Nghiên cứu kết quả ngắn hạn của phương pháp can thiệp mạch vành qua da và nội khoa bảo tồn trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp trên bệnh nhân rất cao tuổi

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ NGẮN HẠN CỦA PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP  
MẠCH VÀNH QUA DA VÀ NỘI KHOA BẢO TỒN TRONG ĐIỀU TRỊ  
NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TRÊN BỆNH NHÂN RẤT CAO TUỔI  
Nguyễn Văn Tân*,**, Nguyễn Quốc Khoa***  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Nhồi máu cơ tim cấp là một trong những nguyên nhân nhập viện thường gặp ở người rất cao  
tuổi. Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, nhóm bệnh nhân này ít được điều trị can thiệp mạch vành qua da  
(CTMVQD) theo các khuyến cáo bởi chứng cứ về lợi ích của phương pháp này so với điều trị nội khoa bảo tồn  
còn ít, chưa rõ ràng.  
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các biến cố tim mạch nặng (tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim  
mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và xuất huyết nặng) ngắn hạn (nội viện và tại thời điểm 6 tháng) của  
phương pháp CTMVQD kết hợp với nội khoa và nội khoa bảo tồn trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp trên  
bệnh nhân rất cao tuổi.  
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ, tiến cứu và không can thiệp được thực hiện  
đa trung tâm. Trong thời gian từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên  
275 bệnh nhân rất cao tuổi (≥ 80 tuổi) bị nhồi máu cơ tim cấp nhập viện điều trị nội trú tại 4 khoa tim mạch của 4  
bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả bệnh nhân được chia thành 2 nhóm điều trị: nội khoa kết hợp  
CTMVQD (n=142) và nội khoa bảo tồn đơn thuần (n=133).  
Kết quả: Tỷ lệ tử vong nội viện ở nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa đơn thuần cao hơn so với bệnh  
nhân được điều trị CTMVQD (18,05% so với 8,45%; p=0,018). Tỷ lệ tử vong do tim mạch và nhồi máu cơ tim  
tái phát tại thời điểm 6 tháng cũng cao hơn ở nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa bảo tồn (15,04% so với  
8,45%; p=0,002 và 15,79% so với 3,52%; p=0,001). Biến cố đột quỵ và xuất huyết nặng khác biệt không ý nghĩa  
giữa 2 phương pháp điều trị (p<0,05).  
Kết luận: Can thiệp mạch vành qua da kết hợp với điều trị nội khoa làm giảm được tỷ lệ tử vong nội  
viện và tỷ lệ tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim tái phát tại thời điểm 6 tháng so với điều trị nội khoa bảo  
tồn đơn thuần.  
Từ khóa: nhồi máu cơ tim cấp, rất cao tuổi, can thiệp mạch vành qua da, nội khoa bảo tồn  
ABSTRACT  
THE SHORT-TERM OUTCOMES OF PERCUTANEOUS CORONARY INTERVENTION VERSUS  
CONSERVATIVE STRATEGY IN THE VERY ELDERLY PATIENTS WITH ACUTE MYOCARDIAL  
INFARCTION  
Nguyen Van Tan, Nguyen Quoc Khoa.  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 2- 2019: 22-29  
Background: Acute myocardial infarction (AMI) is frequent causes of hospital admission in the very  
elderly. However, this population is less likely to receive treatment with percutaneous coronary intervention  
(PCI) according to current guidelines because the benefits and disadvantages of PCI versus medical  
treatment are still uncertain.  
*Bộ môn Lão khoa – Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh **Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh  
***Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện 30/4 – Bộ Công An  
Tác giả liên lạc: TS. Nguyễn Văn Tân  
ĐT: 0903739273  
Chuyên Đề Nội Khoa  
22  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Objective: To determine the rate of major adverse cardiac events (all-cause death, cardiovascular death,  
myocardial infarction, stroke and major bleeding) in hospital and at 6 months of PCI versus conservative strategy  
in treatment of acute myocardial infarction in the very elderly patients.  
Methods: This was a cohort, prospective and multicenter study. From June 2017 to June 2018, we  
enrolled 275 patients (≥ 80 years old) with AMI treated at department of Cardiovascular and Intervention of  
Ho Chi Minh city’s Thong Nhat hospital, department of interventional cardiology of Ho Chi Minh  
University medical center, department of cardiology of Cho Ray hospital and department of cardiology of  
30/4 Police hospital. All patients were divided into 2 groups, those who underwent a conservative treatment  
(n=133) and those who underwent PCI (n=142).  
Results: In-hospital mortality were significant higher in the conservative group than those PCI group  
(18.05% vs 8.45%, p = 0.018). The 6-month cardiovascular mortality and recurrent AMI were still significant  
higher in the in the conservative group than those PCI group (respectively, 5.04% vs 8.45%, p=0.002; 15.79% vs  
3.52%, p=0.001). The two strategies did not differ in term of stroke and major bleeding.  
Conclusions: In treatment of AMI in the very elderly patients, PCI was superior to conservative strategy in  
the reduction of in-hospital mortality and 6-month cardiovascular mortality as well as recurrent AMI.  
Key words: acute myocardial infarction, very elderly patients, percutaneous coronary intervention,  
conservative treatment  
những bệnh nhân bị hội chứng mạch vành cấp  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
phải được điều trị nội khoa tối ưu và đánh giá  
Nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) là nguyên  
cho chiến lược điều trị tái tưới máu xâm lấn  
nhân chính gây nên tử vong và tàn tật ở người  
như là CTMVQD. Chiến lược điều trị này  
rất cao tuổi (trên 80 tuổi) với tỷ lệ khoảng 50%(10).  
giống nhau cho người cao tuổi và không cao  
Người cao tuổi và rất cao tuổi hiện chiếm một tỷ  
tuổi. Tuy nhiên, trên thực tế, những bệnh nhân  
lệ lớn trong số bệnh nhân nhập viện vì hội  
chứng vành cấp(1). Tuổi thọ của dân số thế giới  
rất cao tuổi bị NMCTC lại ít được CTMVQD  
theo các hướng dẫn trên như nhóm bệnh nhân  
nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng  
trẻ hơn vì tình trạng bệnh lý đi kèm cũng như  
tăng. Điều này sẽ dẫn tới tỷ lệ người rất cao tuổi  
bằng chứng về lợi ích còn tương đối ít và mức  
bị NMCTC ngày càng tăng trong tương lai.  
độ chứng cứ còn chưa đủ mạnh(2,11,12). Do đó,  
Trong những thập niên gần đây, tỷ lệ tử  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm  
vong do NMCTC đã giảm bởi những tiến bộ  
đánh giá kết quả ngắn hạn của phương pháp  
mới trong điều trị, như là can thiệp mạch vành  
CTMVQD và nội khoa bảo tồn trong điều trị  
qua da (CTMVQD), thuốc mới. Tái tưới máu  
NMCTC trên bệnh nhân rất cao tuổi.  
mạch vành bằng phương pháp can thiệp qua da  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
đã được chứng minh làm cải thiện tiên lượng  
Tất cả BN ≥ 80 tuổi bị NMCTC nhập viện  
điều trị tại Khoa Tim mạch Cấp cứu và Can  
thiệp Bệnh viện Thống Nhất, Khoa Tim mạch  
Can thiệp Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí  
Minh, Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Chợ Rẫy  
và Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện 30/4 trong  
khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2017 đến  
tháng 06 năm 2018 thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu.  
sống còn cũng như các biến cố tim mạch nặng  
trên bệnh nhân bị hội chứng mạch vành cấp.  
Tuy nhiên, phần lớn những bằng chứng lợi ích  
này chủ yếu trên nhóm bệnh nhân (BN) không  
quá cao tuổi (trung bình 65 tuổi) bởi hầu hết các  
nghiên cứu lâm sàng chính đã không bao gồm  
hoặc bao gồm rất ít nhóm bệnh nhân cao tuổi và  
rất cao tuổi (trên 80 tuổi)(9).  
Theo hướng dẫn của Hội Tim Châu Âu,  
Hội Tim Hoa Kỳ và Trường môn Tim Hoa Kỳ,  
Tiêu chuẩn chọn bệnh  
BN ≥ 80 tuổi, được chẩn đoán nhồi máu cơ  
Chuyên Đề Nội Khoa  
23  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
tim cấp theo định nghĩa toàn cầu lần thứ 3 về  
nhồi máu cơ tim(14).  
Các biến cố tim mạch nặng: tử vong do mọi  
nguyên nhân, tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ  
tim, đột quỵ và xuất huyết nặng theo định nghĩa  
của ACC/AHA về các biến cố tim mạch trong  
nghiên cứu lâm sàng năm 2014(7).  
BN được điều trị nội khoa bảo tồn đơn thuần  
hay nội khoa kết hợp CTMVQD.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Phương pháp và phân tích số liệu  
BN có bệnh lý ác tính kèm theo.  
Các số liệu trong nghiên cứu được phân  
tích và xử lý bằng phần mềm STATA 13.0. Kết  
quả được mô tả dưới dạng tần số, tỷ lệ % đối  
với các biến định tính. Đối với các biến định  
lượng mô tả bằng trung bình (TB) ± độ lệch  
chuẩn (ĐLC) (có phân phối chuẩn), trung vị  
(TV) và khoảng tứ phân vị (KTPV) 25%-75%  
(có phân phối không chuẩn); kiểm định chi  
bình phương để xác định mối liên quan giữa 2  
biến số định tính (nếu có một ô có vọng trị < 5  
chiếm tỷ lệ > 20% hoặc có ô có vọng trị < 1 thì  
dùng phép kiểm định Fisher); kiểm định t-test  
để xác định mối liên quan giữa 2 biến trung  
bình. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi trị  
số p < 0,05 với độ tin cậy 95%.  
BN bị tử vong ngay tại thời điểm nhập  
viện hoặc được điều trị tái tưới máu mạch  
vành bằng tiêu sợi huyết hoặc phẫu thuật bắc cầu  
mạch vành.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Đoàn hệ, tiền cứu và không can thiệp.  
Kỹ thuật lấy mẫu  
Lấy mẫu thuận tiện.  
Các bước tiến hành lấy số liệu  
Chúng tôi ghi nhận thông tin về bệnh sử,  
lâm sàng, cận lâm sàng, thuốc điều trị và biến cố  
tim mạch nặng của BN tại thời điểm nhập viện  
và trong quá trình nằm viện theo mẫu bệnh án  
nghiên cứu: tuổi, giới, yếu tố nguy cơ tim mạch,  
suy yếu, tiền căn bệnh tim mạch, phân độ Killip  
lúc nhập viện, tử vong.  
KẾT QUẢ  
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, chúng  
tôi thu nhận được 275 bệnh nhân thỏa tiêu chí  
chọn mẫu tại 4 khoa tim mạch của 4 bệnh viện  
khác nhau ở TP. Hồ Chí Minh; trong đó có 133  
bệnh nhân được điều trị nội khoa bảo tồn  
(NKBT) và 142 BN được CTMVQD. Một số đặc  
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thuốc điều trị  
của 2 nhóm bệnh nhân theo phương pháp điều  
trị được trình bày trong các bảng 1-3.  
BN được điều trị nội khoa đơn thuần hoặc  
nội khoa kết hợp CTMVQD tùy vào nguyện  
vọng bệnh nhân/thân nhân và bác sĩ điều trị.  
Chúng tôi theo dõi BN để ghi nhận biến cố  
tim mạch nặng bằng cách theo dõi tại phòng  
khám hoặc gọi điện thoại sau xuất viện 1 tháng,  
3 tháng và 6 tháng.  
Định nghĩa các biến số nghiên cứu  
Bảng 1: Đặc điểm tiền căn, yếu tố nguy cơ tim mạch theo phương pháp điều trị  
NKBT (n = 133)  
CTMVQD (n = 142)  
83 (80:87)  
72 (50,70)  
16 (11,27)  
91 (64,08)  
99 (69,72)  
44 (30,99)  
33 (23,24)  
14 (9,86)  
p
Tuổi (năm, trung vị)  
Nữ, n(%)  
84 (81:88)  
76 (57,14)  
37 (27,82)  
97 (72,93)  
101 (75,94)  
35 (26,32)  
52 (39,10)  
26 (19,55)  
7 (5,26)  
0,018  
0,284  
0,001  
0,115  
0,247  
0,392  
0,004  
0,023  
0,704  
<0,001  
Hiện hút thuốc lá, n(%)  
Tăng huyết áp, n(%)  
Rối loạn lipid máu, n(%)  
Đái tháo đường, n(%)  
Bệnh thận mạn, n(%)  
Nhồi máu cơ tim cũ, n(%)  
Đặt stent mạch vành, n(%)  
Suy tim, n(%)  
9 (6,34)  
52 (39,10)  
18 (12,68)  
Chuyên Đề Nội Khoa  
24  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
NKBT (n = 133)  
CTMVQD (n = 142)  
p
Bệnh mạch máu não, n(%)  
Rung nhĩ mạn, n(%)  
20 (15,04)  
12 (9,02)  
19 (14,29)  
14 (9,86)  
3 (2,11)  
0,192  
0,012  
0,453  
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, n(%)  
16 (11,27)  
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tại thời điểm nhập viện theo phương pháp điều trị  
NKBT (n=133)  
22 (16,5)  
CTMVQD (n = 142)  
p
NMCTC có ST chênh lên, n(%)  
NMCT cấp không ST chênh lên, n(%)  
Killip I, n(%)  
42 (29,58)  
100 (70,42)  
105 (73,94)  
37 (26,06)  
0,011  
< 0,05  
< 0,001  
< 0,05  
0,002  
0,05  
111 (83,46)  
64 (48,12)  
Killip ≥ 2, n(%)  
69 (51,88)  
Phân suất tống máu thất trái  
Độ lọc cầu thận ước lượng (mL/ph)  
Hematocrite (%)  
44,46 ± 15,75  
53,7 (38,2 : 65)  
35,5 (31,2 : 39,5)  
11,9 (10,3 : 13,1)  
4 ± 0,97  
50,21 ± 15,04  
55,9 (46 : 72)  
36,85 (33,4 : 39,1)  
12,2 (11,1 : 13,3)  
4,11 ± 0,84  
0,15  
Hemoglobin (g/dL) (TV và KTPV)  
TIMI cho NMCT cấp không có ST chênh lên (TB ± ĐLC)  
TIMI cho NMCT cấp ST chênh lên (TB ± ĐLC)  
Điểm GRACE (TB ± ĐLC)  
Viêm phổi, n (%)  
0,048  
0,42  
9,13 ± 2,28  
167,43 ± 23,33  
49 (36,84)  
7,82 ± 1,5  
0,006  
0,13  
163,45 ± 20,57  
21 (14,79)  
< 0,001  
0,004  
0,001  
Suy thận cấp, n (%)  
29 (21,8)  
13 (9,15)  
Suy yếu, n (%)  
97 (72,93)  
75 (52,82)  
Bảng 3: Thuốc dùng trong quá trình nằm viện theo phương pháp điều trị  
NKBT (n=133)  
CTMVQD (n=142)  
p
Aspirin, n(%)  
Ticagrelor, n(%)  
126 (94,74)  
5 (3,76)  
142 (100)  
37 (26,06)  
141 (99,3)  
3 (2,11)  
0,006  
<0,001  
0,027*  
0,326*  
0,005  
0,229  
0,696  
0,037  
0,002  
0,452  
0,006  
0,001  
Clopidogrel, n(%)  
Kháng đông uống, n(%)  
Statin, n(%)  
126 (94,74)  
5 (3,76)  
116 (87,22)  
37 (33,94)  
19 (14,29)  
100 (75,19)  
117 (87,97)  
43 (32,33)  
47 (35,34)  
112 (84,21)  
137 (96,48)  
54 (41,54)  
18 (12,68)  
121 (85,21)  
104 (73,24)  
40 (28,17)  
29 (20,42)  
136 (95,77)  
Ức chế bê-ta, n(%)  
Chẹn kênh Canxi, n(%)  
UCMC, n(%)  
Nitrate, n(%)  
Kháng Aldosterone, n(%)  
Lợi tiểu quai, n(%)  
Enoxaparin, n(%)  
*Kiểm định Fisher  
hơn với tất cả p đều < 0,05. Thêm vào đó, nhóm  
BN chỉ được điều trị nội khoa đơn thuần cũng có  
phân suất tống máu thất trái, độ lọc cầu thận ước  
lượng và hemoglobin lúc nhập viện thấp hơn  
một cách có ý nghĩa thống kê.  
Tuổi trung bình của nghiên cứu chúng tôi là  
83 (nhỏ nhất là 80 tuổi và cao nhất là 99 tuổi). So  
với nhóm BN được CTMVQD, BN chỉ được điều  
trị nội khoa bảo tồn có tuổi cao hơn (p=0,018).  
Ngoài ra, BN chỉ được điều trị nội khoa đơn  
thuần cũng có tỷ lệ hiện hút thuốc lá, bệnh thận  
mạn, nhồi máu cơ tim cũ, suy tim và rung nhĩ  
mạn cao hơn (tất cả p < 0,05).  
So với nhóm BN chỉ được điều trị nội khoa  
bảo tồn, BN được CTMVQD có tỷ lệ sử dụng  
thuốc aspirin, clopidogrel, ticagrelor, statin, ức  
chế men chuyển, và enoxaparin cao hơn (tất cả p  
< 0,05). Ngược lại, nhóm BN được điều trị nội  
khoa bảo tồn có tỷ lệ sử dụng thuốc nitrate và lợi  
tiểu quai cao hơn (p< 0,05)  
So với nhóm BN được CTMVQD, BN chỉ  
được điều trị nội khoa bảo tồn có tỷ lệ NMCTC  
không có ST chênh lên, tỷ lệ viêm phổi, suy thận  
cấp, suy yếu, phân loại Killip ≥ 2 lúc nhập viện  
và điểm TIMI cho NMCT cấp ST chênh lên cao  
Tỷ lệ các biến cố tim mạch nặng nội viện và  
Chuyên Đề Nội Khoa  
25  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
tại thời điểm theo dõi 6 tháng của 2 nhóm bệnh  
theo phương pháp điều trị được tóm tắt trong  
bảng 4 và 5.  
nội viện ở nhóm BN chỉ được điều trị nội khoa  
bảo tồn cao hơn so với nhóm được CTMVQD  
(18,05% so với 8,45%; p = 0,018). Biến cố gộp (tử  
vong, tái nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, xuất  
huyết nặng) ở nhóm BN chỉ được điều trị nội  
khoa bảo tồn cũng cao hơn nhóm BN được  
CTMVQD (25,56% so với 10,56%; p = 0,001).  
Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2  
nhóm điều trị về các biến cố tim mạch nội viện:  
tái nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, xuất huyết  
nặng (tất cả p > 0,05). Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong  
Bảng 4: Tỷ lệ biến cố tim mạch nặng nội viện theo phương pháp điều trị  
NKBT (n=133)  
CTMVQD (n=142)  
2 (1,41)  
p
Tái nhồi máu cơ tim, n(%)  
Đột quỵ, n(%)  
6 (4,51)  
2 (1,5)  
0,121*  
0,14*  
0,47  
0
Xuất huyết nặng, n(%)  
Tử vong, n(%)  
3 (2,26)  
2 (1,41)  
24 (18,05)  
34 (25,56)  
12 (8,45)  
15 (10,56)  
0,018  
0,001  
Biến cố gộp **, n(%)  
*Kiểm định Fisher  
** Tử vong, tái nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, xuất huyết nặng  
Bảng 5: Tỷ lệ biến cố tim mạch nặng tại thời điểm 6 tháng theo phương pháp điều trị  
NKBT (n=133)  
21 (15,79)  
1 (0,75)  
CTMVQD (n=142)  
p
Tái nhồi máu cơ tim, n(%)  
Đột quỵ, n(%)  
5 (3,52)  
2 (1,41)  
2 (1,41)  
6 (4,23)  
19 (13,38)  
0,001  
0,53*  
0,67*  
0,002  
<0,001  
Xuất huyết nặng, n(%)  
Tử vong do tim, n(%)  
Biến cố gộp**, n(%)  
2 (1,5)  
20 (15,04)  
43 (32,33)  
*Kiểm định Fisher,  
**Tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim mạch, tái nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, xuất huyết nặng  
bệnh nhân cao tuổi và rất cao tuổi bị hội chứng  
vành cấp. Nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị nội  
khoa bảo tổn thường có tuổi cao hơn, nhiều bệnh  
lý đi kèm và bệnh cảnh lâm sàng lúc nhập viện  
nặng hơn, nguy cơ cao hơn so với nhóm bệnh  
So với điều trị nội khoa bảo tồn, CTMVQD  
làm giảm được tỷ lệ tử vong do tim mạch (4,24%  
so với 15,04%; p = 0,002), tái nhồi máu cơ tim  
(3,52% so với 15,79%; p = 0,001) và biến cố gộp  
(13,38% so với 32,33%; p<0,001) tại thời điểm 6  
tháng. Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, đột  
quỵ não và xuất huyết nặng không có sự khác  
biệt có ý nghĩa giữa 2 chiến lược điều trị (p>0,05).  
nhân được CTMVQD(4,6,8,13)  
.
Tỷ lệ biến cố tim mạch nặng nội viện của 2  
nhóm bệnh nhân theo phương pháp điều trị  
BÀN LUẬN  
Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 275  
bệnh nhân ≥ 80 tuổi bị NMCTC có 36 trường  
hợp tử vong (13,09%), đột quỵ não 2 trường  
hợp (0,73%), xuất huyết nặng 5 trường hợp  
(1,82%), nhồi máu cơ tim tái phát 8 trường hợp  
(2,91), sốc tim 2 trường hợp (0,73%) và suy tim  
cấp 13 trường hợp (4,73%).  
Đặc điểm mẫu bệnh nhân nghiên cứu theo  
phương pháp điều trị  
Bệnh nhân rất cao tuổi bị NMCTC thường ít  
được điều trị tái tưới máu xâm lấn theo các  
khuyến cáo so với nhóm bệnh nhân trẻ hơn  
(trung bình 65 tuổi) bởi tuổi cao và nhiều bệnh lý  
đi kèm (như là suy tim, suy thận, suy yếu, viêm  
phổi…). Đặc điểm yếu tố nguy cơ tim mạch,  
bệnh cảnh lâm sàng và một số giá trị cận lâm  
sàng trong nghiên cứu chúng tôi cũng tương tự  
một số nghiên cứu về hiệu quả của can thiệp  
mạch vành qua da so với nội khoa bảo tồn trên  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy,  
so với nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị nội  
khoa đơn thuần, nhóm bệnh nhân được  
CTMVQD có tỷ lệ tử vong thấp hơn có ý nghĩa  
(8,45% so với 18,05%; p = 0,018). Sự khác biệt về  
tỷ lệ tử vong nội viện giữa 2 nhóm điều trị trong  
Chuyên Đề Nội Khoa  
26  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu  
đoàn hệ tiến cứu của Katsuro Kashima(8) trên 77  
BN ≥ 80 tuổi bị NMCT cấp (12,5% so với 35,5%; p  
= 0,02), phân tích dưới nhóm từ nghiên cứu  
GRACE của Devlin G(4) trên 3.029 BN > 80 tuổi bị  
hội chứng vành cấp (7% so với 11%; p < 0,001,  
phân tích sổ bộ của Gierlotka(6) trên 13.707 BN ≥  
80 tuổi bị NMCT cấp không ST chênh lên (5% so  
với 14%; p < 0,0001) và nghiên cứu đoàn hệ tiến  
cứu của Yudi (15) trên 101 BN ≥ 85 tuổi bị NMCT  
cấp ST chênh lên (13% so với 32%; p = 0,03).  
chúng tôi, nhóm được CTMVQD lại có tỷ lệ xuất  
huyết nặng thấp hơn nhóm bệnh nhân được  
điều trị nội khoa bảo tồn nhưng không có ý  
nghĩa (1,41% so với 2,26%; p = 0,47).  
Trong nghiên cứu của chúng tôi còn ghi  
nhận tỷ lệ các biến cố gộp (tử vong, tái nhồi máu  
cơ tim, đột quỵ não, xuất huyết nặng) cao hơn có  
ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân được điều trị nội  
khoa đơn thuần so với nhóm bệnh nhân được  
CTMVQD (25,56% so với 10,56%; p = 0,001). Kết  
quả này càng cho thấy lợi ích của phương pháp  
CTMVQD so với nội khoa bảo tồn trong điều trị  
NMCT cấp trên bệnh nhân rất cao tuổi.  
Tỷ lệ đột quỵ não và tái nhồi máu cơ tim  
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn ở nhóm  
bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa đơn thuần  
so với nhóm bệnh nhân được CTMVQD nhưng  
không có ý nghĩa thống kê (1,5% so với 0;  
p = 0,142 và 4,51% so với 1,41%; p = 0,121). Tuy  
nhiên trong nghiên cứu sổ bộ trên 13.707 BN của  
Gierlotka(6) thì tỷ lệ đột quỵ não và tái nhồi máu  
cơ tim ở nhóm điều trị nội khoa bảo tồn cao hơn  
nhóm được CTMVQD một cách có ý nghĩa (p =  
0,0008). Sự khác biệt này so với kết quả nghiên  
cứu của chúng tôi có thể do mẫu nghiên cứu của  
Gierlotka lớn (n = 13.707). Kết quả này càng cho  
thấy rõ hơn lợi ích của can thiệp mạch vành qua  
da giúp giảm biến cố đột quỵ và tái nhồi máu cơ  
tim nội viện.  
Tỷ lệ biến cố tim mạch nặng tại thời điểm 6  
tháng của 2 nhóm theo phương pháp điều trị  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tại thời  
điểm theo dõi 6 tháng có 34 trường hợp  
(12,36%) tử vong do mọi nguyên nhân, trong  
đó tử vong do tim mạch 26 trường hợp  
(76,47%), nhồi máu cơ tim tái phát 26 trường  
(9,45%), đột quỵ não 3 trường hợp (1,09%) và  
xuất huyết nặng 4 trường (1,45%).  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, so với  
nhóm bệnh nhân được điều trị CTMVQD, nhóm  
bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa đơn thuần  
có tỷ lệ tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim  
tái phát cao hơn có ý nghĩa (15,04% so với 4,03%;  
p = 0,002 và 15,79% so với 3,52%; p = 0,001).  
Trong nghiên cứu của tác giả Devlin G(4) cũng  
ghi nhận kết quả tương tự với tử lệ tái nhồi máu  
cơ tim cao hơn ở nhóm điều trị nội khoa đơn  
thuần (8,1% so với 5,2%; p=0,03).  
Trong phân tích dưới nhóm từ nghiên cứu  
GRACE của Devlin G(4) và nghiên cứu sổ bộ của  
Gierlotka(6) cho thấy tỷ lệ xuất huyết nặng xảy ra  
nhiều hơn ở nhóm được CTMVQD so với nhóm  
được điều trị nội khoa bảo tồn một cách có ý  
nghĩa (7% so với 3,4% với p < 0,00001; 2,9% so  
với 1,1% với p < 0,0001). Nhóm bệnh nhân được  
CTMVQD có tỷ lệ sử dụng thuốc kháng tiểu cầu  
(aspirin, clopidogrel, ticagrelor) và không đông  
(enoxaparin) nhiều hơn nhóm bệnh nhân chỉ  
điều trị nội khoa bảo tồn (tất cả p < 0,05); thêm  
vào đó thủ thuật chụp và can thiệp mạch vành  
cũng là yếu tố nguy cơ cho xuất huyết nặng. Tất  
cả những điều này có thể giải thích cho tỷ lệ xuất  
huyết nặng cao hơn ở nhóm bệnh nhân được  
CTMVQD. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của  
Tỷ lệ gộp các biến cố tim mạch nặng (bao  
gồm tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do  
tim mạch, nhồi máu cơ tim tái phát, đột quỵ não  
và xuất huyết nặng) cũng cao hơn có ý nghĩa ở  
nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa đơn  
thuần so với những bệnh nhân được CTMVQD  
(32,33% so với 13,38%; p < 0,001).  
Devlin G(4) cũng ghi nhận tỷ lệ biến cố gộp  
(bao gồm tử vong do mọi nguyên nhân, nhồi  
máu cơ tim và đột qụy) thấp hơn có ý nghĩa ở  
nhóm được CTMVQD so với bệnh nhân được  
Chuyên Đề Nội Khoa  
27  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
điều trị nội khoa bảo tồn (17% so với 25%;  
p < 0,0001). Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi  
nhận tỷ lệ biến cố gộp (bao gồm tử vong do mọi  
nguyên nhân, tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ  
tim tái phát, đột quỵ não và xuất huyết nặng)  
thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm được CTMVQD  
(19,38% so với 32,33%; p < 0,001). Kết quả này  
một lần nữa cho thấy lợi ích của CTMVQD so  
với điều trị nội khoa đơn thuần trên bệnh nhân  
rất cao tuổi (≥ 80 tuổi) bị nhồi máu cơ tim cấp tại  
thời điểm 6 tháng.  
Nghiên cứu FRISC II(5) nhằm so sánh hiệu  
quả của chiến lược điều trị xâm lấn sớm với nội  
khoa bảo tồn trên bệnh nhân bị HCVC không ST  
chênh lên. Đây là một nghiên cứu tiền cứu ngẫu  
nhiên đa trung tâm tại 58 bệnh viện ở Bắc Âu với  
2.475 bệnh nhân (tuổi trung bình là 66). Kết quả  
cho thấy tại thời điểm 6 tháng, so với nhóm điều  
trị nội khoa bảo tồn, bệnh nhân được điều trị tái  
tưới máu xâm lấn giảm được tỷ lệ tử vong do  
mọi nguyên nhân (p = 0,10). Đây là nghiên cứu  
đầu tiên chứng minh hiệu quả của điều trị tái  
tưới máu xâm lấn so với nội khoa đơn thuần  
trong hội chứng vành cấp không ST chênh lên,  
tuy nhiên thiết kế nghiên cứu lại loại trừ những  
bệnh nhân > 75 tuổi(5).  
tuổi), nhưng cũng co thấy so với chiến lược điều  
trị nội khoa đơn thuần, CTMVQD làm giảm tỷ lệ  
tử vong tại thời điểm 6 tháng trên bệnh nhân  
HCVC không ST chênh lên với p < 0,05.  
Kết quả nghiên cứu của Devlin G(4) cho thấy  
nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị nội khoa đơn  
thuần có tỷ lệ đột quỵ não cao hơn nhóm được  
CTMVQD nhưng sự khác biệt này không có ý  
nghĩa (3,1% so với 2,2%; p = 0,24). Sự khác biệt  
này tương tự nghiên cứu của chúng tôi tại thời  
điểm 6 tháng (p > 0,05). Tỷ lệ xuất huyết nặng tại  
thời điểm 6 tháng trong nghiên cứu chúng tôi  
không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm  
điều trị nội khoa bảo tồn và CTMVQD, tương tự  
kết quả của tác giả Devlin(4).  
KẾT LUẬN  
Trong chiến lược điều trị nhồi máu cơ tim  
cấp trên bệnh nhân rất cao tuổi, can thiệp mạch  
vành qua da làm giảm được tỷ lệ tử vong nội  
viện (p=0,018) và tỷ lệ tử vong do tim mạch  
(p=0,002), nhồi máu cơ tim tái phát (p=0,001) tại  
thời điểm 6 tháng so với điều trị nội khoa bảo  
tồn đơn thuần.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Alexander KP, Newby LK, Armstrong PW, Cannon CP, Gibler -  
WB et al (2007). "Acute coronary care in the elderly, part II: ST-  
segment-elevation myocardial infarction: a scientific statement  
for healthcare professionals from the American Heart  
Association Council on Clinical Cardiology: in collaboration  
with the Society of Geriatric Cardiology". Circulation, 115 (19):  
2570-89.  
Trong nghiên cứu TACTICS-TIMI 18(3) nhằm  
so sánh biến cố tim mạch nặng của chiến lược  
điều trị xâm lấn sớm so với điều trị bảo tồn trên  
bệnh nhân bị HCVC không ST chênh lên có sử  
dụng thuốc ức chế thụ thể IIb/IIIa (tirofiban) tại  
thời điểm 30 ngày và 6 tháng. Tuổi trung bình  
của nghiên cứu này là 62. Trong một phân tích  
dưới nhóm của nghiên cứu TACTICS-TIMI 18  
cho thấy ở nhóm bệnh nhân ≥ 75 tuổi bị HCVC  
không ST chênh lên, so với điều trị nội khoa bảo  
tồn, CTMVQD làm giảm tỷ lệ tử vong do mọi  
nguyên nhân và nhồi máu cơ tim tại thời điểm 6  
tháng với p = 0,02. Điều này không thấy khi  
phân tích trên nhóm bệnh nhân trẻ hơn(3). Mặc  
dù dân số trong nghiên cứu FRISC II và  
TACTICS-TIMI 18 có tuổi trung bình nhỏ hơn  
nghiên cứu của chúng tôi (trung bình 62 – 66  
2. Amsterdam EA, Wenger NK, Brindis RG, Casey DE Jr, Ganiats  
TG et al (2014). "2014 AHA/ACC Guideline for the Management  
of Patients with Non-ST-Elevation Acute Coronary Syndromes:  
a report of the American College of Cardiology/American Heart  
Association Task Force on Practice Guidelines". J Am Coll  
Cardiol, 64 (24): e139-e228.  
3. Bach RG, Cannon CP, Weintraub WS, DiBattiste PM et al (2004).  
"The effect of routine, early invasive management on outcome  
for elderly patients with non-ST-segment elevation acute  
coronary syndromes". Ann Intern Med, 141 (3): 186-95.  
4. Devlin G, Gore JM, Elliott J, Wijesinghe  
N et al (2008).  
"Management and 6-month outcomes in elderly and very  
elderly patients with high-risk non-ST-elevation acute coronary  
syndromes: The Global Registry of Acute Coronary Events". Eur  
Heart J, 29 (10): 1275-82.  
5. FRISC II Investigators (1999)."Invasive compared with non-  
invasive treatment in unstable coronary-artery disease: FRISC II  
prospective randomised multicentre study. FRagmin and Fast  
Chuyên Đề Nội Khoa  
28  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Revascularisation during InStability in Coronary artery disease  
Investigators". Lancet, 354 (9180): 708-15.  
summary: a report of the American College of Cardiology  
Foundation/American Heart Association Task Force on Practice  
Guidelines". J Am Coll Cardiol, 61 (4): 485-510.  
6. Gierlotka M, Gąsior M, Tajstra M, Hawranek M, Osadnik T et al  
(2013). "Outcomes of invasive treatment in very elderly Polish  
patients with non-ST-segment-elevation myocardial infarction  
from 2003-2009 (from the PL-ACS registry)". Cardiol J, 20(1):34-  
43.  
12. Roffi M, Patrono C, Collet JP, Mueller C et al (2016). "2015 ESC  
Guidelines for the management of acute coronary syndromes in  
patients presenting without persistent ST-segment elevation:  
Task Force for the Management of Acute Coronary Syndromes  
in Patients Presenting without Persistent ST-Segment Elevation  
of the European Society of Cardiology (ESC)". Eur Heart J,  
37(3):267-315.  
7. Hicks KA, Tcheng JE, Bozkurt B, Chaitman BR et al (2015). "2014  
ACC/AHA Key Data Elements and Definitions for  
Cardiovascular Endpoint Events in Clinical Trials: A Report of  
the American College of Cardiology/American Heart  
Association Task Force on Clinical Data Standards (Writing  
Committee to Develop Cardiovascular Endpoints Data  
Standards)". J Am Coll Cardiol, 66 (4):403-69.  
13. Tegn N, Abdelnoor M, Aaberge L, Endresen K, Smith P et al  
(2016). "Invasive versus conservative strategy in patients aged  
80 years or older with non-ST-elevation myocardial infarction or  
unstable angina pectoris (After Eighty study): an open-label  
randomised controlled trial". Lancet, 387 (10023):1057-1065.  
14. Thygesen K, Alpert JS, Jaffe AS, Simoons ML et al (2012). "Third  
universal definition of myocardial infarction". Circulation,  
126(16): 2020-35.  
8. Kashima K, Ikeda D, Tanaka H, Yamashita E, Nagayoshi  
S, Yoshishige Y, Tanoue K, Nagano S, Nuruki N, Yoshinaga  
M, Sonoda M (2010). "Mid-term mortality of very elderly  
patients with acute myocardial infarction with or without  
coronary intervention". J Cardiol, 55 (3): 397-403.  
15. Yudi MB, Jones N, Fernando D, Clark DJ et al (2016).  
"Management of Patients Aged >/=85 Years With ST-Elevation  
Myocardial Infarction". Am J Cardiol, 118 (1): 44-8.  
9. Lee PY, Alexander KP, Hammill BG, Pasquali SK, Peterson ED  
et al (2001). "Representation of elderly persons and women in  
published randomized trials of acute coronary syndromes".  
Jama, 286 (6): 708-13.  
Ngày nhận bài báo:  
08/11/2018  
10/12/2018  
10. Mehta RH et al (2001). "Acute myocardial infarction in the  
elderly: differences by age". J Am Coll Cardiol, 38 (3): 736-41.  
11. O'Gara PT, Kushner FG, Ascheim DD, Casey DE Jr, Chung MK,  
de Lemos JA et al (2013). "2013 ACCF/AHA guideline for the  
management of ST-elevation myocardial infarction: executive  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
10/03/2019  
Chuyên Đề Nội Khoa  
29  
pdf 8 trang yennguyen 16140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu kết quả ngắn hạn của phương pháp can thiệp mạch vành qua da và nội khoa bảo tồn trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp trên bệnh nhân rất cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ket_qua_ngan_han_cua_phuong_phap_can_thiep_mach_v.pdf