Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2018
Nguyễn Hữu Thắng1, , Nguyễn Thị Như Ngọc2, Nguyễn Hà Lâm2,
Phạm Hải Thanh2, Nguyễn Ngọc Khánh2, Nguyễn Vũ Thiện2,
Mạc Đức Long2, Đỗ Thị Thanh Toàn1, Lê Thị Thanh Xuân1
1Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội,
2Sinh viên Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 504 người cao tuổi sử dụng bộ câu hỏi
WHOQOL-OLD nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà
Nội năm 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người cao tuổi là nữ giới, sống đơn thân, không con cái, không có thu
nhập từ công việc ổn định, trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, tình trạng sức khỏe không tốt và sống
ở khu vực nông thôn có điểm chất lượng cuộc sống thấp hơn, điều này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Khuyến nghị
cácchươngtrình, chínhsáchcanthiệpnângcaochấtlượngcuộcsống, cầnưutiênchonhữngngườicaotuổilànữ,
sốngđơnthân,khôngconcái,điềukiệnkinhtếkhókhăn,tìnhtrạngsứckhỏekhôngtốtvàsốngởkhuvựcnôngthôn.
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, người cao tuổi, mối liên quan, WHOQOL-OLD, Hà Nội.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những nước có tốc
độ già hóa nhanh nhất thế giới.1 Quá trình già
hoá quá nhanh khiến chúng ta không kịp ứng
phó với những thách thức mà nó gây ra. Thủ đô
Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị
của Việt Nam với sự phát triển kinh tế, dân cư
đông đúc, trong đó nhiều hộ gia đình Việt Nam
có cấu trúc từ 2 đến 3 thế hệ cùng sinh sống.
Gánh nặng từ vấn đề dân số mà đặc biệt là sự
già hóa dân số nhanh chóng đang gây áp lực
nặng nề lên sự phát triển chung của Thủ đô.
Một trong những vấn đề thiết yếu đang được
chú trọng hiện nay là đảm bảo chất lượng cuộc
sống cho người cao tuổi thành phố. chất lượng
cuộc sống là một khái niệm đa chiều, mang
tính chủ quan cao và theo Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO), chất lượng cuộc sống là “sự hiểu
biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong
bối cảnh văn hóa, hệ thống các giá trị và trong
mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn
mực và mối quan tâm của họ”.2 Một số nghiên
cứu đã chỉ ra rằng những khía cạnh quan trọng
ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống là sức
khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, điều kiện
kinh tế, môi trường và tôn giáo.3,4 Một nghiên
cứu ở Bangladesh đã chỉ ra rằng sự ốm yếu đã
gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống
của nghười tàn tật, ảnh hưởng theo nhiều khía
cạnh khác nhau về tâm lý, xã hội và kinh tế.5
người cao tuổi có trình độ học vấn và thu nhập
cao hơn có liên quan đến điểm chất lượng cuộc
sống cao hơn.6 Một số yếu tố lối sống chẳng
hạn như uống rượu, thói quen tập thể dục và lái
xe ô tô có liên quan đến chất lượng cuộc sống
tốt hơn, trong khi béo phì bụng và đi xe gắn
máy lại có liên quan đến chất lượng cuộc sống
thấp hơn.7 Cụ thể đối với người cao tuổi tại Việt
Nam, chất lượng cuộc sống cao hơn ở những
người có trình độ học vấn cao hơn, có điều kiện
Tác giả liên hệ: Nguyễn Hữu Thắng,
Viện ĐT YHDP &YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 07/02/2020
Ngày được chấp nhận: 13/03/2020
310
TCNCYH 129 (5) - 2020
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
thôn thuộc mỗi phường / xã đã chọn.
kinh tế xã hội tốt hơn, là chủ hộ gia đình và
không có ốm đau bệnh tật trong 6 tháng qua 8 -
10. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có nhiều bằng
chứng về chất lượng cuộc sống và các yếu tố
ảnh hưởng lên nó ở người cao tuổi thành phố
Hà Nội. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
công tác thiết kế và thực hiện các chính sách và
chương trình can thiệp phù hợp nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm xác
định một số yếu tố liên quan đến chất lượng
cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội
năm 2018.
Bước 4: Chọn 21 người cao tuổi trong mỗi
tổ dân phố / thôn đã chọn theo phương pháp
“cổng liền cổng”
Thông tin được thu thập bằng phương pháp
phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi với bộ câu
hỏi gồm 2 phần: Phần 1: Thông tin chung về
đặc điểm cá nhân gồm: tuổi, giới, tôn giáo, tình
trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập, nợ
nần, bệnh đang mắc, sức khỏe tự đánh giá,
người sống cùng, người chăm sóc chính, chủ
hộ gia đình, số con, thời gian lưu trú, khu vực
sống. Phần 2: Thang đo chất lượng cuộc sống
WHOQOL - OLD gồm 24 câu hỏi chia thành 6
khía cạnh, mỗi khía cạnh gồm 4 câu hỏi: Giác
quan, Tự chủ, Hoạt động xã hội, Hoạt động quá
khứ, hiện tại và tương lai, Cái chết và Tình thân.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) hiện đang
sinh sống trong địa bàn thành phố Hà Nội năm
2018. Đối tượng được chọn vào nghiên cứu
là những người sống tại hộ gia đình khảo sát
ít nhất 12 tháng tính đến thời điểm tiến hành
nghiên cứu và những người tự nguyện tham
gia nghiên cứu. Trường hợp hộ gia đình có
nhiều hơn 01 người cao tuổi đủ điều kiện thì
chọn người cao tuổi gặp đầu tiên hoặc ở bên
tay trái ĐTV. Trường hợp không có người cao
tuổi hoặc không người cao tuổi nào trong hộ
gia đình đó hoàn thành phỏng vấn được ta tiếp
tục đi đến hộ gia đình tiếp theo sát bên tay trái.
3. Phân tích số liệu
Thông tin được thu thập được nhập, mã hóa
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng
phần mềm STATA 15. Điểm chất lượng cuộc
sống được tính bằng tổng điểm của các câu và
quy đổi sang thang điểm 0-100 theo hướng dẫn
của Tổ chức Y tế Thế giới11.
Điểm chất lượng cuộc sống khía cạnh (vd:
Giác quan)
Q1+Q2+Q10+Q20
- 1
4
100 x
=
4
Điểm chất lượng cuộc sống chung
Q1+Q2+Q3+Q4+…+Q23+Q24
- 1
24
2. Phương pháp
100 x
=
4
Phân loại chất lượng cuộc sống chung dựa
trên thang điểm 0-100 theo các mức sau:
0-25 điểm: chất lượng cuộc sống kém.
26-50 điểm: chất lượng cuộc sống trung
bình
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện
trên mẫu 504 người cao tuổi trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu nhiều
giai đoạn.
51-75 điểm: chất lượng cuộc sống khá
76-100 điểm: chất lượng cuộc sống tốt.
Sử dụng kiểm định test phi tham số Mann-
Whitney và Krusk Wallis để so sánh sự khác
biệt về điểm chất lượng cuộc sống giữa các
nhóm yếu tố.
Bước 1: Chọn ngẫu nhiên hệ thống 3 quận
nội thành và 3 huyện ngoại thành thuộc địa bàn
thành phố Hà Nội.
Bước 2: Chọn ngẫu nhiên hệ thống 3
phường / xã thuộc mỗi quận / huyện đã chọn.
Bước 3: Chọn mẫu thuận tiện 2 tổ dân phố /
TCNCYH 129 (5) - 2020
311
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
3. Đạo đức trong nghiên cứu.
tượng tham gia được giải thích về mục đích, nội
dung của nghiên cứu, tự nguyện đồng ý tham
gia và có quyền rút lui ở bất cứ giai đoạn nào.
Các thông tin thu được là bí mật và chỉ được sử
dụng phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu là một phần trong nghiên cứu
của Đại học Mahidol, Thái Lan triển khai tại 5
quốc gia Đông Nam Á đã được hội đồng đạo
đức Trường đại học Mahidol phê duyệt ngày
10/03/2018 với mã số 2018/218.2809. Đối
III. KẾT QUẢ
Nghiên cứu được thực hiện trên 504 người từ 60 tuổi trở lên có độ tuổi trung bình là 67,97 ±
6,93; nhỏ nhất là 60 tuổi và lớn nhất là 92 tuổi. người cao tuổi là nữ giới chiếm đa số với 56,94%
và 51,98% người cao tuổi có trình độ THCS/ Trường dạy nghề. 53,17% đối tượng sống tại nông
thôn và có đến 3,17% người cao tuổi độc thân. Phần lớn người cao tuổi hiện đang sống cùng với
vợ/ chồng (72,22%) và con cái (59,33%). người cao tuổi có thu nhập từ công việc chiếm 76,39%
và 4,37% người cao tuổi đang nợ nần. Tỷ lệ người cao tuổi tự làm chủ hộ gia đình là 42,46%. Liên
quan đến tình trạng sức khỏe, có 21,4 % người cao tuổi tự đánh giá sức khỏe ở mức không tốt và
1,2% ở mức rất không tốt. Trong sinh hoạt hàng ngày, 29,96% người cao tuổi cần đến sự chăm sóc
chính của người khác (Bảng 1).
Bảng 1. Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về đặc điểm cá nhân
của người cao tuổi (n = 504)
Đặc điểm
n
TB ± ĐLC (0-100)
p
Tuổi
60-69 tuổi
314
155
26
76,14 ± 13,13
74,67 ± 12,33
63,46 ± 13,56
0,000
70-79 tuổi
≥ 80 tuổi
*
Giới
Nam
Nữ
217
287
76,39 ± 13,02
73,83 ± 13,14
0,034
**
Tôn giáo
Không tôn giáo
379
125
74,53 ± 13,51
76,18 ± 13,51
0,309
**
Có tôn giáo
Tình trạng hôn nhân
Độc thân
16
71,74 ± 19,21
76,37 ± 12,51
70,58 ± 13,27
0,000
Có vợ/ chồng
376
112
*
Góa/ Ly dị/ Ly thân
Người sống cùng
Sống một mình
Sống cùng người khác
43
65,23 ± 18,32
75,81 ± 12,22
0,000
**
461
312
TCNCYH 129 (5) - 2020
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Đặc điểm
Trình độ học vấn
n
TB ± ĐLC (0-100)
p
Dưới THCS
172
332
70,94 ± 13,31
77,01 ± 12,58
0,000
**
Từ THCS trở lên
Con cái
Không có con
Có con
21
68,30 ± 21,80
75,23 ± 12,59
0,272
**
483
Khu vực sống
Nông thôn
268
236
71,94 ± 11,15
78,34 ± 14,37
0,000
**
Đô thị / Cận đô thị
* Kruskal Wallis test / ** Mann-Whitney test
Điểm chất lượng cuộc sống của nhóm 60 - 69 tuổi (76,14 ± 13,13) là cao nhất và nhóm từ 80 tuổi
trở lên (63,46 ± 13,56) là thấp nhất. người cao tuổi là nam giới có điểm chất lượng cuộc sống cao
hơn nữ giới. Về tình trạng hôn nhân, nhóm người cao tuổi có vợ/ chồng có điểm chất lượng cuộc
sống cao nhất và thấp nhất là nhóm đã góa, ly dị hoặc ly thân (70,58 ± 13,27). người cao tuổi có sống
cùng với người khác có điểm chất lượng cuộc sống (75,81 ± 12,22) cao hơn những người sống một
mình (65,23 ± 18,32). Điểm chất lượng cuộc sống của nhóm có trình độ học vấn dưới THCS (70,94
± 13,31) thấp hơn nhóm có trình độ từ THCS trở lên (77,01 ± 12,58) và người cao tuổi sống tại khu
vực nông thôn (71,94 ± 11,15) thấp hơn khu vực đô thị/ cận đô thị (78,34 ± 14,37). Chưa tìm thấy sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trình độ học vấn, tôn giáo và con cái (Bảng 2).
Bảng 2. Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về đặc điểm kinh tế của người cao tuổi (n =
504)
Đặc điểm
Thu nhập từ công việc
Không
n
TB ± ĐLC
P
119
385
69,91 ± 14,24
76,50 ± 12,39
0,000
**
Có
Nợ nần
Không
482
22
75,28 ± 13,03
67,42 ± 13,58
0,006
**
Có
Chủ hộ gia đình
Bản thân
214
290
76,28 ± 13,17
73,95 ± 13,05
0,035
**
Người khác
** Mann-Whitney test
Nhóm người cao tuổi có thu nhập từ công việc có điểm chất lượng cuộc sống (76,50 ± 12,39)
cao hơn nhóm không có (69,91 ± 14,24); nhóm người cao tuổi có nợ nần (67,42 ± 13,58) thấp hơn
TCNCYH 129 (5) - 2020
313
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
nhóm không có nợ nần (75,28 ± 13,03); nhóm tự làm chủ hộ gia đình (76,28 ± 13,17) cao hơn nhóm
không phải chủ hộ gia đình (73,95 ± 13,05). Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (Bảng 3).
Bảng 3. Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về tình trạng sức khỏe
của người cao tuổi (n = 504)
Đặc điểm
Tình trạng sức khỏe tự đánh giá
Không tốt
n
TB ± ĐLC
P
114
259
131
68,38 ± 13,75
75,47 ± 11,52
79,60 ± 13,42
0,000
Bình thường
*
Tốt
Bệnh mạn tính kèm theo
Không mắc bệnh
Có mắc bệnh
119
385
77,86 ± 12,08
74,04 ± 13,34
0,011
**
Người chăm sóc chính
Tự chăm sóc
353
76,42 ± 12,81
71,49 ± 13,30
0,000
**
Người khác
151
* Kruskal Wallis test / ** Mann-Whitney test
Về đặc điểm tình trạng sức khỏe, những
người cao tuổi tự đánh giá sức khỏe ở mức tốt
có điểm chất lượng cuộc sống cao nhất (79,60
± 13,42) và thấp nhất là người cao tuổi tự đánh
giá sức khỏe mức độ không tốt (68,38 ± 13,75).
Những người cao tuổi không mắc bệnh gì có
điểm chất lượng cuộc sống (77,86 ± 12,08)
cao hơn người có mắc bệnh (74,04 ± 13,34) và
nhóm tự chăm sóc được cho bản thân có điểm
(76,42 ± 12,81) cao hơn nhóm cần người khác
chăm sóc chính (71,49 ± 13,30).
phải đối mặt nhiều hơn với các vấn đề về lão
hóa khiến các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả
năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm
dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần
cũng giảm sút.
Trong nghiên cứu này, người cao tuổi là nam
giới có điểm chất lượng cuộc sống cao hơn nữ
giới, tương đồng với nhiều nghiên cứu cả trong
và ngoài nước sử dụng nhiều công cụ đo lường
khác nhau.4,9 Sự khác biệt này có khả năng
xuất phát từ thực tế là nam giới thường có trình
độ học vấn cao hơn, thu nhập cao hơn, chủ
động hơn trong việc ra quyết định so với phụ
nữ và sự tương tác của họ với môi trường bên
ngoài nhiều hơn phụ nữ. Bên cạnh đó kết quả
cũng cho thấy người cao tuổi sống độc thân có
chất lượng cuộc sống kém hơn người cao tuổi
sống cùng gia đình hoặc người khác và người
cao tuổi có vợ hoặc chồng có điểm chất lượng
cuộc sống cao hơn người cao tuổi độc thân
hoặc đã góa, ly dị hay ly thân. Kết quả tương
đồng với hầu hết các nghiên cứu khác.8,10 Từ
kết quả nghiên cứu này cho thấy các can thiệp
nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi, giới, tình
trạng hôn nhân, người sống cùng, trình độ học
vấn, khu vực sống, tình trạng kinh tế cá nhân
và tình trạng sức khỏe là những yếu tố có liên
quan đến chất lượng cuộc sống của người
cao tuổi. Cụ thể có mối liên quan giữa tuổi cao
và chất lượng cuộc sống thấp hơn đặc biệt là
nhóm từ 80 tuổi trở lên, tương tự nghiên cứu
của Vũ Toàn Thịnh năm 2013.9 Điều này là khá
dễ hiểu khi tuổi càng cao người cao tuổi càng
314
TCNCYH 129 (5) - 2020
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
tuổi cần ưu tiên nữ giới, nhất là phụ nữ cô đơn,
không nơi nương tựa.
số đặc điểm về tình trạng sức khỏe cho thấy
những mối liên quan chặt chẽ. Trong đó tình
trạng sức khỏe hiện tại do người cao tuổi tự
đánh giá càng thấp thì chất lượng cuộc sống
của họ càng thấp, đồng thời những người
đang mắc bệnh có chất lượng cuộc sống thấp
hơn những người không mắc bệnh. Kết quả
này tương tự với nghiên cứu của Ana Luisa
và Juana trên 285 người từ 60 tuổi trở lên tại
Mexico cũng sử dụng bộ câu hỏi WHOQOL-
OLD14. Phát triển các hệ thống chăm sóc sức
khỏe dài hạn là một vấn đề cần được chú trọng
quan tâm trong công cuộc đảm bảo chất lượng
cuộc sống cho người cao tuổi.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy người cao
tuổi sống tại khu vực nông thôn có chất lượng
cuộc sống thấp hơn người cao tuổi sống tại
khu vực đô thị và cận đô thị. Nghiên cứu của
Marianne Baernholdt tại Hoa Kỳ cũng cho kết
quả tương tự.12 Mối liên quan này có thể giải
thích do điều kiện kinh tế, xã hội và đặc biệt là
chăm sóc y tế giữa nội thành và một số huyện
ngoại thành Hà Nội có sự chênh lệch. Sau đợt
mở rộng địa giới hành chính năm 2008, mức
chênh lệch này càng tăng. Tại không ít khu vực
thuộc các huyện ngoại thành, cư dân vẫn phải
sống trong điều kiện vệ sinh yếu kém, thiếu
nước sạch để sinh hoạt, phải sử dụng nước ao,
nước giếng. Các can thiệp về chất lượng cuộc
sống cũng nên ưu tiên tiến hành ở các khu vực
nông nông nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống chung cho người cao tuổi toàn thành phố.
Người cao tuổi trong nghiên cứu có thu
nhập từ công việc hoặc lương hưu, trợ cấp có
chất lượng cuộc sống tốt hơn người sống dựa
vào người thân hoặc gia đình và người cao tuổi
có nợ nần có chất lượng cuộc sống thấp hơn
không nợ. Kết quả tương tự cũng đã được ghi
nhận trong nghiên cứu của Gambin tại Brazil
năm 2015.13 Điều này có thể giải thích là do
những người có thu nhập ổn định hàng tháng
giúp cuộc sống của họ có thể sẽ ổn định hơn
và không cần phụ thuộc vào người khác; họ có
điều kiện chăm sóc sức khỏe thường xuyên và
tham gia vào các hoạt động xã hội nhiều hơn
do đó chất lượng cuộc sống của họ tốt hơn.
Thêm vào đó, những người là chủ hộ gia đình
cũng có chất lượng cuộc sống cao hơn những
người không là chủ hộ gia đình có thể do điều
này mang đến cho họ quyền quyết định và vị
thế cao hơn trong gia đình.
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng
cuộc sống của người cao tuổi trên địa bàn
thành phố Hà Nội đạt mức khá tuy nhiên còn
một bộ phận nhỏ người cao tuổi có chất lượng
cuộc sống ở mức thấp và trung bình. Do đó,
việc thực hiện các chương trình, can thiệp cộng
đồng và chuyên khoa hướng đến nhóm đối
tượng này là cần thiết. Các yếu tố như tuổi cao,
người cao tuổi là nữ giới, trình độ học vấn thấp,
tài chính không đảm bảo, sự cô đơn, điều kiện
nơi sống khu vực ngoại thành và các vấn đề
sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng
cuộc sống người cao tuổi.
Khuyến nghị
Các chương trình, chính sách can thiệp cần
ưu tiên cho những người cao tuổi là nữ giới,
sống đơn thân, không con cái và không có thu
nhập từ công việc ổn định, trình độ học vấn
thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, tình trạng sức
khỏe không tốt và sống ở khu vực nông thôn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế. Báo cáo tổng quan chung ngành
Y tế năm 2016. Hướng tới mục tiêu già hóa
khỏe mạnh ở Việt Nam. 2018.
Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để người
cao tuổi có cuộc sống tích cực. Xem xét một
TCNCYH 129 (5) - 2020
315
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
2. The World Health Organization quality of
life assessment (WHOQOL). Possition paper
from the World Health Organization. Soc Sci
Med. 1995;41 (10):1403-1409.
2015;19(6):548-559.
8. Huong NT, Ha LTH, Chi NTQ et al.
Exploring quality of life among the elderly in
Hai Duong province, Vietnam: a rural–urban
dialogue. Glob Health Action. 2012;5(1):18874.
9. Lê Thị Hoàn, Trần Thị Thoa, Nguyễn
Phương Hoa và cộng sự. Một số yếu tố liên
quan đến chất lượng cuộc sống của người cao
tuổi tại xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh
Hà Nam, năm 2014. Tạp Chí Nghiên Cứu Học.
2015;(95(3)).
3. S. Ventegodt, T. Flensborg-Madsen, N.
J. Andersen et al. Which factors determine our
quality of life, health and ability? Results from a
Danish population sample and the Copenhagen
perinatal cohort. J Coll Physicians Surg Pak.
2008;18(7):445-450.
4. D. Hongthong, R. Somrongthong and
P. Ward. Factors Influencing the Quality of
Life (Qol) Among Thai Older People in a
Rural Area of Thailand. Iran J Public Health.
2015;(44(4)):479-485.
10. V. Hoi le, N. T. Chuc and L. Lindholm.
Health-related quality of life, and its
determinants, among older people in rural
Vietnam. BMC Public Health. 2010;(10):549.
11. WHO. The WHOQOL-OLD module -
manual. 2006.
5. Jan Nilsson, A. K. M. Masud Rana, Zarina
NaharKabir.Socialcapitalandqualityoflifeinold
age: results from a cross-sectional study in rural
Bangladesh. J Aging Health. 2006;18(3):419-
pubmed/16648394. Accessed January 5, 2020.
6. Knesebeck Ovd, Wahrendorf M, Hyde M,
Siegrist J. Socio-economic position and quality
of life among older people in 10 European
countries: results of the SHARE study. Ageing
Soc. 2007;27.269-284.
12. M. Baernholdt, G. Yan, I. Hinton et al.
Quality of life in rural and urban adults 65 years
and older: findings from the National Health and
Nutrition Examination survey. J Rural Health.
2012;(28(4)):339-347.
13. G. Gambin, A. Molzahn, A. C. Fuhrmann
et al. Quality of life of older adults in rural
southern Brazil. 2015;15 (3):3300.
14. Ana Luisa González-Celis and Juana
Gómez-Benito. Quality of life in the elderly:
Psychometric properties of the WHOQOL-
OLD module in Mexico. Health (N Y).
2013;(5(12A)):110-116.
7. WuT-Y, Chie W-C, Liu J-Petal.Association
of quality of life with laboratory measurements
and lifestyle factors in community dwelling
older people in Taiwan. Aging Ment Health.
Summary
DETERMINANTS OF QUALITY OF LIFE OF THE ELDERLY IN
HANOI CITY IN 2018
Across-sectionalstudyusingdirectinterviewmethodwasconductedwith504olderpeopleinHanoi
city. The study used the WHOQOL-OLD module to describe a number of factors related to the quality of
lifeof olderpeopleinHanoicityin2018.Thestudyresultshowedthat:olderfemale, livingalone, having
no child, having no income from work, having debt, having low level education, with unhealthy status
316
TCNCYH 129 (5) - 2020
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
andlivinginruralareahadthelowerscoreofqualityoflife, withpvalue<0.05.Theinterventionprogram
to improve the quality of life should be prioritized for the elderly who are female, live alone with no child,
no stable income or live in a poor economic condition, have unhealthy status and live in the rural area.
Keywords: Quality of life, the elderly, determinants, WHOQOL-OLD, Hanoi.
TCNCYH 129 (5) - 2020
317
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_yeu_to_lien_quan_den_chat_luong_cuoc_song_cua_nguoi_c.pdf

