Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG  
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2018  
Nguyễn Hữu Thắng1, , Nguyễn Thị Như Ngọc2, Nguyễn Hà Lâm2,  
Phạm Hải Thanh2, Nguyễn Ngọc Khánh2, Nguyễn Vũ Thiện2,  
Mạc Đức Long2, Đỗ Thị Thanh Toàn1, Lê Thị Thanh Xuân1  
1Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội,  
2Sinh viên Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội.  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 504 người cao tuổi sử dụng bộ câu hỏi  
WHOQOL-OLD nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà  
Nội năm 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người cao tuổi là nữ giới, sống đơn thân, không con cái, không có thu  
nhập từ công việc ổn định, trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, tình trạng sức khỏe không tốt và sống  
ở khu vực nông thôn có điểm chất lượng cuộc sống thấp hơn, điều này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Khuyến nghị  
cácchươngtrình, chínhsáchcanthiệpnângcaochấtlượngcuộcsống, cầnưutiênchonhữngngườicaotuổilànữ,  
sốngđơnthân,khôngconcái,điềukiệnkinhtếkhókhăn,tìnhtrạngsứckhỏekhôngtốtvàsốngởkhuvựcnôngthôn.  
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, người cao tuổi, mối liên quan, WHOQOL-OLD, Hà Nội.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam là một trong những nước có tốc  
độ già hóa nhanh nhất thế giới.1 Quá trình già  
hoá quá nhanh khiến chúng ta không kịp ứng  
phó với những thách thức mà nó gây ra. Thủ đô  
Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị  
của Việt Nam với sự phát triển kinh tế, dân cư  
đông đúc, trong đó nhiều hộ gia đình Việt Nam  
có cấu trúc từ 2 đến 3 thế hệ cùng sinh sống.  
Gánh nặng từ vấn đề dân số mà đặc biệt là sự  
già hóa dân số nhanh chóng đang gây áp lực  
nặng nề lên sự phát triển chung của Thủ đô.  
Một trong những vấn đề thiết yếu đang được  
chú trọng hiện nay là đảm bảo chất lượng cuộc  
sống cho người cao tuổi thành phố. chất lượng  
cuộc sống là một khái niệm đa chiều, mang  
tính chủ quan cao và theo Tổ chức Y tế Thế  
giới (WHO), chất lượng cuộc sống là “sự hiểu  
biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong  
bối cảnh văn hóa, hệ thống các giá trị và trong  
mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn  
mực và mối quan tâm của họ”.2 Một số nghiên  
cứu đã chỉ ra rằng những khía cạnh quan trọng  
ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống là sức  
khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, điều kiện  
kinh tế, môi trường và tôn giáo.3,4 Một nghiên  
cứu ở Bangladesh đã chỉ ra rằng sự ốm yếu đã  
gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống  
của nghười tàn tật, ảnh hưởng theo nhiều khía  
cạnh khác nhau về tâm lý, xã hội và kinh tế.5  
người cao tuổi có trình độ học vấn và thu nhập  
cao hơn có liên quan đến điểm chất lượng cuộc  
sống cao hơn.6 Một số yếu tố lối sống chẳng  
hạn như uống rượu, thói quen tập thể dục và lái  
xe ô tô có liên quan đến chất lượng cuộc sống  
tốt hơn, trong khi béo phì bụng và đi xe gắn  
máy lại có liên quan đến chất lượng cuộc sống  
thấp hơn.7 Cụ thể đối với người cao tuổi tại Việt  
Nam, chất lượng cuộc sống cao hơn ở những  
người có trình độ học vấn cao hơn, có điều kiện  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Hữu Thắng,  
Viện ĐT YHDP &YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 07/02/2020  
Ngày được chấp nhận: 13/03/2020  
310  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
thôn thuộc mỗi phường / xã đã chọn.  
kinh tế xã hội tốt hơn, là chủ hộ gia đình và  
không có ốm đau bệnh tật trong 6 tháng qua 8 -  
10. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có nhiều bằng  
chứng về chất lượng cuộc sống và các yếu tố  
ảnh hưởng lên nó ở người cao tuổi thành phố  
Hà Nội. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến  
công tác thiết kế và thực hiện các chính sách và  
chương trình can thiệp phù hợp nhằm nâng cao  
chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Vì  
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm xác  
định một số yếu tố liên quan đến chất lượng  
cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội  
năm 2018.  
Bước 4: Chọn 21 người cao tuổi trong mỗi  
tổ dân phố / thôn đã chọn theo phương pháp  
“cổng liền cổng”  
Thông tin được thu thập bằng phương pháp  
phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi với bộ câu  
hỏi gồm 2 phần: Phần 1: Thông tin chung về  
đặc điểm cá nhân gồm: tuổi, giới, tôn giáo, tình  
trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập, nợ  
nần, bệnh đang mắc, sức khỏe tự đánh giá,  
người sống cùng, người chăm sóc chính, chủ  
hộ gia đình, số con, thời gian lưu trú, khu vực  
sống. Phần 2: Thang đo chất lượng cuộc sống  
WHOQOL - OLD gồm 24 câu hỏi chia thành 6  
khía cạnh, mỗi khía cạnh gồm 4 câu hỏi: Giác  
quan, Tự chủ, Hoạt động xã hội, Hoạt động quá  
khứ, hiện tại và tương lai, Cái chết và Tình thân.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) hiện đang  
sinh sống trong địa bàn thành phố Hà Nội năm  
2018. Đối tượng được chọn vào nghiên cứu  
là những người sống tại hộ gia đình khảo sát  
ít nhất 12 tháng tính đến thời điểm tiến hành  
nghiên cứu và những người tự nguyện tham  
gia nghiên cứu. Trường hợp hộ gia đình có  
nhiều hơn 01 người cao tuổi đủ điều kiện thì  
chọn người cao tuổi gặp đầu tiên hoặc ở bên  
tay trái ĐTV. Trường hợp không có người cao  
tuổi hoặc không người cao tuổi nào trong hộ  
gia đình đó hoàn thành phỏng vấn được ta tiếp  
tục đi đến hộ gia đình tiếp theo sát bên tay trái.  
3. Phân tích số liệu  
Thông tin được thu thập được nhập, mã hóa  
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng  
phần mềm STATA 15. Điểm chất lượng cuộc  
sống được tính bằng tổng điểm của các câu và  
quy đổi sang thang điểm 0-100 theo hướng dẫn  
của Tổ chức Y tế Thế giới11.  
Điểm chất lượng cuộc sống khía cạnh (vd:  
Giác quan)  
Q1+Q2+Q10+Q20  
- 1  
4
100 x  
=
4
Điểm chất lượng cuộc sống chung  
Q1+Q2+Q3+Q4+…+Q23+Q24  
- 1  
24  
2. Phương pháp  
100 x  
=
4
Phân loại chất lượng cuộc sống chung dựa  
trên thang điểm 0-100 theo các mức sau:  
0-25 điểm: chất lượng cuộc sống kém.  
26-50 điểm: chất lượng cuộc sống trung  
bình  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện  
trên mẫu 504 người cao tuổi trên địa bàn thành  
phố Hà Nội.  
Chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu nhiều  
giai đoạn.  
51-75 điểm: chất lượng cuộc sống khá  
76-100 điểm: chất lượng cuộc sống tốt.  
Sử dụng kiểm định test phi tham số Mann-  
Whitney và Krusk Wallis để so sánh sự khác  
biệt về điểm chất lượng cuộc sống giữa các  
nhóm yếu tố.  
Bước 1: Chọn ngẫu nhiên hệ thống 3 quận  
nội thành và 3 huyện ngoại thành thuộc địa bàn  
thành phố Hà Nội.  
Bước 2: Chọn ngẫu nhiên hệ thống 3  
phường / xã thuộc mỗi quận / huyện đã chọn.  
Bước 3: Chọn mẫu thuận tiện 2 tổ dân phố /  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
311  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
3. Đạo đức trong nghiên cứu.  
tượng tham gia được giải thích về mục đích, nội  
dung của nghiên cứu, tự nguyện đồng ý tham  
gia và có quyền rút lui ở bất cứ giai đoạn nào.  
Các thông tin thu được là bí mật và chỉ được sử  
dụng phục vụ cho mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu là một phần trong nghiên cứu  
của Đại học Mahidol, Thái Lan triển khai tại 5  
quốc gia Đông Nam Á đã được hội đồng đạo  
đức Trường đại học Mahidol phê duyệt ngày  
10/03/2018 với mã số 2018/218.2809. Đối  
III. KẾT QUẢ  
Nghiên cứu được thực hiện trên 504 người từ 60 tuổi trở lên có độ tuổi trung bình là 67,97 ±  
6,93; nhỏ nhất là 60 tuổi và lớn nhất là 92 tuổi. người cao tuổi là nữ giới chiếm đa số với 56,94%  
và 51,98% người cao tuổi có trình độ THCS/ Trường dạy nghề. 53,17% đối tượng sống tại nông  
thôn và có đến 3,17% người cao tuổi độc thân. Phần lớn người cao tuổi hiện đang sống cùng với  
vợ/ chồng (72,22%) và con cái (59,33%). người cao tuổi có thu nhập từ công việc chiếm 76,39%  
và 4,37% người cao tuổi đang nợ nần. Tỷ lệ người cao tuổi tự làm chủ hộ gia đình là 42,46%. Liên  
quan đến tình trạng sức khỏe, có 21,4 % người cao tuổi tự đánh giá sức khỏe ở mức không tốt và  
1,2% ở mức rất không tốt. Trong sinh hoạt hàng ngày, 29,96% người cao tuổi cần đến sự chăm sóc  
chính của người khác (Bảng 1).  
Bảng 1. Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về đặc điểm cá nhân  
của người cao tuổi (n = 504)  
Đặc điểm  
n
TB ± ĐLC (0-100)  
p
Tuổi  
60-69 tuổi  
314  
155  
26  
76,14 ± 13,13  
74,67 ± 12,33  
63,46 ± 13,56  
0,000  
70-79 tuổi  
≥ 80 tuổi  
*
Giới  
Nam  
Nữ  
217  
287  
76,39 ± 13,02  
73,83 ± 13,14  
0,034  
**  
Tôn giáo  
Không tôn giáo  
379  
125  
74,53 ± 13,51  
76,18 ± 13,51  
0,309  
**  
Có tôn giáo  
Tình trạng hôn nhân  
Độc thân  
16  
71,74 ± 19,21  
76,37 ± 12,51  
70,58 ± 13,27  
0,000  
Có vợ/ chồng  
376  
112  
*
Góa/ Ly dị/ Ly thân  
Người sống cùng  
Sống một mình  
Sống cùng người khác  
43  
65,23 ± 18,32  
75,81 ± 12,22  
0,000  
**  
461  
312  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Đặc điểm  
Trình độ học vấn  
n
TB ± ĐLC (0-100)  
p
Dưới THCS  
172  
332  
70,94 ± 13,31  
77,01 ± 12,58  
0,000  
**  
Từ THCS trở lên  
Con cái  
Không có con  
Có con  
21  
68,30 ± 21,80  
75,23 ± 12,59  
0,272  
**  
483  
Khu vực sống  
Nông thôn  
268  
236  
71,94 ± 11,15  
78,34 ± 14,37  
0,000  
**  
Đô thị / Cận đô thị  
* Kruskal Wallis test / ** Mann-Whitney test  
Điểm chất lượng cuộc sống của nhóm 60 - 69 tuổi (76,14 ± 13,13) là cao nhất và nhóm từ 80 tuổi  
trở lên (63,46 ± 13,56) là thấp nhất. người cao tuổi là nam giới có điểm chất lượng cuộc sống cao  
hơn nữ giới. Về tình trạng hôn nhân, nhóm người cao tuổi có vợ/ chồng có điểm chất lượng cuộc  
sống cao nhất và thấp nhất là nhóm đã góa, ly dị hoặc ly thân (70,58 ± 13,27). người cao tuổi có sống  
cùng với người khác có điểm chất lượng cuộc sống (75,81 ± 12,22) cao hơn những người sống một  
mình (65,23 ± 18,32). Điểm chất lượng cuộc sống của nhóm có trình độ học vấn dưới THCS (70,94  
± 13,31) thấp hơn nhóm có trình độ từ THCS trở lên (77,01 ± 12,58) và người cao tuổi sống tại khu  
vực nông thôn (71,94 ± 11,15) thấp hơn khu vực đô thị/ cận đô thị (78,34 ± 14,37). Chưa tìm thấy sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trình độ học vấn, tôn giáo và con cái (Bảng 2).  
Bảng 2. Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về đặc điểm kinh tế của người cao tuổi (n =  
504)  
Đặc điểm  
Thu nhập từ công việc  
Không  
n
TB ± ĐLC  
P
119  
385  
69,91 ± 14,24  
76,50 ± 12,39  
0,000  
**  
Có  
Nợ nần  
Không  
482  
22  
75,28 ± 13,03  
67,42 ± 13,58  
0,006  
**  
Có  
Chủ hộ gia đình  
Bản thân  
214  
290  
76,28 ± 13,17  
73,95 ± 13,05  
0,035  
**  
Người khác  
** Mann-Whitney test  
Nhóm người cao tuổi có thu nhập từ công việc có điểm chất lượng cuộc sống (76,50 ± 12,39)  
cao hơn nhóm không có (69,91 ± 14,24); nhóm người cao tuổi có nợ nần (67,42 ± 13,58) thấp hơn  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
313  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
nhóm không có nợ nần (75,28 ± 13,03); nhóm tự làm chủ hộ gia đình (76,28 ± 13,17) cao hơn nhóm  
không phải chủ hộ gia đình (73,95 ± 13,05). Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (Bảng 3).  
Bảng 3. Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về tình trạng sức khỏe  
của người cao tuổi (n = 504)  
Đặc điểm  
Tình trạng sức khỏe tự đánh giá  
Không tốt  
n
TB ± ĐLC  
P
114  
259  
131  
68,38 ± 13,75  
75,47 ± 11,52  
79,60 ± 13,42  
0,000  
Bình thường  
*
Tốt  
Bệnh mạn tính kèm theo  
Không mắc bệnh  
Có mắc bệnh  
119  
385  
77,86 ± 12,08  
74,04 ± 13,34  
0,011  
**  
Người chăm sóc chính  
Tự chăm sóc  
353  
76,42 ± 12,81  
71,49 ± 13,30  
0,000  
**  
Người khác  
151  
* Kruskal Wallis test / ** Mann-Whitney test  
Về đặc điểm tình trạng sức khỏe, những  
người cao tuổi tự đánh giá sức khỏe ở mức tốt  
có điểm chất lượng cuộc sống cao nhất (79,60  
± 13,42) và thấp nhất là người cao tuổi tự đánh  
giá sức khỏe mức độ không tốt (68,38 ± 13,75).  
Những người cao tuổi không mắc bệnh gì có  
điểm chất lượng cuộc sống (77,86 ± 12,08)  
cao hơn người có mắc bệnh (74,04 ± 13,34) và  
nhóm tự chăm sóc được cho bản thân có điểm  
(76,42 ± 12,81) cao hơn nhóm cần người khác  
chăm sóc chính (71,49 ± 13,30).  
phải đối mặt nhiều hơn với các vấn đề về lão  
hóa khiến các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả  
năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm  
dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần  
cũng giảm sút.  
Trong nghiên cứu này, người cao tuổi là nam  
giới có điểm chất lượng cuộc sống cao hơn nữ  
giới, tương đồng với nhiều nghiên cứu cả trong  
và ngoài nước sử dụng nhiều công cụ đo lường  
khác nhau.4,9 Sự khác biệt này có khả năng  
xuất phát từ thực tế là nam giới thường có trình  
độ học vấn cao hơn, thu nhập cao hơn, chủ  
động hơn trong việc ra quyết định so với phụ  
nữ và sự tương tác của họ với môi trường bên  
ngoài nhiều hơn phụ nữ. Bên cạnh đó kết quả  
cũng cho thấy người cao tuổi sống độc thân có  
chất lượng cuộc sống kém hơn người cao tuổi  
sống cùng gia đình hoặc người khác và người  
cao tuổi có vợ hoặc chồng có điểm chất lượng  
cuộc sống cao hơn người cao tuổi độc thân  
hoặc đã góa, ly dị hay ly thân. Kết quả tương  
đồng với hầu hết các nghiên cứu khác.8,10 Từ  
kết quả nghiên cứu này cho thấy các can thiệp  
nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao  
IV. BÀN LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi, giới, tình  
trạng hôn nhân, người sống cùng, trình độ học  
vấn, khu vực sống, tình trạng kinh tế cá nhân  
và tình trạng sức khỏe là những yếu tố có liên  
quan đến chất lượng cuộc sống của người  
cao tuổi. Cụ thể có mối liên quan giữa tuổi cao  
và chất lượng cuộc sống thấp hơn đặc biệt là  
nhóm từ 80 tuổi trở lên, tương tự nghiên cứu  
của Vũ Toàn Thịnh năm 2013.9 Điều này là khá  
dễ hiểu khi tuổi càng cao người cao tuổi càng  
314  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
tuổi cần ưu tiên nữ giới, nhất là phụ nữ cô đơn,  
không nơi nương tựa.  
số đặc điểm về tình trạng sức khỏe cho thấy  
những mối liên quan chặt chẽ. Trong đó tình  
trạng sức khỏe hiện tại do người cao tuổi tự  
đánh giá càng thấp thì chất lượng cuộc sống  
của họ càng thấp, đồng thời những người  
đang mắc bệnh có chất lượng cuộc sống thấp  
hơn những người không mắc bệnh. Kết quả  
này tương tự với nghiên cứu của Ana Luisa  
và Juana trên 285 người từ 60 tuổi trở lên tại  
Mexico cũng sử dụng bộ câu hỏi WHOQOL-  
OLD14. Phát triển các hệ thống chăm sóc sức  
khỏe dài hạn là một vấn đề cần được chú trọng  
quan tâm trong công cuộc đảm bảo chất lượng  
cuộc sống cho người cao tuổi.  
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy người cao  
tuổi sống tại khu vực nông thôn có chất lượng  
cuộc sống thấp hơn người cao tuổi sống tại  
khu vực đô thị và cận đô thị. Nghiên cứu của  
Marianne Baernholdt tại Hoa Kỳ cũng cho kết  
quả tương tự.12 Mối liên quan này có thể giải  
thích do điều kiện kinh tế, xã hội và đặc biệt là  
chăm sóc y tế giữa nội thành và một số huyện  
ngoại thành Hà Nội có sự chênh lệch. Sau đợt  
mở rộng địa giới hành chính năm 2008, mức  
chênh lệch này càng tăng. Tại không ít khu vực  
thuộc các huyện ngoại thành, cư dân vẫn phải  
sống trong điều kiện vệ sinh yếu kém, thiếu  
nước sạch để sinh hoạt, phải sử dụng nước ao,  
nước giếng. Các can thiệp về chất lượng cuộc  
sống cũng nên ưu tiên tiến hành ở các khu vực  
nông nông nhằm nâng cao chất lượng cuộc  
sống chung cho người cao tuổi toàn thành phố.  
Người cao tuổi trong nghiên cứu có thu  
nhập từ công việc hoặc lương hưu, trợ cấp có  
chất lượng cuộc sống tốt hơn người sống dựa  
vào người thân hoặc gia đình và người cao tuổi  
có nợ nần có chất lượng cuộc sống thấp hơn  
không nợ. Kết quả tương tự cũng đã được ghi  
nhận trong nghiên cứu của Gambin tại Brazil  
năm 2015.13 Điều này có thể giải thích là do  
những người có thu nhập ổn định hàng tháng  
giúp cuộc sống của họ có thể sẽ ổn định hơn  
và không cần phụ thuộc vào người khác; họ có  
điều kiện chăm sóc sức khỏe thường xuyên và  
tham gia vào các hoạt động xã hội nhiều hơn  
do đó chất lượng cuộc sống của họ tốt hơn.  
Thêm vào đó, những người là chủ hộ gia đình  
cũng có chất lượng cuộc sống cao hơn những  
người không là chủ hộ gia đình có thể do điều  
này mang đến cho họ quyền quyết định và vị  
thế cao hơn trong gia đình.  
V. KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng  
cuộc sống của người cao tuổi trên địa bàn  
thành phố Hà Nội đạt mức khá tuy nhiên còn  
một bộ phận nhỏ người cao tuổi có chất lượng  
cuộc sống ở mức thấp và trung bình. Do đó,  
việc thực hiện các chương trình, can thiệp cộng  
đồng và chuyên khoa hướng đến nhóm đối  
tượng này là cần thiết. Các yếu tố như tuổi cao,  
người cao tuổi là nữ giới, trình độ học vấn thấp,  
tài chính không đảm bảo, sự cô đơn, điều kiện  
nơi sống khu vực ngoại thành và các vấn đề  
sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng  
cuộc sống người cao tuổi.  
Khuyến nghị  
Các chương trình, chính sách can thiệp cần  
ưu tiên cho những người cao tuổi là nữ giới,  
sống đơn thân, không con cái và không có thu  
nhập từ công việc ổn định, trình độ học vấn  
thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, tình trạng sức  
khỏe không tốt và sống ở khu vực nông thôn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y tế. Báo cáo tổng quan chung ngành  
Y tế năm 2016. Hướng tới mục tiêu già hóa  
khỏe mạnh ở Việt Nam. 2018.  
Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để người  
cao tuổi có cuộc sống tích cực. Xem xét một  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
315  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
2. The World Health Organization quality of  
life assessment (WHOQOL). Possition paper  
from the World Health Organization. Soc Sci  
Med. 1995;41 (10):1403-1409.  
2015;19(6):548-559.  
8. Huong NT, Ha LTH, Chi NTQ et al.  
Exploring quality of life among the elderly in  
Hai Duong province, Vietnam: a rural–urban  
dialogue. Glob Health Action. 2012;5(1):18874.  
9. Lê Thị Hoàn, Trần Thị Thoa, Nguyễn  
Phương Hoa và cộng sự. Một số yếu tố liên  
quan đến chất lượng cuộc sống của người cao  
tuổi tại xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh  
Hà Nam, năm 2014. Tạp Chí Nghiên Cứu Học.  
2015;(95(3)).  
3. S. Ventegodt, T. Flensborg-Madsen, N.  
J. Andersen et al. Which factors determine our  
quality of life, health and ability? Results from a  
Danish population sample and the Copenhagen  
perinatal cohort. J Coll Physicians Surg Pak.  
2008;18(7):445-450.  
4. D. Hongthong, R. Somrongthong and  
P. Ward. Factors Influencing the Quality of  
Life (Qol) Among Thai Older People in a  
Rural Area of Thailand. Iran J Public Health.  
2015;(44(4)):479-485.  
10. V. Hoi le, N. T. Chuc and L. Lindholm.  
Health-related quality of life, and its  
determinants, among older people in rural  
Vietnam. BMC Public Health. 2010;(10):549.  
11. WHO. The WHOQOL-OLD module -  
manual. 2006.  
5. Jan Nilsson, A. K. M. Masud Rana, Zarina  
NaharKabir.Socialcapitalandqualityoflifeinold  
age: results from a cross-sectional study in rural  
Bangladesh. J Aging Health. 2006;18(3):419-  
pubmed/16648394. Accessed January 5, 2020.  
6. Knesebeck Ovd, Wahrendorf M, Hyde M,  
Siegrist J. Socio-economic position and quality  
of life among older people in 10 European  
countries: results of the SHARE study. Ageing  
Soc. 2007;27.269-284.  
12. M. Baernholdt, G. Yan, I. Hinton et al.  
Quality of life in rural and urban adults 65 years  
and older: findings from the National Health and  
Nutrition Examination survey. J Rural Health.  
2012;(28(4)):339-347.  
13. G. Gambin, A. Molzahn, A. C. Fuhrmann  
et al. Quality of life of older adults in rural  
southern Brazil. 2015;15 (3):3300.  
14. Ana Luisa González-Celis and Juana  
Gómez-Benito. Quality of life in the elderly:  
Psychometric properties of the WHOQOL-  
OLD module in Mexico. Health (N Y).  
2013;(5(12A)):110-116.  
7. WuT-Y, Chie W-C, Liu J-Petal.Association  
of quality of life with laboratory measurements  
and lifestyle factors in community dwelling  
older people in Taiwan. Aging Ment Health.  
Summary  
DETERMINANTS OF QUALITY OF LIFE OF THE ELDERLY IN  
HANOI CITY IN 2018  
Across-sectionalstudyusingdirectinterviewmethodwasconductedwith504olderpeopleinHanoi  
city. The study used the WHOQOL-OLD module to describe a number of factors related to the quality of  
lifeof olderpeopleinHanoicityin2018.Thestudyresultshowedthat:olderfemale, livingalone, having  
no child, having no income from work, having debt, having low level education, with unhealthy status  
316  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
andlivinginruralareahadthelowerscoreofqualityoflife, withpvalue<0.05.Theinterventionprogram  
to improve the quality of life should be prioritized for the elderly who are female, live alone with no child,  
no stable income or live in a poor economic condition, have unhealthy status and live in the rural area.  
Keywords: Quality of life, the elderly, determinants, WHOQOL-OLD, Hanoi.  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
317  
pdf 8 trang yennguyen 18600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_lien_quan_den_chat_luong_cuoc_song_cua_nguoi_c.pdf