Nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch máu não khi xuất viện tại Bệnh viện lão khoa Trung ương

Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
NHU CẦU CHĂM SÓC, PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA BỆNH  
NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO KHI XUẤT VIỆN TẠI  
BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG  
Ths. Nguyễn Thị Như Mai1, TS. Trần Thị Thanh Hương2  
1Trường Đại học Thăng Long, email: [email protected]m  
2Trường Đại học Y Hà Nội, email: [email protected]  
Tóm tắt: Tai biến mạch máu não là bệnh lý nặng nề và thuộc loại đa tàn tật. Hầu hết  
bệnh nhân dù xuất viện vẫn cần tiếp tục được chăm sóc và phục hồi chức năng tại cộng đồng.  
Nghiên cứu thực hiện trên 164 bệnh nhân tai biến mạch máu não của bệnh viện Lão khoa  
trung ương năm 2013 tại thời điểm xuất viện để đánh giá nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức  
năng của họ. Kết quả cho thấy có 92,7% bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc, trong đó nhu cầu  
nhiều nhất là cơ xương khớp (92,7%). Có 89,6% bệnh nhân có nhu cầu phục hồi chức năng  
trong đó nhóm nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày cao nhất (67,7%). Vì vậy, bệnh nhân và  
gia đình cần được hỗ trợ, hướng dẫn để bệnh nhân được chăm sóc và phục hồi chức năng tốt  
nhất khi trở về cộng đồng.  
Từ khóa: tai biến mạch máu não, chăm sóc, phục hồi chức năng.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nhiều năm qua, tai biến mạch máu não đã và đang là một thách thức lớn đối với nền y  
học thế giới cũng như Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 2002, tỷ lệ  
mắc tai biến mạch máu não hàng năm là 350/100000 dân và có xu hướng ngày càng tăng. Tại  
Việt Nam, tỷ lệ hiện mắc và mới mắc trung bình tương ứng là 116/100.000 dân và  
28,25/100.000 dân [3, 4]. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là ở nhóm  
người cao tuổi. Bệnh có tỉ lệ tử vong cao, nếu bệnh nhân qua được thì cũng để lại những di  
chứng nặng nề cho người bệnh như liệt nửa người, nói khó... [7, 10, 13]. Bệnh nhân cần được  
tiếp tục chăm sóc và phục hồi chức năng để giảm mức độ tàn phế và thương tật thứ cấp, nâng  
cao chất lượng cuộc sống, đặc biệt là những trường hợp xuất viện sớm do hoàn cảnh kinh tế,  
điều kiện gia đình... Bệnh viện Lão khoa trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về  
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Thống kê tại bệnh viện cho thấy, hơn 16% bệnh nhân nội  
trú là bệnh nhân tai biến mạch máu não. Những năm gần đây, mỗi năm bệnh viện điều trị cho  
hơn 1000 bệnh nhân mắc bệnh này [1, 2, 5]. Bệnh nhân xuất viện cần được đánh giá nhu cầu  
chăm sóc và phục hồi chức năng để được hỗ trợ tốt khi trở về cộng đồng. Do đó, chúng tôi  
tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của bệnh  
nhân tai biến mạch máu não khi xuất viện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu  
Bệnh nhân được chẩn đoán tai biến mạch máu não dựa vào phân loại bệnh tật quốc tế  
ICD10, điều trị nội trú tại bệnh viện Lão khoa Trung ương.  
* Tiêu chuẩn lựa chọn:  
Trường Đại học Thăng Long  
187  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
Bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, ra viện trong thời gian nghiên cứu, bao gồm  
các trường hợp được bác sỹ điều trị quyết định ra viện khi tình trạng bệnh ổn định hoặc bệnh  
nhân/gia đình xin ra viện vì điều kiện kinh tế, điều kiện gia đình...  
* Tiêu chuẩn loại trừ:  
Bệnh nhân chuyển viện khác.  
Bệnh nhân bị bệnh viện trả về hoặc gia đình xin về do bệnh quá nặng.  
Bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.  
2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: từ tháng 1/2013 đến tháng 11/2013 tại các khoa  
điều trị nội trú, Bệnh viện Lão khoa Trung ương.  
3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang  
4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu  
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức cho nghiên cứu cắt ngang  
Trong đó:  
n: Cꢀ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu  
Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, Z = 1,96.  
p: Tỷ lệ bệnh nhân TBMMN có nhu cầu phục hồi chức năng tại cộng đồng. Lấy p =  
0,556.  
d = 0,08 (sai số tuyệt đối cho phép)  
Áp dụng công thức ta tính được n = 149.  
Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn. Trên thực tế,  
chúng tôi đã thu thập số liệu được trên 164 bệnh nhân ra viện, đủ tiêu chuẩn cho nghiên cứu.  
5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu  
- Các điều tra viên là 03 giảng viên thuộc Bộ môn Điều dưꢀng trường Đại học Thăng  
Long.  
- Sử dụng phiếu đánh giá nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của bệnh nhân tai  
biến mạch máu não. Thu thập thông tin thông qua hồ sơ bệnh án, hỏi, khám bệnh nhân trong  
ngày bệnh nhân ra viện. Những trường hợp bệnh nhân không tỉnh táo hoặc không giao tiếp  
được thì khám trên bệnh nhân và hỏi thông tin từ người nhà (người chăm sóc bệnh nhân  
thường xuyên). Nội dung phiếu điều tra dựa trên các nội dung về nhu cầu chăm sóc và phục  
hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch máu não theo Tổ chức Y tế thế giới và theo hướng  
dẫn của Bộ Y tế. Cụ thể như sau:  
6 Theo Tác giả Lê Thị Thảo, tỉ lệ NB sau TBMMN tại cộng đồng quận Ba Đình phụ thuộc trong sinh  
hoạt hàng ngày là 54,9%  
Trường Đại học Thăng Long  
188  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
* Đánh giá nhu cầu chăm sóc: theo 7 nhóm nhu cầu, mỗi nhóm có các nội dung chi  
tiết. Bảy nhóm nhu cầu chăm sóc bao gồm: chăm sóc tư thế đúng, chăm sóc hô hấp, chăm sóc  
dinh dưꢀng, chăm sóc đại tiện, chăm sóc tiết niệu, chăm sóc và phòng chống loét, chăm sóc  
cơ xương khớp.  
- Mỗi nhóm nhu cầu, được đánh giá là có nhu cầu khi ít nhất một trong các nội dung  
chi tiết là “có nhu cầu”.  
- Với nhu cầu chăm sóc chung: Có nhu cầu chăm sóc khi có ít nhất 1 trong 7 nhóm  
nhu cầu trên.  
* Đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng:  
Có 14 nội dung, thuộc 3 nhóm nhu cầu: sinh hoạt hàng ngày, giao tiếp, vận động. Mỗi  
nội dung được đánh giá là không có hoặc có nhu cầu.  
- Xác định từng nhu cầu PHCN:  
Không có nhu cầu PHCN (Mức độ 0): Không cần trợ giúp  
Có nhu cầu PHCN mức độ 1: Cần trợ giúp một phần  
Có nhu cầu PHCN mức độ 2: Cần trợ giúp hoàn toàn  
- Xác định nhu cầu phục hồi chức năng chung:  
Có nhu cầu phục hồi chức năng: Khi ít nhất 1 trong 14 nội dung được xác định là  
có nhu cầu phục hồi chức năng  
Không có nhu cầu phục hồi chức năng: Không có bất kỳ nội dung nào trong 14 nội  
dung được xác nhận là có nhu cầu phục hồi chức năng.  
- Xác định nhu cầu phục hồi chức năng theo nhóm nhu cầu:  
Có nhu cầu phục hồi chức năng: Khi ít nhất 1 trong các nội dung thuộc nhóm nhu  
cầu đó được xác định là “có”.  
Không có nhu cầu phục hồi chức năng: Khi không có bất kỳ nội dung nào trong các  
nội dung thuộc nhóm nhu cầu đó được xác định là “có”.  
6. Phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và thực hiện các phân tích mô tả.  
7. Đạo đức nghiên cứu:  
Nghiên cứu sự cho phép của Ban Lãnh đạo Bệnh viện Lão khoa Trung ương và Hội  
đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng.  
Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích của  
nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu, không bị phân biệt đối xử khi từ chối tham  
gia nghiên cứu.  
III. KẾT QUẢ  
Tổng số bệnh nhân được điều tra là 164 người, chủ yếu là bệnh nhân trên 60 tuổi  
chiếm 87,8% và có 56,1% bệnh nhân là nam giới, 43,9% bệnh nhân là nữ giới; có 33,5% bệnh  
nhân bị tai biến mạch máu não lần 2 trở lên và 7,3% bệnh nhân không liệt.  
Trường Đại học Thăng Long  
189  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
Nhu cầu chăm sóc  
Bảng 1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm nhu cầu chăm sóc  
Nhóm nhu cầu chăm sóc Đánh giá nhu cầu  
Có (%) Không (%)  
56,1 43,1  
Chăm sóc tư thế đúng  
Chăm sóc hô hấp  
53,6  
36,0  
48,8  
18,9  
36,6  
92,7  
56,1  
46,4  
64,0  
51,2  
81,1  
63,4  
8,3  
Chăm sóc nuôi dưꢀng  
Chăm sóc loét và phòng loét  
Chăm sóc tiêu hóa: đại tiện  
Chăm sóc tiết niệu  
Chăm sóc cơ xương khớp  
Chăm sóc tư thế đúng  
43,1  
Bảng 1 cho thấy các bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp nhiều nhất  
(92,7%), ít nhất là nhu cầu chăm sóc về đại tiện (18,9%). Có 56,1% bệnh nhân cần chăm sóc  
tư thế đúng, 36% số bệnh nhân cần chăm sóc về mặt nuôi dưꢀng, 48,8% về loét và phòng  
chống loét, 36,6% về tiết niệu, 53,6% về hô hấp. Nhìn chung, có 92,7% bệnh nhân có nhu cầu  
chăm sóc tại thời điểm ra viện (Biểu đồ 1)  
7.3  
Có  
92.7  
Không có  
Biểu đồ 1: Phân bố nhu cầu chăm sóc chung  
Nhu cầu phục hồi chức năng  
Trường Đại học Thăng Long  
190  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
10.4  
Có  
Không  
89.6  
Biểu đồ 2: Phân bố nhu cầu phục hồi chức năng chung  
Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị tai biến mạch máu não vào thời điểm xuất viện  
có nhu cầu phục hồi chức năng chiếm đa số với 89,6%.  
Tỷ lệ %  
80  
70  
70.1  
55.5  
59.1  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
Sinh hoạt hàng ngày  
Giao tiếp  
Vận động  
Biểu đồ 3: Phân bố bệnh nhân theo nhóm nhu cầu phục hồi chức năng  
Biểu đồ 3 cho thấy trong các nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch  
máu não, nhóm nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày có tỉ lệ cao nhất bệnh nhân  
có nhu cầu (70,1%), tiếp đến là nhu cầu phục hồi chức năng về vận động (59,1%) và 55,5%  
bệnh nhân có nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp.  
Bảng 2: Phân loại nhu cầu trong nhóm nhu cầu về sinh hoạt hàng ngày  
Có nhu cầu (%)  
Không có  
nhu cầu (%)  
(Mức độ 0)  
Nhu cầu PHCN  
Tổng (%)  
Mức  
độ 1  
Mức  
độ 2  
Mức  
độ 3  
Cộng  
Ăn uống  
28,7  
20,1  
46,4  
32,3  
9,1  
40,9  
14  
37,8  
61,0  
60,4  
48,2  
62,2  
39,0  
39,6  
51,8  
100  
100  
100  
100  
Giữ mình sạch sẽ  
Sử dụng nhà vệ sinh  
Mặc, cởi quần áo  
15,9  
Trong nhóm các nhu cầu về hoạt động sinh hoạt hàng ngày, phần đông bệnh nhân đều  
có nhu cầu phục hồi chức năng về “Sử dụng nhà vệ sinh” và “Giữ mình sạch sẽ”.  
Trường Đại học Thăng Long  
191  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
Bảng 3: Phân loại nhu cầu trong nhóm nhu cầu về giao tiếp  
Có nhu cầu (%)  
Không có  
nhu cầu (%)  
(Mức độ 0)  
Tổng  
Nhu cầu PHCN  
Mức  
độ 1  
Mức  
độ 2  
Mức  
độ 3  
(%)  
Cộng  
Hiểu câu nói đơn giản  
Thể hiện nhu cầu  
0
2,4  
5,5  
2,4  
9,8  
97,6  
90,2  
100  
100  
4,3  
Hiểu các cử chỉ và dấu  
hiệu khi giao tiếp  
3,6  
4,3  
7,9  
92,1  
100  
Ra dấu hiệu mà những  
người khác hiểu  
0
9,8  
9,8  
90,2  
46,3  
100  
100  
Nói  
33,6  
20,1  
53,7  
Trong nhóm các nhu cầu về giao tiếp, nhu cầu phục hồi chức năng về nói cao nhất, có  
ở 53,7% bệnh nhân.  
Bảng 4: Phân loại nhu cầu trong nhóm nhu cầu về vận động  
Có nhu cầu (%)  
Không có  
nhu cầu (%)  
(Mức độ 0)  
Tổng  
Nhu cầu PHCN  
Mức  
độ 1  
Mức  
độ 2  
Mức  
độ 3  
(%)  
Cộng  
Ngồi  
50,6  
52,4  
3,0  
3,7  
53,7  
56,1  
46,4  
43,9  
100  
100  
Đứng  
Di chuyển được trong bệnh  
phòng  
37,2  
20,7  
57,9  
42,1  
100  
Đi bộ được ít nhất 10 bước  
Có đau lưng, đau khớp  
0
0
35,3  
27,4  
23,8  
1,2  
59,1  
28,7  
40,9  
71,3  
100  
100  
Tỉ lệ bệnh nhân có nhu cầu phục hồi chức năng trong các nội dung tương đương nhau  
nhưng mức độ tăng dần theo mức độ của vận động (ngồi, đứng, di chuyển trong phòng, đi  
bộ).  
IV. BÀN LUẬN  
1. Nhu cầu chăm sóc  
- Về phân bố nhóm nhu cầu chăm sóc: Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhu cầu  
chăm sóc tập trung vào nhóm chăm sóc về cơ xương khớp với 92,5% bệnh nhân có nhu cầu  
và ít nhất là nhóm các chăm sóc về đại tiện (18,9%). Các nhóm nhu cầu chăm sóc khác là: có  
Trường Đại học Thăng Long  
192  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
56,1% bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc tư thế đúng, 36% số bệnh nhân cần chăm sóc về mặt  
nuôi dưꢀng, 48,8% có nhu cầu chăm sóc loét hoặc phòng chống loét, 36,6% về tiết niệu,  
53,6% về hô hấp. Tỉ lệ bệnh nhân cần đáp ứng các nhóm nhu cầu chăm sóc trong nghiên cứu  
của chúng tôi đều thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm [12], chúng tôi  
cũng lí giải bằng giai đoạn bệnh ổn định hơn. Tuy nhiên, tỉ lệ bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc  
đường tiểu, bàng quang của tác giả này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi vì tiêu chuẩn đánh  
giá có nhu cầu chăm sóc tiết niệu của họ chỉ là bệnh nhân có đặt thông tiểu trong khi chúng  
tôi xét tất cả các bệnh nhân có nguy có nhiễm trùng tiết niệu hoặc rối loạn tiểu tiện.  
- Về nhu cầu chăm sóc chung:Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại bệnh viện Lão khoa  
Trung ương, có tới 92,7% số bệnh nhân tai biến mạch máu não vẫn có nhu cầu được chăm  
sóc. Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thắm năm 2012 tại bệnh viện  
đa khoa tỉnh Đắk Lắk và của tác giả Nguyễn Thị Huệ năm 2007 tại Khoa Thần Kinh bệnh  
viện Bạch Mai, đều với 100% bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc [8, 12]. Điều này giải thích bởi  
đối tượng trong các nghiên cứu trên là các bệnh nhân tai biến mạch máu não đang trong giai  
đoạn cấp, tình trạng còn nặng nên nhu cầu được chăm sóc cao hơn. Tỷ lệ bệnh nhân trong  
nghiên cứu của chúng tôi vẫn có nhu cầu chăm sóc khá cao tại thời điểm ra viện có thể, do  
đặc trưng của bệnh viện Lão khoa, tỉ lệ bệnh nhân cao tuổi nhiều hơn nên khả năng phục hồi  
cũng như tự chăm sóc kém hơn.  
2. Nhu cầu phục hồi chức năng  
- Về phân bố nhu cầu PHCN chung:Kết quả trong biểu đồ 3.3 cho thấy khi xuất viện,  
người bệnh bị tai biến mạch máu não có nhu cầu phục hồi chức năng chiếm 89,6%. Tỷ lệ  
người có nhu cầu phục hồi chức năng trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong nghiên  
cứu của Lê Thị Thảo tại quận Ba Đình năm 2003 (80,4%) [11]. Sự khác biệt này có thể do đối  
tượng nghiên cứu trong hai nghiên cứu này là bệnh nhân thuộc các giai đoạn khác nhau của  
tai biến mạch máu não. Nghiên cứu của chúng tôi chọn bệnh nhân xuất viện, đa số chuẩn bị  
cho giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng trong khi đó nghiên cứu của Lê Thị Thảo phần lớn là  
bệnh nhân đã tái hòa nhập cộng đồng từ một năm trở lên, họ không chỉ hồi phục tốt hơn mà  
còn thích nghi được nhiều hơn nên nhu cầu phục hồi chức năng cũng thấp hơn.  
- Về phân bố theo nhóm nhu cầu phục hồi chức năng: Trong số có nhu cầu phục hồi  
chức năng thì có tới 70,1% người bệnh có nhu cầu phục hồi chức năng trong sinh hoạt hàng  
ngày; 55,5% có nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp và 59,1% có nhu cầu phục hồi chức  
năng vận động. Sở dĩ số có nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày (Ăn, mặc, vệ  
sinh cá nhân…) cao nhất là bởi vì các hoạt động hàng ngày không chỉ cần sự di chuyển mà  
còn cần sự khéo léo của đôi tay. Ở cả 3 nhóm nhu cầu, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ  
có nhu cầu phục hồi chức năng đều cao hơn nhiều của Lê Thị Thảo tại quận Ba Đình (tương  
ứng là 37,2% , 29,4% và 53,9%) [11]. Như đã bàn luận ở phần trên, sự khác biệt này có thể do  
đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đa số là bệnh nhân mới được điều trị qua giai đoạn cấp  
của tai biến mạch máu não. So sánh về nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày trong  
nghiên cứu của chúng tôi với nghiên cứu của Trần Trọng Hải tại đồng bằng sông Hồng thì tỷ  
lệ này lại cao hơn rất nhiều (9,3%) [6]. Có sự khác biệt này là do Trần Trọng Hải nghiên cứu  
trên người khuyết tật nói chung, do nhiều nguyên nhân chứ không duy nhất do tai biến mạch  
máu não. Trong đó có tỷ lệ khá cao những đối tượng chỉ khiếm khuyết một chức năng (ví dụ  
như nghe, nhìn…) nên trong sinh hoạt hàng ngày nhu cầu cũng thấp hơn. So sánh với kết quả  
Trường Đại học Thăng Long  
193  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng tại bệnh viện Bạch Mai (2005) [9] thấy nhu cầu phục hồi chức  
năng vận động trong nghiên cứu trên cao hơn của chúng tôi rất nhiều (95,6%). Điều này được  
lý giải là do đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu trên có tới 84,4% là bệnh nhân tai biến  
mạch máu não giai đoạn sớm đang được điều trị tại bệnh viện Bạch Mai còn trong nghiên cứu  
của chúng tôi, hầu hết là bệnh nhân đã ổn định và xuất viện. Nhu cầu phục hồi chức năng vận  
động có vai trò rất quan trọng đối với người bị tai biến mạch máu não do những người này  
thường gặp thương tổn liệt nửa người. Điều này khiến họ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh  
hoạt và tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng vận động của  
bệnh nhân sớm sẽ giúp chúng ta có phác đồ tập luyện phù hợp nhất cho người bệnh.  
- Về phân loại nhu cầu chăm sóc theo từng nội dung trong các nhóm nhu cầu:  
Trong nhóm nội dung về sinh hoạt hàng ngày thì đều có tỉ lệ không nhỏ bệnh nhân có nhu cầu  
phục hồi chức năng. Các kết quả của chúng tôi cho thấy người bệnh cao tuổi bị tai biến mạch  
máu não dù tình trạng ổn định, được xuất viện, nhưng nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt  
còn khá cao, điều này sẽ khiến họ gặp nhiều khó khăn khi hòa nhập cộng đồng. Các kết quả  
trên cao hơn trong nghiên cứu của Lê Thị Thảo [11] cũng phản ánh thực tế là khi trở về cộng  
đồng, dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế, sự trợ giúp của những người xung quanh và sự  
tập luyện, thích nghi của bản thân, người bệnh đã giảm được nhu cầu trợ giúp. Kết quả của  
chúng tôi tương tự như nghiên cứu của Trần Trọng Hải là tỷ lệ nhu cầu trong sinh hoạt hàng  
ngày tăng dần theo các hoạt động như ăn uống, đánh răng, rửa mặt, mặc/cởi quần áo và sử  
dụng nhà vệ sinh [6]. Về nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp: Tỷ lệ bệnh nhân tai biến mạch  
máu não có nhu cầu nói chiếm cao nhất với 53,7%. Các nội dung khác đều có tỉ lệ thấp có nhu  
cầu phục hồi chức năng. Điều này cho thấy nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp không  
thường gặp bằng các nhu cầu khác. Tuy nhiên, nhu cầu ngôn ngữ lại là cản trở lớn trong sinh  
hoạt, lao động tại gia đình và xã hội, vì vậy vẫn cần chú ý phục hồi chức năng này cho bệnh  
nhân. Kết quả của chúng tôi cũng cao hơn trong nghiên cứu của Lê Thị Thảo tại Ba Đình  
[11], lý do như đã bàn luận ở phần trên. Về nhu cầu phục hồi chức năng vận động: Các nội  
dung về vận động đều có hơn 50% bệnh nhân có nhu cầu (trừ vấn đề đau). Điều này cho thấy,  
vận động là vấn đề lớn nhất của bệnh nhân tai biến mạch máu não ngay cả khi đã xuất viện.  
Tỷ lệ này cao hơn trong nghiên cứu của Lê Thị Thảo (2003) [11] rất nhiều. Do nghiên cứu  
trên tiến hành tại cộng đồng nên có nhiều mức độ liệt khác nhau còn nghiên cứu của chúng tôi  
thực hiện tại bệnh viện nên thường bệnh nhân có mức độ liệt cao hơn. Tuy nhiên các kết quả  
trên lại thấp hơn rất nhiều so với kết quả nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng tại bệnh viện Bạch  
Mai (2005) [9] do chúng tôi lựa chọn bệnh nhân đã qua giai đoạn cấp, ổn định được xuất viện.  
V. KẾT LUẬN  
Có 92,7% bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc, trong đó nhu cầu nhiều nhất là cơ xương  
khớp (92,7%). Có 89,6% bệnh nhân có nhu cầu phục hồi chức năng trong đó nhóm nhu cầu  
trong sinh hoạt hàng ngày cao nhất (67,7%).  
VI. KHUYẾN NGHỊ  
Cần đánh giá nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng vàcung cấp dịch vụ, tạo điều kiện  
để bệnh nhân tai biến mạch máu não dễ dàng tiếp cận với việc tập phục hồi chức năng và các  
chăm sóc khi về với cộng đồng  
Trường Đại học Thăng Long  
194  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
Cần hướng dẫn để bệnh nhân và người nhà thực hiện các bài tập phục hồi chức năng  
và chăm sóc có thể tại nhà.  
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bệnh viện Lão khoa trung ương (2010), Báo cáo năm 2010.  
[2]. Bệnh viện Lão khoa trung ương (2011), Báo cáo năm 2011.  
[3]. Trần văn Chương (2010), Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người do tai  
biến mạch máu não, Nhà xuất bản y học, 207.  
[4]. Nguyễn Văn Đăng (2000), Tai biến mạch máu não, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.  
[5]. Đào Hữu Đường (2003), Tìm hiểu tình hình bệnh nhân tai biến mạch máu não tại  
Viện Lão khoa Bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm từ 1998 đến 2002, Luận văn tốt nghiệp bác  
sỹ y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội.  
[6]. Trần Trọng Hải (2007), Nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ phục hồi chức  
năng cho người khuyết tật tại một số khu vực dân cư vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Đề  
tài nghiên cứu cấp cơ sở, Trường Đại học Y tế Công cộng.  
[7]. Hoàng Thị Hiền (2011), Bước đầu nghiên cứu sự phục hồi chức năng vận động  
của bệnh nhân liệt nửa người của bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp, Luận văn  
tốt nghiệp bác sỹ y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội.  
[8]. Nguyễn Thị Huệ (2007), Nghiên cứu nhu cầu và khả năng đáp ứng của công tác  
điều dưỡng - phục hồi chức năng cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu não giai đoạn sớm, Khóa  
luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Đại học Y Hà Nội.  
[9]. Đỗ Mạnh Hùng (2005), Tìm hiểu nhu cầu phục hồi chức năng ở bệnh nhân sau tai  
biến mạch máu não, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Đại học Y Hà Nội.  
[10]. Nguyễn Văn Lý (2005), Đánh giá mức độ thiếu sót thần kinh và nhu cầu phục  
hồi chức năng vận động của bệnh nhân tai biến mạch máu não, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ  
chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội.  
[11]. Lê Thị Thảo (2003), Nghiên cứu nhu cầu phục hồi chức năng và một số yếu tố  
liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh sau tai biến mạch  
máu não tại cộng đồng quận Ba Đình, năm 2003, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Đại học Y  
tế công cộng.  
[12]. Hoàng Ngọc Thắm (2012), Thực trạng nhu cầu và chăm sóc phục hồi chức năng  
cho người bệnh đột quị giai đoạn cấp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Dak lak năm 2013, Luận văn  
thạc sỹ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng.  
[13]. Nguyễn Văn Triệu (2005), Nghiên cứu thực trạng những người sau tai biến  
mạch máu não và các yếu tố liên quan đến phục hồi chức năng, tái hội nhập cộng đồng, Luận  
án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.  
CARE –REHABILITATION NEEDS OF DISCHARGED STROKE PATIENTS AT  
NATIONAL GERIATRIC HOSPITAL  
Nguyen Thi Nhu Mai1, Tran Thi Thanh Huong2  
1Thang Long University, email: [email protected]om  
2Ha Noi Medical University, email: [email protected]om  
Abstract: Stroke is a serious disease and causes multi-disability. Most discharged  
patients need continuos cares and rehabilitation at their community. The study was  
implemented on 164 stroke patients at National Geriatric hospital when they were discharged  
Trường Đại học Thăng Long  
195  
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II  
to assess their care-rehabilitation needs. The result showed that: 92,7% of the patients  
needed to be cared with musculoskeletal cares at most (92,7%); 89,6% of the patients needed  
to be rehabilitated with daily living activities rehabilitation at most (67,7%). So, patients  
should be helped to get best cares and rehabilitaion when they come back to their community.  
Keywords: stroke, care, rehabilitation.  
Trường Đại học Thăng Long  
196  
pdf 10 trang yennguyen 13420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch máu não khi xuất viện tại Bệnh viện lão khoa Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhu_cau_cham_soc_phuc_hoi_chuc_nang_cua_benh_nhan_tai_bien_m.pdf