Các hội chứng lão khoa thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi có đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn

Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường”  
Số 38 - Năm 2020.  
CÁC HỘI CHỨNG LÃO KHOA THƯỜNG GẶP  
Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2  
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN  
Nguyễn Trung Anh1,2, Nguyễn Thị Thu Hương1,2, Lại Thanh Hà3, Vũ Thị Thanh Huyền1,2  
1 Bệnh viện Lão khoa Trung ương  
2 Trường Đại học Y Hà Nội  
3 Bệnh viện Thanh Nhàn  
DOI: 10.47122/vjde.2020.38.7  
Key words: Diabetes; Older person;  
ABSTRACT  
Geriatric Syndrome.  
Common geriatric syndromes among elderly  
people with type 2 diabetes treated at  
Thanh Nhan hospital  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Lão hóa và các hệ quả của nó  
có thể làm gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh, tử  
vong và ảnh hưởng đến kết quả điều trị đái  
tháo đường (ĐTĐ). Mục tiêu: Xác định tỷ lệ  
các hội chứng lão khoa thường gặp ở người  
cao tuổi có ĐTĐ typ 2 điều trị ngoại trú tại  
bệnh viện Thanh Nhàn. Đối tượng và phương  
pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 1215  
bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú  
tại bệnh viện Thanh Nhàn. Đối tượng nghiên  
cứu được phỏng vấn theo mẫu bệnh án thống  
nhất, các hội chứng lão khoa được sàng lọc  
bằng các bộ câu hỏi. Kết quả:Trong số 1215  
bệnh nhân nghiên cứu, tuổi trung bình là 70,1  
± 6,5; nữ giới chiếm 65,4%. Tỷ lệ suy giảm  
hoạt động chức năng hàng ngày (ADL) là  
15,1%; tỷ lệ suy giảm hoạt động chức năng  
hàng ngày có sử dụng phương tiện, dụng cụ  
(IADL) là 23,5%. Có 341 bệnh nhân (28,1%)  
có suy giảm nhận thức (Mini Cog). Tỷ lệ  
bệnh nhân suy dinh dưỡng và có nguy cơ suy  
dinh dưỡng (MNA-SF) là 11,1%. Tỷ lệ bệnh  
nhân có suy giảm thị lực (Snellen test) là  
63,5%. Tỷ lệ bệnh nhân có hội chứng dễ bị  
tổn thương (HCDBTT) là 21,3%. Kết luận:  
Tỷ lệ các hội chứng lão khoa thường gặp như  
giảm thị lực (63,5%), suy giảm nhận thức  
(28,1%), suy giảm hoạt động hàng ngày có sử  
dụng dụng cụ (23,5%), HCDBTT (21,3%) ở  
người cao tuổi có ĐTĐ typ 2 khá cao. Áp  
dụng các công cụ sàng lọc hội chứng lão khoa  
ở thực hành lâm sàng là rất cần thiết.  
Background: Aging and its consequences  
can significantly increase morbidity and  
mortality and affect the outcome of diabetes  
treatment. Objectives: To determine the rate  
of common geriatric syndromes among  
elderly people with type 2 diabetes treated at  
outpatient department, Thanh Nhan hospital.  
Subjects and Methods: A cross-sectional  
study on 1215 type 2 diabetes treated at  
outpatient department, Thanh Nhan hospital..  
Subjects were interviewed using a consistent  
medical record, geriatric syndromes were  
screened by questionnaires. Results: Among  
1215 participants, the mean age was 70.1 ±  
6.5; women account for 65.4%. The rate of  
activities daily living impairment (ADL) was  
15.1%; The rate of decline in instrumental  
activities daily living (IADL) was 23.5%.  
There were 341 patients (28.1%) with  
cognitive impairment (Mini-Cog). The  
percentage of malnourished and risk of  
malnourished patients (MNA-SF) were  
11.1%. The percentage of patients with visual  
impairment (Snellen test) was 63.5%. The  
proportion of patients with frailty syndrome  
(REFS) was 21.3%. Conclusion: The  
prevalence of common geriatric syndromes  
such as visual impairment (63,5%), cognitive  
impairment (28,1%), impaired instrumental  
daily activities (23,5%), frailty syndrome  
(21,3%) among elderly people with type 2  
diabetes were quite high. Application of  
geriatric syndrome screening tools in clinical  
practice is essential.  
Từ khóa: Đái tháo đường; Người cao  
tuổi; Hội chứng lão khoa.  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Trung Anh  
47  
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường”  
Số 38 - Năm 2020  
Ngày nhận bài: 06/01/2020  
Ngày phản biện khoa học: 15/01/2020  
Ngày duyệt bài: 27/02/2020  
Email: trunganhvlk@gmail.com  
Điện thoại: 0903480774  
nguy cơ tử vong ở nhiều bệnh nhân [10]. Phát  
hiện sớm các hội chứng lão khoa và có biện  
pháp phòng ngừa giúp giảm đáng kể các biến  
cố bất lợi ở người cao tuổi, đặc biệt ở bệnh  
nhân ĐTĐ có nhiều biến chứng phức tạp.  
Bệnh viện Thanh Nhàn hiện đang theo dõi  
điều trị cho hơn 4.000 bệnh nhân ĐTĐ trong  
đó bệnh nhân cao tuổi chiếm 60%. Hiện tại  
bệnh viện chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề  
này trên người cao tuổi có ĐTĐ. Do đó,  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục  
tiêu: Xác định các hội chứng lão khoa  
thường gặp ở người cao tuổi có ĐTĐ điều  
trị tại bệnh viện Thanh Nhàn.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 là một trong  
những bệnh mãn tính phổ biến nhất ở người  
cao tuổi và số người cao tuổi mắc bệnh ĐTĐ  
đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới.  
Theo dữ liệu giám sát gần đây nhất, tỷ lệ mắc  
bệnh ĐTĐ ở người Mỹ ở độ tuổi ≥ 65 thay  
đổi từ 22 đến 33% [4]. Theo thống kê tại Anh  
năm 2010, trong số 2,6 triệu người mắc bệnh  
ĐTĐ, ít nhất một nửa là trên 65 tuổi [5], tỷ lệ  
mắc bệnh ĐTĐ ở người cao tuổi là hơn 10%  
so với 4,1% ở người trưởng thành nói chung  
[6]. Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Bệnh  
viện Nội tiết Trung ương năm 2012 cho thấy  
tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người  
trưởng thành là 5,4%, còn ở người 60-69 tuổi  
chiếm 9,9% [1].  
Tuổi cao và quá trình lão hóa gây ra nhiều  
ảnh hưởng đến sinh bệnh học ĐTĐ. Mặc dù  
những thay đổi về lượng mỡ trong cơ thể,  
phân bố chất béo và thay đổi về thể chất có  
thể xảy ra khi lão hóa và có thể ảnh hưởng  
đến sự đề kháng insulin, ảnh hưởng của  
chúng không giải thích đầy đủ sự giảm dung  
nạp glucose trong nhóm người già khỏe mạnh  
(60-92 tuổi) [7]. Lão hóa cũng được đặc trưng  
bởi một tần số giảm và biên độ của các đỉnh  
insulin bình thường định kỳ với sự gián đoạn  
trong trật tự giải phóng insulin [8],[9].  
Bên cạnh đó, ĐTĐ có thể làm gia tăng các  
hội chứng lão khoa ở bệnh nhân cao tuổi. Các  
hội chứng lão khoa thường gặp ở người cao  
tuổi có ĐTĐ như: suy giảm nhận thức, suy  
dinh dưỡng, phụ thuộc trong hoạt động hàng  
ngày, hội chứng dễ bị tổn thương...Các tình  
trạng này có thể làm gia tăng đáng kể tỷ lệ  
mắc bệnh và tử vong và ảnh hưởng đến kết  
quả điều trị ĐTĐ và bệnh đồng mắc khác.  
Đồng thời có thể trì hoãn phục hồi và kéo dài  
thời gian nằm viện, dẫn đến tăng khả năng  
nhiễm trùng, cản trở sự độc lập và chất lượng  
cuộc sống của cá nhân, và thậm chí làm tăng  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện trên 1215 bệnh  
nhân ĐTĐ týp 2 khám và điều trị ngoại trú tại  
khoa khám bệnh, bệnh viện Thanh Nhàn từ  
tháng 11/2018 đến tháng 05/2019.  
Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân ≥ 60 tuổi  
đã được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 theo tiêu chuẩn  
của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA)  
2018 [11].  
Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân mắc bệnh  
cấp tính nặng không thể tham gia hoặc không  
thể hoàn thành bộ câu hỏi phỏng vấn.  
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt  
ngang, phương pháp chọn mẫu toàn bộ.  
2.3. Các biến số nghiên cứu  
Đặc điểm chung về đối tượng: tuổi,  
giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng  
chung sống, chiều cao, cân nặng, chỉ số khối  
cơ thể (BMI), thời gian mắc ĐTĐ, giá trị  
đường máu lúc đói, HbA1c trong vòng 3  
tháng gần đây.  
Đánh giá các hội chứng lão khoa:  
- Hoạt động hàng ngày (Activities Daily  
Living/ADL): phỏng vấn bệnh nhân hoặc  
người chăm sóc về các hoạt động sinh hoạt  
hàng ngày của bệnh nhân theo 6 câu hỏi về  
các hoạt động: ăn uống, đi vệ sinh, mặc  
quần áo, chăm sóc bản thân, đi lại, tắm  
rửa. Điểm tối đa đối với một người bình  
thường khỏe mạnh là 6 điểm, dưới 6 điểm  
là có suy giảm.  
48  
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường”  
Số 38 - Năm 2020.  
- Hoạt động hàng ngày có sử dụng phương  
tiện, dụng cụ (Instrumental Activities Daily  
Living/IADL): phỏng vấn bệnh nhân/người  
chăm sóc theo 8 câu hỏi về các hoạt động: sử  
dụng điện thoại, mua bán, nấu ăn, dọn dẹp  
nhà cửa, giặt quần áo, sử dụng phương tiện  
giao thông, sử dụng thuốc, khả năng quản lý  
chi tiêu. Điểm tối đa đối với một người bình  
thường khỏe mạnh là 8 điểm; dưới 8 điểm là  
có suy giảm.  
- Suy giảm nhận thức: sử dụng bảng đánh  
giá Mini-Cog (test nhớ 3 từ kết hợp test vẽ  
đồng hồ - Clock Drawing test) đã được chuẩn  
hóa sang tiếng Việt để đánh giá các suy giảm  
nhận thức ở người cao tuổi.Đánh giá kết quả:  
từ 0-2 điểm: có suy giảm nhận thức; từ 3-5  
điểm: không có suy giảm nhận thức.  
14 điểm; 12-14 điểm: tình trạng dinh dưỡng  
bình thường; 8-11 điểm: nguy cơ suy dinh  
dưỡng; ≤7 điểm là suy dinh dưỡng.  
- Thị lực: đánh giá bằng bảng chữ Snellen.  
Bình thường: 20/20, nếu có suy giảm thị lực  
là < 20/20.  
- Hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT):  
đánh giá bằng thang điểm Edmonton  
(Reported Edmonton Frail Scale (REFS)).  
Tổng điểm là 18 và chẩn đoán HCDBTT khi  
lớn hơn hoặc bằng 8 điểm.  
2.4. Phương pháp thu thập số liệu  
Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn, xét  
nghiệm, làm các bài kiểm tra đánh giá nguy  
cơ, và thực hiện các test vận động theo mẫu  
bệnh án nghiên cứu thống nhất nhằm đánh giá  
các chỉ tiêu nghiên cứu.  
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: sử dụng  
bảng đánh giá tầm soát dinh dưỡng tối thiểu  
dành cho người cao tuổi (Mini Nutritional  
Assessment - MNA-SF). Điểm tối đa này là  
2.5. Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý và  
phân tích bằng phần mềm thống kê y học  
SPSS 16.0. Sử dụng các thuật toán: tính tỷ lệ  
phần trăm, tính giá trị trung bình.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Đặc điểm chung  
Qua nghiên cứu trên 1215 bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi khám và điều trị tại khoa khám bệnh,  
bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 11/2018 đến tháng 05/2019, chúng tôi đã thu được kết quả sau:  
Bảng 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n = 1215)  
Đặc điểm nhân trắc - xã hội học  
Nam  
Sô  
́
lượng (n)  
420  
795  
608  
486  
121  
1174  
9
Ti lê (%)  
̣
̉
34,6  
65,4  
50,0  
40,0  
10,0  
96,6  
0,8  
Giới tính  
Nữ  
60-69  
70-79  
≥80  
Nhóm tuổi  
(năm)  
Cùng gia đình (vợ/chồng/con)  
Sống với người chăm sóc  
Sống một mình  
Tình trạng  
chung sống  
32  
2,6  
Dưới phổ thông trung học  
Phổ thông trung học  
Trung cấp/cao đẳng/đại học  
Thiếu cân (<18,5)  
Bình thường (18,5-22,9)  
Thừa cân và béo phì (≥ 23)  
660  
419  
136  
33  
572  
610  
54,3  
34,5  
11,2  
2,7  
47,1  
50,2  
Trình độ  
học vấn  
BMI (kg/m2)  
Tuổi trung bình (Trung bình ± độ lệch chuẩn)  
BMI trung bình  
70,10±6,54  
23,21±2,68  
49  
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường”  
Số 38 - Năm 2020  
Tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 65,4%. Tỷ lệ nữ/nam là 1,9. Tuổi trung bình của các bệnh nhân là  
70,1 ± 6,5, thấp nhất là 60 tuổi và cao nhất là 93 tuổi. Nhóm tuổi từ 60-69 chiếm tỷ lệ 50%,  
nhóm ≥ 80 tuổi chiếm tỷ lệ 10%. Tỷ lệ bệnh nhân đang sống cùng với gia đình là 96,6; tỷ lệ  
bệnh. Tỷ lệ bệnh nhân có thừa cân, béo phì là 50,2 % chiếm tỷ lệ cao nhất, bệnh nhân thiếu cân  
chiếm tỷ lệ 2,7%.  
Bảng 2. Đặc điểm liên quan bệnh ĐTĐ (n=1215)  
Đặc điểm của bệnh nhân  
Số lượng (n)  
Tỷ lệ (%)  
Thời gian mắc bệnh ĐTĐ typ 2 (giá trị trung bình: 9,57±7,20 năm)  
≤ 5 năm  
6 -10 năm  
> 10 năm  
391  
398  
426  
32,2  
32,7  
35,1  
Glucose máu lúc đói (giá trị trung bình: 8,85±4.28 mmol/l)  
> 7,2 mmol/l  
≤ 7,2 mmol/l  
718  
497  
59,1  
40,9  
HbA1c (giá trị trung bình: 7,83±1,76% )  
≥ 7,5 %  
< 7,5 %  
592  
623  
48,7  
51,3  
Tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát HbA1c < 7,5 % là 51,3%. Thời gian mắc bệnh ĐTĐ trung bình  
của nhóm nghiên cứu là 9,57± 7,2 năm, trong đó đa số bệnh nhân mắc ĐTĐ trên 5 năm (67,9%).  
3.2. Các hội chứng lão khoa thường gặp  
100%  
90%  
36,5%  
80%  
70%  
60%  
50%  
40%  
30%  
20%  
10%  
0%  
71,9%  
28,1%  
76,5%  
23,5%  
78,7%  
21,3%  
84,9%  
15,1%  
88,9%  
11,1%  
63,5%  
Suy giảm Suy giảm Suy giảm Nguy cơ Giảm thị Hội chứng  
chức năng chức năng nhận thức suy dinh lực dễ bị tổn  
(Snellen thương  
hoạt động hoạt động (Mini-  
hàng ngày hàng ngày Cog)  
(ADL) có sử dụng  
phương  
dưỡng  
(MNA)  
test)  
(REFS)  
tiện dụng  
cụ (IADL)  
không  
có  
Biểu đồ 1. Các hội chứng lão khoa thường gặp ở đối tượng nghiên cứu  
50  
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường”  
Số 38 - Năm 2020.  
Điểm ADL và IADL trung bình lần lượt là  
5,78±0,6; 7,51±1,07; số bệnh nhân có suy  
giảm bất kỳ từ 1 yếu tố theo ADL là 183 bệnh  
nhân chiếm tỷ lệ 15,1 %, theo IADL là 285  
bệnh nhân chiếm tỷ lệ 23,5%. Đánh giá nhận  
thức theo Mini-Cog có 341 bệnh nhân  
(28,1%) có suy giảm nhận thức. Điểm trung  
bình đánh giá dinh dưỡng theo MNA là  
12,6±1, số bệnh nhân SDD và nguy cơ SDD  
là 135 bệnh nhân (11,1%); có 1.080 bệnh  
nhân có tình trạng dinh dưỡng bình thường  
(88,9%). Đánh giá suy giảm thị lực theo  
Snellen test có 772 bệnh nhân (63,5%). Điểm  
trung bình đánh giá HCDBTT Edmonton là  
5,18 ± 2,2; có 259 bệnh nhân (21,3%) có  
HCDBTT.  
chất do lão hóa và làm tăng nguy cơ mắc bệnh  
[12]. Bệnh ĐTĐ có liên quan đến việc tăng  
nguy cơ mắc nhiều bệnh nội khoa ở người cao  
tuổi. Ngoài các bệnh tim mạch và vi mạch,  
một nhóm các tình trạng gọi là hội chứng lão  
khoa cũng xảy ra ở tần suất cao hơn ở người  
cao tuổi mắc bệnh ĐTĐ và có thể ảnh hưởng  
đến khả năng tự chăm sóc và kết quả sức khỏe  
bao gồm cả chất lượng cuộc sống [13]. Suy  
giảm chức năng thể chất là một trong những  
hội chứng lão khoa quan trọng nhất. Kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ suy  
giảm ít nhất một trong số những chức năng  
hoạt động hàng ngày ADL và IADL lần lượt là  
15,1% và 23,5%. Kết quả của chúng tôi thấp  
hơn nghiên cứu của Lê Anh Tú cho thấy tỷ lệ  
suy giảm ít nhất một trong số những chức năng  
hoạt động hàng ngày ADL và IADL lần lượt là  
47,1% và 65% [2].  
4. BÀN LUẬN  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung  
bình của đối tượng nghiên cứu là: 70,1 ± 6,54  
(tuổi), thấp nhất là 60 tuổi, tuổi cao nhất là 93  
tuổi. Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm  
từ 60-69 tuổi (50%). Kết quả này tương tự  
như trong nghiên cứu của Lê Anh Tú (2016)  
trên 412 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao tuổi tại  
bệnh viện Lão khoa Trung ương ghi nhận  
bệnh nhân có tuổi trung bình là 71,9 ± 7,6  
tuổi, nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ cao nhất  
42,7%, nhóm tuổi từ 80 tuổi trở lên chiếm tỷ  
lệ thấp nhất 19,9 [2].  
Trong nghiên cứu của chúng tôi nữ giới  
chiếm 65,5%; nam giới chiếm 34,5%, tỷ lệ  
nữ/nam là 1,9. Tỷ lệ về giới trong nghiên cứu  
của chúng tôi tương tự như trong nghiên cứu  
của Phạm Thị Thu Hằng (2013) trên 262 bệnh  
nhân ĐTĐ typ 2 cao tuổi tại bệnh viện Lão  
khoa Trung ương có tỷ lệ nữ là 61,5%, nam là  
38,5% [3]. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ  
lệ BN thừa cân, béo phì BMI ≥ 23 chiếm  
50,2%, tỷ lệ bệnh nhân thiếu cân BMI <18,5  
chiếm 2,7% (32 BN), BMI trung bình  
23,21±2,6. Phân loại BMI trong nghiên cứu  
của chúng tôi tương tự như trong nghiên cứu  
của Phạm Thị Thu Hằng (2013) có tỷ lệ bệnh  
nhân thừa cân, béo phì chiếm 54,6 %, giá trị  
BMI trung bình 23,4± 3,3 [3]. Béo phì làm  
trầm trọng thêm sự suy giảm chức năng thể  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 341  
bệnh nhân có suy giảm nhận thức chiếm tỷ lệ  
28,1%. Các nghiên cứu cắt ngang đã chỉ ra  
mối liên quan giữa tăng đường huyết và rối  
loạn chức năng nhận thức [2],[14]. Tỷ lệ suy  
giảm nhận thức cao ở người cao tuổi có ĐTĐ  
cho thấy điều quan trọng là phải kiểm tra định  
kỳ chức năng nhận thức. Bên cạnh đó, tuổi  
cao và bệnh lý ĐTĐ làm sự suy giảm thị lực  
trở nên nhanh hơn. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi số bệnh nhân giảm thị lực chiếm  
63,5% thấp hơn kết quả nghiên cứu của Lê  
Anh Tú là 77,9%. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi có 11,1% bệnh nhân có nguy cơ suy  
dinh dưỡng và suy dinh dưỡng thấp hơn một  
số nghiên cứu khác trên thế giới: Renato  
Turco (2010) có 32,2% có nguy cơ suy dinh  
dưỡng và 14,0% bị suy dinh dưỡng [15] và  
Kaiser (2010) là 22,6% [16].  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 259  
bệnh nhân có HCDBTT chiếm tỷ lệ 21,3%.  
Nghiên cứu Esther tại Đức năm 2008 đến 2010  
trên 2.589 người từ 57-84 tuổi cho thấy tỷ lệ  
mắc HCDBTT là 8%, tỷ lệ mắc HCDBTT cao  
gấp 3 lần ở bệnh nhân cao tuổi mắc ĐTĐ so  
với những người không mắc ĐTĐ [17].  
HCDBTT là hậu quả của sự suy giảm sinh lý  
tích lũy trong nhiều năm. Sự xuất hiện của yếu  
đuối phụ thuộc vào sự suy giảm chức năng cơ  
51  
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường”  
Số 38 - Năm 2020  
bắp và thần kinh, suy giảm dự trữ tim phổi và  
mất chức năng điều hành. ĐTĐ thường gây  
suy yếu chức năng ở mỗi cơ quan trên, do đó  
dẫn đến mất cân bằng nội môi toàn thân và suy  
giảm chức năng thể chất.  
8. Mohamed R.Refaie, Nagy A.Sayed-  
Ahmed, Ataa M.Bakr. Aging is an  
Inevitable Risk Factor for Insulin  
Resistance. 2006. 1(1).30-41  
9. Meneilly GS, V.J., Elahi D:, Disruption  
of the pulsatile and entropic modes of  
insulin release during an unvarying  
glucose stimulus in elderly individuals. J  
Clin Endocrinol Metab 84:1938–1943,  
,1999.  
5. KẾT LUẬN  
Tỷ lệ các hội chứng lão khoa thường gặp  
như suy giảm hoạt động hàng ngày, suy  
dinh dưỡng, suy giảm nhận thức, HCDBTT,  
giảm thị lực ở người cao tuổi có ĐTĐ typ 2  
khá cao. Áp dụng các công cụ sàng lọc hội  
chứng lão khoa ở thực hành lâm sàng là rất  
cần thiết.  
10. Flodin L, S.S., Cederholm T, Body mass  
index as a predictor of 1 year mortality in  
geriatric patients. Clin Nutr., 2000.  
19(2): p. 121-125.  
11. American  
Diabetes  
Association.  
Standards of Medical Care in Diabetes—  
2018. Diabetes Care. 2018 Jan;  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Báo cáo  
kết quả đề tài nghiên cứu dịch tễ học đái  
tháo đường toàn quốc năm 2012.  
2. Lê Anh Tú. Đánh giá lão khoa toàn diện  
ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao  
tuổi tại bệnh viện Lão khoa trung ương.  
Luậnvăn thạc sỹ y học Trường Đại học Y  
Hà Nội, 2016: p. tr 36-53  
3. Phạm Thị Thu Hằng, Đánh giá tình hình  
sử dụng insulin ở bệnh nhân đái tháo  
đường typ 2 cao tuổi diều trị ngoại trú-  
Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa.  
Trường Đại học Y Hà Nội, 2013.  
4. National Center for Chronic Disease  
Prevention and Health Promotion.  
National Diabetes Fact Sheet: General  
Information and National Estimates on  
Diabetes in the United States. Atlanta,  
Georgia: U.S. Department of Health and  
Human Services, Centers for Disease  
Control and Prevention. 2011  
41(Supplement  
1):  
S1-S2.  
12. Villareal DT, B.M., Sinacore DR et al.,  
Effect of weight loss and exercise on  
frailty in obese older adults. Arch Intern  
Med ; 166: 860– 866., 2006.  
13. Laiteerapong N, K.A., Liu JY et al.,  
Correlates of quality of life in older  
adults with diabetes: The Diabetes &  
Aging Study. Diabetes Care 2011,  
2011;: p. ; 34: 1749– 1753.  
14. Cukierman T, G.H., Williamson JD.,  
Cognitive decline and dementia in  
diabetes—systematic  
overview  
of  
prospective observational  
studies.  
Diabetologia 48: 2460– 2469., 2005;.  
15. Turco R, T.T., Bellelli G, Trabucchi M.  
and  
J.A.G.S.A.,  
Frequency  
of  
malnutrition in older adults: a comment.  
J Am Geriatr Soc. 2011 Apr;59(4):762-3.  
doi: 10.1111/j.1532-5415.2011.03359.  
5. Sinclair AJ GR, et al., Prevalence of  
diabetes in care home residents. Diabetes  
care;24:2., 2001.  
16. Kaiser, M.J., Frequency of Malnutrition  
in Older Adults-  
A
Multinational  
6. Diabetes, U., Diabetes in the UK 2010:  
key statistics on diabetes. London:  
Diabetes UK, 2010.  
7. Chee W. Chia, Josephine M. Egan, and  
Luigi Ferrucci. Age-Related Changes in  
Glucose Metabolism, Hyperglycemia,  
and Cardiovascular Risk. Circulation  
research. 2018. 123(7).886-904  
Perspective Using the Mini Nutritional  
Assessment. JAGS 58:1734-1738, 2010.  
17. Saum KU, D.A., Muller H, Holleczek  
B, Hauer K, et al. , Frailty prevalence  
and 10-year survival in community-  
dwelling older adults: results from the  
ESTHER cohort study. Eur J Epidemiol  
29: 171–179., 2014.  
52  
pdf 6 trang yennguyen 24640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các hội chứng lão khoa thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi có đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_hoi_chung_lao_khoa_thuong_gap_o_benh_nhan_cao_tuoi_co_da.pdf