ 19, kỹ thuật chế tạo dụng  
định ngoai khoa chung như rối loạn đông máu  
nặng, ho kéo dài, hạ oxy máu, suy tim tiến triển,  
trang thiết bị gây mê v. v…(9).  
cụ có một số thay đổi mang tính đột phá tạo  
nên tiền đề cho việc áp dụng hiệu quả dụng  
cụ nội soi vào lâm sàng. Đầu tiên là phát  
minh về bóng đèn dây tóc của Thomas Edison  
và sự phát triển của hệ thống thấu kính dùng  
cho kính soi vào thập niên 1870-1880; sau đó  
là hệ thống thấu kính hình que được Hopkins  
phát minh vào cuối thập niên 1950 cùng với  
sợi cáp quang truyền dẫn ánh sáng lạnh. Cuối  
cùng là sự xuất hiện các camera rất nhỏ có vi  
Nội soi lồng ngực có một số ưu điểm so  
với phẫu thuật mổ mở kinh điển như phẫu  
thuật tối thiểu, làm giảm đáng kể tai biến xẹp  
phổi hậu phẫu, làm giảm rõ rệt nhiễm khuẩn  
phổi, thời gian hậu phẫu. Đồng thời, toàn bộ  
phẫu trường đều được thể hiện trên màn  
hình, cho phép toàn bộ kíp mỗ, gây mê quan  
sát tốt so với quan sát qua một đường mổ nhỏ  
ở thành ngực như trong sinh thiết phổi mở.  
281  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Họ và tên  
4. Hà Q. H  
5. Nguyễn V. L  
6. Trần M. N  
Tuổi  
82  
46  
Giới  
Nam  
Nam  
Nam  
Không chỉ thế, do chỉ mở một lỗ nhỏ để vào  
trocart nên gần như không mất thời gian mở  
ngực. Thời gian đóng ngực chỉ là đóng vài lỗ  
trocart. Biến chứng chảy máu thành ngực  
cũng như đau vết mổ giảm đi đáng kể. Ưu  
điểm này làm giảm mất máu cho những bệnh  
nhân có rối loạn đông máu, suy thận hoặc  
giúp ích rất nhiều cho những trường hợp có  
bệnh nền viêm phổi tắc nghẽn mạn tính có thể  
nhanh chóng tập thở, phục hồi sớm công  
năng hô hấp, sớm trở lại hoạt động sinh hoạt  
79  
Bảng 2: độ tuổi và giới tính các trường hợp nghiên  
cứu.  
Chẩn đoán  
Tràn dịch màng phổi  
U màng phổi trá i  
Tràn má u màng phổi  
Tràn dịch màng phổi  
U thành ngực  
Điều trị  
K màng phổi  
fibrous mesothelioma 5 ngày  
K màng phổi  
Sarcô m thành ngực  
xâ m lấn màng phổi  
Hậu phẫu  
7 ngày  
8 ngày  
6 ngày  
thông thường(2,5,6)  
.
Tràn dịch màng phổi  
nghi K  
Lao màng phổi  
5 ngày  
Tuy nhiên, nội soi lồng ngực cũng có một số  
nhược điểm như thao tác của phẫu thuật viên  
phải thông qua nhìn gián tiếp qua màn hình, kỹ  
thuật đặt nội khí quản chọn lọc cần chính xác để  
xẹp phổi hiệu quả. Và một trong những bất lợi  
lớn là phẫu thuật viên không “sờ, chạm” vào  
khối u - một trong những cách tiếp cận quan  
trọng để đánh giá đại thể. Những nhược điểm  
này có thể khắc phục bằng cách luyện tập, thao  
tác kỹ thuật sẽ dần hoàn thiện. Một số biến  
chứng có thể gặp trong nội soi như tràn khí  
màng phổi, tràn khí dưới da, đau, chảy máu,  
nhiễm khuẩn vết mổ, viêm xẹp phổi, tử  
vong(1,2,6,7) v. v… Những biến chứng này rất ít  
gặp trong phẫu thuật nội soi và thường có thể  
xử trí kịp thời bằng nội khoa.  
Tràn dịch màng phổi Viêm mủ màng phổi 30 ngày  
Bảng kết quả chẩn đoán, điều trị và thời gian  
hậu phẫu.  
BÀN LUẬN  
Nội soi màng phổi chẩn đoán tràn dịch  
màng phổi do lao. Trên lâm sàng, kết hợp các  
xét nghiệm khác như nhuộm Nelsen từ dịch  
màng phổi hoặc mô từ sinh thiết màng phổi kín  
thường đã chẩn xác định lao màng phổi. Một số  
trường hợp chưa thể xác định cần phải nội soi  
màng phổi. Quan sát qua ống soi là những nốt  
trắng nhỏ trên màng phổi. Sinh thiết những tổn  
thương này, kết hợp với nuôi cấy vi khuẩn lao  
cho tỷ lệ chẩn đoán cao.  
Trường hợp tràn dịch màng phổi ác tính: nội  
soi màng phổi là phương pháp chẩn đoán cho  
kết quả khá chính xác và trực quan. Trước khi có  
nội soi, việc lấy mẫu mô làm tế bào học hoặc  
giải phẩu bệnh thường qua chọc dịch làm  
cellbolck hoặc sinh thiết màng phổi xuyên thành  
ngực. Kết quả nghiên cứu 287 trường hợp của  
Hansen M và cộng sự cho thấy độ nhậy tương  
đương trong chẩn đoán giữ nội soi màng phổi  
94% và sinh thiết màng phổi kín 74% (p<0,001).  
Tuy nhiên, cũng cần chú ý trong kỹ thuật sinh  
thiết màng phổi kín là không quan sát được trực  
tiếp tổn thương, trong khi đó nội soi có thể định  
hướng chính xác hơn, nhìn được rộng hơn.  
Những trường hợp nội soi cho kết quả âm giả  
thường do mảnh sinh thiết không đủ, định vị  
không đúng tổn thương, vào khối u khó khăn  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Thiết kế nghiên cứu  
Thống kê mô tả hàng loạt ca, hồi cứu.  
Đối tượng nghiên cứu  
Những trường hợp được nội soi lồng ngực  
chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi trong  
thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 11/2011 tại  
khoa Ngoại bệnh viện Thống Nhất.  
KẾT QUẢ  
Ghi nhận 06 trường hợp nội soi lồng ngực  
Bảng 1: Danh sách bệnh nhân  
Họ và tên  
1. Nguyễn B. N  
2. Nguyễn V. X  
3. Lâ m M. T  
Tuổi  
61  
55  
62  
Giới  
Nam  
Nam  
Nam  
282  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
do dầy dính. Những trở ngại này đòi hỏi kinh  
nghiệm của phẫu thuật viên. Độ chính xác của  
nội soi màng phổi tương tự ở các dạng khác  
nhau của K màng phổi (4). Nội soi màng phổi  
còn có giá trị trong phân giai đoạn ung thư  
phổi, ung thư trung biểu mô màng phổi lan tỏa,  
ung thư di căn. Ở những bệnh nhân ung thư  
phổi, nội soi màng phổi xác định có di căn  
màng phổi hay không. Canton và cộng sự  
không tìm thấy bằng chứng xâm lấn màng phổi  
ở 8/44 bệnh nhân u phổi có TDMP, 6 trường hợp  
sau đó được mổ, kết quả khẳng định không có  
tổn thương di căn màng phổi(5). Nghiên cứu  
tương tự, qua 45 trường hợp bệnh nhân ung thư  
phổi, D. Weissberg(11) ghi nhận: 37 trường hợp  
có xâm lấn màng phổi, 3 trường hợp bệnh lý  
trung thất, 5 trường hợp không có bằng chứng  
do di căn.  
Nội soi lồng ngực trong chẩn đoán tràn dịch  
do viêm phổi: phương pháp này có thuận lợi là  
phá được những khoang, ổ cặn màng phổi,  
những trường hợp tràn dịch khu trú hoặc có  
ngóc ngách, các ống dẫn lưu được đặt ở vị trí  
thích hợp, quá trình bơm rửa màng phổi liên  
tục, hiệu quả. Không chỉ thế, tổn thương gây  
dầy dính màng phổi được bóc vỏ, giúp phổi dãn  
nở hiệu quả hơn, giảm nguy cơ viêm xẹp phổi.  
Theo Rusch VW, Thời gian trung bình cho đặt  
và rút dẫn lưu màng phổi sau nội soi là 3,3 tới  
7,1 ngày so với chỉ đặt dẫn lưu đơn thuần không  
nội soi là 5,3 tới 12,3 ngày. Thời gian nằm viện  
trung bình là 11,4 ngày so với những trường  
hợp không nội soi là 18,4 ngày(10).  
TDMP dịch tiết ở những bệnh nhân chưa có kết  
luận chẩn đoán sau khi soi màng phổi(4). H. B.  
Dingley(3), tiến hành so sánh 2 phương pháp  
sinh thiết màng phổi qua nội soi và sinh thiết  
màng phổi mù trên 57 bệnh nhân tràn dịch  
màng phổi không rõ nguyên nhân, kết quả cho  
thấy, sinh thiết mù có thể chẩn đoán nguyên  
nhân được cho 13 bệnh nhân tràn dịch màng  
phổi, có tới 44 bệnh nhân không chẩn đoán  
được nguyên nhân. Khi sinh thiết qua nội soi  
màng phổi, có 43 bệnh nhân chẩn đoán được  
nguyên nhân, trong đó 13 bệnh nhân chẩn đoán  
được qua sinh thiết mù nằm trong nhóm chẩn  
đoán được nguyên nhân qua nội soi. Có 14 bệnh  
nhân tràn dịch màng phổi không chẩn đoán  
được nguyên nhân qua sinh thiết màng phổi  
qua nội soi. Sự khác biệt giữa 2 phương pháp có  
ý nghĩa thống kê. Những trường hợp trong  
nghiên cứu của chúng tôi sau nội soi lồng ngực  
đều cho chẩn đoán xác định. Cần thực hiện  
nhiều trường hợp hơn nữa để ghi nhận những  
tình huồng chẩn đoán khó hoặc mô học không  
rõ ràng.  
Trong những trường hợp chúng tôi  
nghiên cứu, ghi nhận có 1 trường hợp tràn khí  
dưới da sau dẫn lưu do hở chân ống dẫn lưu,  
còn lại chưa ghi nhận những biến chứng khác.  
Theo những nghiên cứu tương tự, tỉ lệ biến  
chứng nói chung thấp và có thể xử trí bằng  
nội khoa. Boutin C nghiên cứu trên 4300 ca, tỷ  
lệ tử vong là 0,09% (1). Những tỷ lệ này là bằng  
hoặc thấp hơn so với sinh thiết xuyên thành  
phế quản. Boutin C và Viallat Jr trong một  
nghiên cứu khác trên 817 ca nội soi màng  
phổi, tình trạng tràn khí màng phổi kéo dài  
trong 7 ngày chiếm 2%, tràn khí dưới da 2%,  
sốt sau nội soi màng phổi là 16% (2). Theo Lee  
P (6,7), qua nghiên cứu 360 trường hợp, có 1,9%  
trường hợp có nhịp nhanh thất, tràn khí dưới  
da, thoát khí kéo dài, 9,8% trường hợp sốt,  
2,5% trường hợp mủ màng phổi, nhiễm trùng  
phổi vào khoảng 0,8%.  
Tràn dịch màng phổi chưa rõ nguyên nhân.  
Với những trường hợp này, theo một số nghiên  
cứu, các bệnh nhân đã được thực hiện các chẩn  
đoán trước mổ với nhiều kỹ thuật, phương pháp  
nhưng kết quả vẫn chưa xác định. Các nghiên  
cứu về độ chính xác của nội soi màng phổi khác  
nhau từ 60% tới 90%. Menzies và Charbonneau  
M(5) nghiên cứu 102 bệnh nhân trong 2 năm, cho  
thấy độ nhậy là 91%, độ đặc hiệu 100%, độ  
chính xác 96%. Theo Boutin, tỷ lệ âm tính giả là  
15%(1). Hanssen M(4) cho tỷ lệ âm tính giả là 15%  
trong thời gian theo dõi dài hạn 209 bệnh nhân  
KẾTLUẬN  
Kết quả bước đầu cho thấy nội soi màng  
283  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
cases of pulmonary tuberculosis—A controlled Study, indian  
phổi chẩn đoán và điều trị là phương pháp  
tương đối an toàn và hiệu quả, có nhiều ưu  
điểm so với phương pháp mổ hở, đánh giá  
thương tổn trực quan và chính xác, thao tác nhẹ  
nhàng, ít xâm lấn, tỉ lệ biến chứng thấp.  
Trên những bệnh nhân cao tuổi thường kèm  
nhiều bệnh nội khoa, phương pháp cho thấy  
nhiều hiệu quả như thời gian hậu phẫu ngắn, ít  
đau, có thể nhanh chóng tập thở, hạn chế nằm  
lâu, nhanh chóng phục hồi chức năng thở và cả  
tâm lý bệnh nhân.  
journal of tuberculosis, Vol. XV: No. 3 June 1968, p82-101.  
Hansen M, Faurschou P, Clementsen P (1998). "Medical  
thoracoscopy, results and complications in 146 patients: a  
retrospective study". Respir Med. 1998 Feb; 92(2): pp 228-232  
Kaufmann M, et al (2007). Diagnostic and therapeutic  
pleuroscopy. Experience with 127 patients. Chest. 2007  
Nov;78(5): 732-5.  
Lee P, Colt HG (2005). “ Flex-rigidpleuroscopy step- by- step”  
Lee P, Lan RS, Colt HG (2003). "Survey of pulmonologists'  
perspectives on thoracoscopy". J Bronchol 2003; 10: 99-106.  
Menzies R, Charbonneau M (1991). " Thoracoscopy for the  
diagnosis of pleural disease". Ann Intern Med1991;114: 271-276.  
Nguyễn Hoài Nam, Những Tiến Bộ Của Phẫu Thuật Nội Soi  
vn/ttyh/bshkhkt/ptnoisoilongnguc. html  
4.  
5.  
6.  
7.  
8.  
9.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
10. Rusch VW (1996). “A proposed new international TNM staging  
system for malignant pleural mesothelioma from the  
International Mesothelioma Interest Group” Lung Cancer 1996;  
15: 1-12.  
11. Weissberg D, et al (2007), "Pleuroscopy in patients with pleural  
effusion and pleural masses". The Annals of Thoracic Surgery,  
Vol 29, 205-208  
1.  
2.  
3.  
Boutin C, Schlesser M, Frenay C, Astoul Ph (1998). "Malignant  
pleural mesothelioma". Eur Respir J. 1998 October, vol. 12, no. 4:  
pp 972-981.  
Boutin C, Viallat Jr, Cargnino P, Farisse P (1981). "Thoracoscopy  
in malignant pleural effusions". Am Rev Respir Dis. 1981 Nov;  
124(5): pp 599-592.  
Dingley H. B, Morphizinamide in the treatment of untreated  
284  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
pdf 5 trang yennguyen 18420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét bước đầu về nội soi lồng ngực chẩn đoán và điều trị bệnh lý màng phổi ở người cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_buoc_dau_ve_noi_soi_long_nguc_chan_doan_va_dieu_tri.pdf