Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trị rối loạn tâm thần tại khoa Lão – Tâm thần Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRỊ RỐI LOẠN TÂM THẦN  
TẠI KHOA LÃO – TÂM THẦN BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG  
Nguyễn Hữu Đức*, Võ Nguyên Khôi*, Nguyễn Thị Cẩm Tú**  
TÓM TẮT  
Mở đầu: Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới, rối loạn tâm thần (RLTT) chiếm 31% trong tổng thiệt hại do các bệnh  
thường gặp. Sử dụng thuốc an toàn hợp lý đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà điều trị tại bệnh viện  
Nguyễn tri Phương (BVNTP). Khoa Lão– Tâm Thần của bệnh viện hiện chưa xây dựng phác đồ chuẩn để điều  
trị RLTT. Vấn đề sử dụng thuốc tại đây rất cần khảo sát và đóng góp từ giới chuyên môn, trong đó có dược sĩ lâm  
sàng, nhằm đạt hiệu quả và an toàn.  
Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng các nhóm thuốc trị RLTT ở bệnh nhân nội trú, đưa ra nhận xét, đề  
xuất ý kiến để việc sử dụng thuốc được hợp lý, an toàn.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp hồi cứu. Đã khảo sát 382 hồ sơ  
bệnh án của Khoa Lão– Tâm Thần có chỉ định thuốc RLTT, từ 1/1/2009 – 30/6/2012.  
Kết quả: - Điều trị RLTT có 4 nhóm thuốc chính, ngoài ra có thêm các thuốc trị triệu chứng và thuốc bổ. Sử  
dụng nhiều nhất là nhóm chống loạn thần (42,89%), tiếp theo là nhóm chống trầm cảm (29,62%), chống lo âu  
(20,17%) và ổn định khí sắc (7,32%). - Phối hợp thuốc phổ biến là phối hợp luôn có Olanzapin (nhóm chống loạn  
thần không điển hình). - Tỷ lệ bệnh nhân giảm hoặc bớt bệnh chiếm 90,3%. Tác dụng phụ có xảy ra nhưng được  
kiểm soát tốt, đặc biệt xảy ra ở nhóm thuốc chống loạn thần điển hình.  
Kết luận: Khoa chưa có phác đồ riêng trị RLTT nhưng việc sử dụng thuốc có tuân thủ phác đồ và khuyến  
cáo của nước ngoài. Nhìn chung, việc sử dụng thuốc điều trị RLTT ở Khoa Lão – Tâm Thần, bệnh viện NTP qua  
khảo sát là tương đối an toàn, hợp lý và hiệu quả.  
Từ khóa: Thuốc trị rối loạn tâm thần, thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo âu,  
thuốc ổn định khí sắc.  
ABSTRACT  
INVESTIGATION OF DRUG USE FOR TREATING MENTAL DISORDERS  
IN GERIATRIC-PSYCHIATRIC DEPARTMENT OF NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL  
Nguyen Huu Duc, Vo Nguyen Khoi, Nguyen Thi Cam Tu  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 2 - 2014: 310 - 316  
Background: According to the World Health Organization, mental disorders accounts for 31% of the  
total damage caused by common diseases. Rational use of drugs has been major concern of hospital staff of  
Nguyen tri Phuong (NTP). Geriatric-Psychiatric department of the hospital has not set up guidelines for treating  
mental disorders. It is necessary to review the drug use in the department and collect comments from health  
professionals, especially that from clinical pharmacists to optimise the policy of drug use.  
Objectives: To review case records of mental disorders drug use on patients in the Geriatric-Psychiatric  
Department, NTP hospital from January 1 2009 to June 30 2012 to see appropriateness of medication use.  
Methods: A retroprospective method was applied to review 382 prescriptions utilising to treat mental  
∗ Khoa Dược, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh  
** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương  
ĐT: 0918276256 Email: tvduoc@yahoo.com  
Tác giả liên lạc: PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức  
310  
Chuyên Đề Dược Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
disorders to see appropriateness of medication use. Interviews of medical and pharmacy staff in the  
department were conducted regarding prescription and dispensing the drugs.  
Results: - Drugs used for treating mental disorder includes 4 groups. Mostly used drugs were  
antipsychotics (42.89%), followed by antidepressants (29.62%), anxiolytics (20.17%) and mood stabilizers  
(7.32%).- The combination therapy almost included olanzapin, an atypical antipsychotic. - The percentage  
of patients who reduced symptoms or removed disease accounted for 90.3%., ADR occurred but well  
controlled, especially when using typical antipsychotics.  
Conclusion: In general, through investigation the use of mental disorders drugs in the Geriatric –  
Psychiatric Department of NTP hospital is relatively reasonable, safe, economic and effective.  
Keywords: Mental disorder drug use, antipsychotics, antidepressants, anxiolytics, mood stabilizers.  
RLTT, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này.  
MỞ ĐẦU  
Mục tiêu nghiên cứu  
Rối loạn tâm thần (RLTT) là một bệnh  
Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc trị RLTT  
tại Khoa Lão – Tâm Thần BVNTP nhằm đánh  
giá, đóng góp ý kiến giúp cho việc sử dụng  
thuốc an toàn, hợp lý tại bệnh viện.  
chiếm tỉ lệ cao ở các nước phát triển. Theo báo  
cáo của Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), ước  
tính trên toàn thế giới tỷ lệ các RLTT chiếm  
12% dân số. Cũng theo WHO, trong tổng thiệt  
hại do các bệnh thường gặp RLTT chiếm 31%,  
xếp hàng thứ năm trong 10 nguyên nhân gây  
gánh nặng bệnh tật toàn cầu (1).. Ở Mỹ, điều  
tra cho thấy 46% dân số thường có đủ tiêu  
chuẩn cho việc chẩn đoán bị một RLTT tại một  
thời điểm nào đó. Một điều tra vào năm 2004  
tại 16 quốc gia châu Âu cho thấy khoảng 27%  
người lớn bị ảnh hưởng bởi RLTT ít nhất một  
lần trong khoảng thời gian 12 tháng(1). Ở Việt  
Nam, theo kết quả điều tra dịch tễ học của  
ngành Tâm thần vào năm 2000, tỷ lệ bị RLTT  
chiếm khoảng từ 10 - 15% dân số(2). Hiện nay  
có 4 nhóm thuốc chủ yếu được sử dụng để  
điều trị RLTT(3). Tuy nhiên, yêu cầu dùng  
thuốc đúng thường gây không ít lúng túng  
cho bác sĩ điều trị trong lựa chọn và phối hợp  
thuốc, rất dễ dẫn đến sử dụng thuốc sai. Bệnh  
viện Nguyễn Tri Phương (BVNTP) là bệnh  
viện đa khoa hạng I, bệnh viện duy nhất trong  
thành phố Hồ Chí Minh có Khoa Lão kết hợp  
với Tâm Thần, cho nên có điều trị các bệnh  
nhân RLTT kể cả người không phải là người  
già. Cho tới nay, bệnh viện vẫn chưa có đề tài  
khảo sát tính hiệu quả và an toàn trong sử  
dụng thuốc trị RLTT.  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Các hồ sơ bệnh án của Khoa Lão – Tâm  
Thần có chỉ định thuốc RLTT cho đối tượng từ  
45 tuổi trở lên, được lưu trữ tại phòng kế hoạch  
tổng hợp, BVNTP từ ngày 1/1/2009 đến ngày  
30/6/2012.  
Trong đề tài, chúng tôi đã khảo sát 382 mẫu  
hồ sơ bệnh án (áp dụng công thức chọn mẫu  
theo(3)) có chỉ định thuốc RLTT đáp ứng cho việc  
nghiên cứu.  
Phương pháp hồi cứu  
Tiến hành hồi cứu các hồ sơ bệnh án có sử  
dụng thuốc RLTT trong điều trị tại Khoa Lão –  
Tâm Thần.  
Lập phiếu thu thập thông tin để ghi chép lại  
hồ sơ bệnh án. Những chỉ tiêu khảo sát gồm: Đặc  
điểm mẫu nghiên cứu (giới tính, tuổi tác, bệnh lý  
kèm theo), việc sử dụng thuốc điều trị RLTT tại  
Khoa Lão – Tâm Thần (các nhóm thuốc chiếm  
ưu thế, các phối hợp thuốc, chỉ định khởi đầu,  
tương tác thuốc, theo dõi ADR) và hiệu quả điều  
trị. Những tiêu chí đánh giá gồm: Loại thuốc sử  
dụng có phù hợp (Chỉ định trong trường hợp  
nào, có đúng theo phác đồ điều trị, có theo dõi  
Với mong muốn góp phần tăng tính hiệu  
quả, an toàn hợp lý trong sử dụng thuốc điều trị  
311  
Chuyên Đề Dược Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
hiệu quả điều trị); Đường sử dụng, liều dùng,  
thời gian sử dụng có đúng không; Phối hợp  
thuốc có hợp lý không; Có xảy ra ADR. Từ kết  
quả khảo sát đề xuất các biện pháp nhằm cải  
thiện những thiếu sót nếu có.  
Khoa Lão tiếp nhận BN có độ tuổi từ 60 trở  
lên và do kết hợp với khoa Tâm Thần nên  
nhận mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, số BN dưới 45  
tuổi mắc bệnh RLTT chiếm tỷ lệ rất thấp,  
chúng tôi đã chọn lứa tuổi thấp nhất trong  
nghiên cứu là 45, và ghi nhận tuổi cao nhất là  
94 tuổi, trung bình: 57 ± 2 tuổi. Nhóm tuổi có  
tỷ lệ BN đông nhất là nhóm (45-55), nhóm tuổi  
ít nhất là nhóm (>85) (Bảng 2).  
Phương pháp phỏng vấn  
Phỏng vấn các bác sĩ điều trị để biết rõ vì sao  
có thực trạng sử dụng thuốc như khảo sát.  
KẾT QUẢ  
Bảng 2: Phân bố nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu  
(N=382)  
Đặc điểm bệnh nhân  
Tuꢂi  
Sꢀ lưꢁng  
Tꢂ lꢃ  
45ꢃ55  
55ꢃ65  
65ꢃ75  
75ꢃ85  
>85  
Giới tính  
155  
101  
58  
56  
12  
Qua khảo sát 382 bệnh án, chúng tôi ghi  
nhận tỷ lệ nữ mắc bệnh (70,7%) hơn 2,3 lần nam  
(29,3%) (Bảng 1).  
40,60% 26,4% 15,20% 14,70% 3.10%  
Tỷ lệ các bệnh kèm theo ngoài RLTT:  
Đối tượng nghiên cứu là những BN ở tuổi  
trung niên và già nên đa số BN mắc nhiều  
bệnh, chiếm tỷ lệ cao nhất là cao huyết áp  
(27,8%), tiếp theo là rối loạn lipid huyết  
(18,13%), bệnh dạ dày (7,99%), tiểu đường  
(5,94%)… (Hình 1).  
Bảng 1: Phân bố giới tính của mẫu nghiên cứu  
(N=382)  
Giꢀi tính  
Sꢀ lưꢁng  
Tꢂ lꢃ  
Nꢁ  
270  
Nam  
112  
Tꢂng  
382  
70,7%  
29,3%  
100%  
Tuổi  
30.00%  
25.00%  
20.00%  
15.00%  
10.00%  
5.00%  
Bệnh  
0.00%  
Cao Rối loạn Bệnh lý Tiểu  
Thiếu Bệnh lý Bệnh lý Bệnh lý Bệnh  
huyết áp lipid dạ dày đường máu cơ xương gan thận về phổi khác  
huyết  
tim cục khớp  
bộ  
Hình 1: Tỷ lệ các bệnh lý kèm theo ngoài RLTT  
Tỉ lệ các loại bệnh trong RLTT (5)  
Bảng 3: Tỉ lệ các loại bệnh trong RLTT  
Bꢄnh  
F00 Sa sút tâm thꢄn trong bꢃnh Alzheimer  
F01 Sa sút tâm thꢄn trong bꢃnh mꢅch máu  
F02 Sa sút tâm thꢄn trong các bꢃnh lý khác  
F03 Sa sút tâm thꢄn không xác đꢆnh  
Sꢅ lưꢆng  
Phꢇn trăm  
2,60%  
10  
7
1,80%  
1
0,30%  
9
2,40%  
312  
Chuyên Đề Dược Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
Bꢄnh  
F06 Rꢀi loꢅn tâm thꢄn khác do tꢇn thương, RL chꢈc năng não và do bꢃnh cơ thꢉ  
F10 Rꢀi loꢅn tâm thꢄn và hành vi do sꢊ dꢋng rưꢁu  
F13 Rꢀi loꢅn tâm thꢄn và hành vi do sꢊ dꢋng thuꢀc  
F20 Tâm thꢄn phân liꢃt  
Sꢅ lưꢆng  
Phꢇn trăm  
2,90%  
5,50%  
1,30%  
5,80%  
0,30%  
1,00%  
5,80%  
2,90%  
8,60%  
24.30%  
0,30%  
0,50%  
25,90%  
7,90%  
100,00%  
11  
21  
5
22  
1
F21 Rꢀi loꢅn kiꢉu phân liꢃt  
F22 Rꢀi loꢅn hoang tưꢌng  
4
F23 Rꢀi loꢅn loꢅn thꢄn cꢍp tính và thoáng qua  
F31 Rꢀi loꢅn cꢎm xúc lưꢏng cꢐc  
22  
11  
33  
93  
1
F32 Giai đoꢅn trꢄm cꢎm  
F41 Rꢀi lꢅn lo âu khác  
F42 Rꢀi loꢅn ám ꢎnhꢑcưꢏng chꢒ  
F43 Phꢎn ꢈng vꢓi stres trꢄm trꢔng và rꢀi loꢅn thích ꢈng  
F45 Rꢀi loꢅn dꢅng cơ thꢉ  
2
99  
30  
382  
F51 Rꢀi loꢅn giꢍc ngꢕ không do nguyên nhân thꢐc thꢉ.  
Tꢇng sꢀ  
thần phân liệt (TTPL), loạn thần cấp ngoài ra  
được chỉ định phối hợp với thuốc trầm cảm để  
trị rối loạn lo âu, rối loạn dạng cơ thể, trầm cảm  
hoăc bệnh lý thực thể có loạn thần. Nhóm ổn  
định sắc khí được chỉ định chủ yếu trong rối  
loạn cảm xúc lưỡng cực (Bảng 4).  
Theo ICD-10 (6), bệnh RLTT chiếm tỉ lệ cao  
nhất là rối loạn dạng cơ thể (25,9%). Tiếp theo là  
các bệnh: rối loạn lo âu khác (24,3%), giai đoạn  
trầm cảm (8,6%). Ở đây ta thấy bệnh sa sút tâm  
thần chiếm tỉ lệ thấp nhưng nếu xét trong nhóm  
đối tượng người già nó lại chiếm tỷ lệ cao.  
Bảng 4: Tỷ lệ các nhóm thuốc RLTT được chỉ định  
Tình hình sử dụng thuốc  
Nhóm thuꢅc  
Chꢀng loꢅn thꢄn  
Chꢀng trꢄm cꢎm  
Chꢀng lo âu  
Sꢅ lưꢆt dùng  
Tꢈ lꢄ  
42,89%  
29,62%  
20,17%  
7,32%  
Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc RLTT  
404  
279  
190  
69  
Có 4 nhóm thuốc được dùng chủ yếu. Nhóm  
thuốc được sử dụng nhiều nhất là thuốc chống  
loạn thần (CLT) (42,89%) , thấp nhất là nhóm ổn  
định khí sắc (7,32%). Nhóm CLT dùng cho đa số  
các bệnh lý tâm thần, trước tiên là bệnh tâm  
ꢖn đꢆnh khí sꢗc  
Tꢇng cꢘng  
942  
100,00%  
Tỷ lệ sử dụng các thuốc RLTT  
Hình 2: Tỷ lệ các thuốc trị RLTT được sử dụng nhiều  
313  
Chuyên Đề Dược Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
do rượu… và dùng trong những ngày đầu khi  
BN mất ngủ. Propranolol dùng để làm giảm các  
triệu chứng bứt rứt, bồn chồn, đứng ngồi không  
yên (akathisia) thường do thuốc RLTT gây ra.  
Thuốc dùng nhiều nhất là thuốc Olanzapin  
(17,16%), tiếp đó là Diazepam (10,52%),  
Propranolol  
(8,65%),  
Fluoxetin  
(6,09%)...  
Diazepam dùng để giảm nhanh các triệu chứng  
cấp tính như cơn hoảng loạn, loạn thần cấp, sảng  
Tỷ lệ sử dụng các thuốc thuộc thế hệ khác nhau trong cùng nhóm  
Bảng 5: Tỷ lệ sử dụng các thuốc thế hệ khác nhau trong cùng nhóm  
Nhóm thuꢅc  
Sꢅ lưꢆt dùng  
Tꢈ lꢄ  
76,5%  
23,5%  
74,2%  
25,8%  
Chꢀng loꢅn thꢄn  
Trꢄm cꢎm  
Thꢒ hꢃ 2 (không điꢉn hình)  
Thꢒ hꢃ 1 (điꢉn hình)  
SSRI  
309  
95  
207  
72  
Các nhóm khác  
dùng SSRI (Serotonine selective reuptake  
inhibitors) chiếm đa số (74,2%) hơn 3 lần so với  
tổng các thuốc thuộc các nhóm khác (25,8%).  
Tuy nhiên các thuốc không phải SSRI dùng hiệu  
quả trong trường hợp bệnh nặng, thời gian tác  
động nhanh và giá thành thường rẻ hơn.  
Trong nhóm thuốc CLT, thuốc thế hệ 2 tức  
thuốc không điển hình chiếm tỉ lệ cao (76,5%)  
gấp hơn 3 lần thuốc thế hệ 1 (23,5%). Thế hệ 1  
chủ yếu dùng trong tâm thần phần liệt dạng  
nặng không đáp ứng với thuốc thế hệ 2 và trong  
trường hợp cấp phải dùng dạng tiêm.  
Trong nhóm thuốc chống trầm cảm, tỷ lệ  
Tỷ lệ phối hợp thuốc trị RLTT  
35.00%  
30.00%  
25.00%  
20.00%  
15.00%  
10.00%  
5.00%  
tổng số thuốc  
0.00%  
1 thuốc 2 thuốc 3 thuốc 4 thuốc 5 thuốc 6 thuốc 7 thuốc  
Hình 3: Phối hợp thuốc được kê toa trong điều trị RLTT.  
Haloperidol dạng tiêm.  
Tỷ lệ phối hợp thuốc trị RLTT chiếm tỉ lệ cao  
lần lượt là phối hợp 4 thuốc (33,2%), phối hợp 3  
thuốc (29,3%).  
Tỷ lệ dùng đường cho thuốc trị RLTT  
Bảng 6: Tỷ lệ dùng đường cho thuốc RLTT.  
Tỷ lệ thấp là dùng 1 thuốc (2,6%) và phối  
hợp 7 thuốc (1%).  
Đưꢉng dùng  
Đưꢙng uꢀng (PO)  
Đưꢙng tiêm  
Sꢅ lưꢆt dùng  
Tꢈ lꢄ  
97,03%  
2,97%  
1405  
43  
Về cơ bản, BN được điều trị khởi đầu bằng  
phối hợp hai thuốc, ít khi dùng một thuốc. Nếu  
cần, dùng thêm một thuốc trị triệu chứng bệnh,  
hoặc BN có các triệu chứng cấp tính thì dùng  
thêm các thuốc tác động nhanh như Diazepam,  
Tꢇng sꢀ  
1448  
100,00%  
Đa số các thuốc trị RLTT đều dùng dạng  
uống (97,03%), dạng tiêm dùng ít (2,97%).  
314  
Chuyên Đề Dược Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
Dạng thuốc tiêm được dùng khi cần tác  
dụng nhanh để trị triệu chứng cấp tính (BZD,  
một số thuốc CLT thế hệ 1). Hai thuốc dùng  
dạng tiêm phổ biến là Diazepam và  
Haloperidol để điều trị các triệu chứng như  
loạn thần, mê sảng có cơn gây hấn, ngộ độc  
thuốc thần kinh… Ngoài ra, vitamin B1 dạng  
tiêm để dùng trị sảng rượu.  
Bảng 8: Tỷ lệ chẩn đoán nhầm bệnh  
Chꢊn đoán  
Giꢊ nguyên  
Thay đꢇi  
Sꢅ lưꢆng  
335  
Tꢈ lꢄ  
87,7%  
12,3%  
100,0%  
47  
Tꢇng cꢘng  
382  
Tỷ lệ chẩn đoán nhầm cao nhất là bệnh rối  
loạn cảm xúc lưỡng cực (36.36%), kế tiếp lần lượt  
là các bệnh rối loạn dạng cơ thể (17.17%), rối  
loạn lo âu (13.98%)  
.
Tỷ lệ thay thuốc cùng nhóm trong quá trình  
điều trị.  
Kết quả điều trị  
Tỷ lệ giảm hoặc bớt bệnh chiếm tỷ lệ cao:  
90.3%, tỷ lệ bệnh không thay đổi hoặc nặng  
thêm: 9,7%.  
Việc thay thuốc thường là thay các thuốc  
trong cùng một nhóm khi không đạt hiệu quả  
điều trị hoặc xảy ra ADR gây khó chịu cho BN.  
Như thay thuốc trong nhóm SSRI với nhau, hoặc  
thay Clozapin cho Olanzapin. Từ 382 bệnh án,  
chúng tôi thống kê được tỉ lệ thay thuốc cùng  
nhóm như sau (Bảng 7.)  
Bảng 9: Kết quả điều trị  
Kꢋt quꢌ điꢍu trꢎ  
Giꢎm hoꢚc bꢓt bꢃnh  
Sꢅ lưꢆng  
345  
Tꢈ lꢄ  
90,3%  
9,70%  
Không thay đꢇi hoꢚc nꢚng thêm  
37  
Tꢇng sꢀ  
382  
100,0%  
Bảng 7: Tỷ lệ thay thuốc cùng nhóm trong quá trình  
điều trị  
ADR  
Thay thuꢅc  
Không  
Sꢅ lưꢆt  
336  
Tꢈ lꢄ  
88%  
Qua khảo sát và tham khảo ý kiến của bác sĩ,  
chúng tôi ghi nhận có các ADR hay gặp: Rối loạn  
giấc ngủ; Táo bón hoặc tiêu chảy, khô miệng, hồi  
hộp; Nghẹt mũi; Tiết sữa; Triệu chứng ngoại  
tháp; Hạ huyết áp tư thế (chóng mặt, say sẩm).  
Có  
46  
12%  
Tꢇng sꢀ  
382  
100%  
Thời gian điều trị  
Thời gian nằm viện ngắn nhất: 1 ngày, thời  
gian nằm viện lâu nhất: 42 ngày, trung bình:  
10.07± 0.63 ngày.  
Đây là các ADR đã được báo cáo ở các nhóm  
thuốc hướng thần hay xảy ra, cho nên các các bác  
sĩ chỉ tư vấn và cho hướng xử trí chứ không báo  
cáo ADR.  
Đa số BN có thời gian nằm viện thường: 8-9  
ngày. Khi tình trạng bệnh đã ổn định bác sĩ sẽ  
cho xuất viện để điều trị duy trì tại nhà. Một số  
xin về sớm, đa số họ là nam lao động chính trong  
gia đình. Đối với các BN quá cao tuổi (>80) và  
mắc nhiều bệnh thường gia đình xin về nhà tiện  
chăm sóc.  
KẾT LUẬN  
Qua khảo sát, chúng tôi đã ghi nhận các đặc  
điểm của mẫu nghiên cứu như giới tính, tuổi, các  
bệnh lý kèm theo, các loại RLTT… Chúng tôi ghi  
nhận chủ yếu có 4 nhóm thuốc trị RLTT được sử  
dụng và nhận thấy thuốc thuộc thế hệ mới hơn  
(CLT không điển hình, chống trầm cảm SSRI…)  
được dùng nhiều hơn. Tùy điều kiện và tình  
trạng bệnh, phối hợi thuốc, thay thế thuốc và  
dạng thuốc uống hoặc tiêm được dùng phù hợp.  
Khoa chưa có phác đồ riêng trị RLTT nhưng việc  
sử dụng thuốc có tuân thủ phác đồ và khuyến  
cáo của nước ngoài. Khi thấy các triệu chứng đã  
giảm, bác sĩ thường cho xuất viện để điều trị duy  
trì và tỉ lệ đỡ, khỏi bệnh chiếm tỷ lệ cao (90,3%).  
Tỷ lệ chẩn đoán nhầm bệnh  
Việc chẩn đoán RLTT có khác so với việc  
chẩn đoán các bệnh khác, mang tính định tính  
do chỉ dựa vào thang đánh giá bệnh như dựa  
vào bảng phân loại và chẩn đoán bệnh tâm thần  
của Hiệp hội tâm thần Mỹ (DSM-IV). Do đó việc  
chẩn đoán nhầm thường xảy ra ở giới hạn cho  
phép. Trong khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ chẩn  
đoán nhầm là 12,3% (Bảng 8).  
315  
Chuyên Đề Dược Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 2 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
4.  
5.  
6.  
Đào Trần Thái (2005), Tâm thần học, NXB Y Học, Hồ Chí  
Minh, 1-250.  
Nhìn chung, việc sử dụng thuốc trị RLTT tại  
khoa Khoa Lão – Tâm Thần BVNTP là tương  
đối hợp lý, an toàn và hiệu quả.  
Lê Ngọc Trọng (2001), Bảng phân loại quốc tế bệnh tật Việt-Anh,  
NXB Y Học, 183-277.  
WHO World Mental Health Survey Consortium (2004),  
“Prevalence, severity, and unmet need for treatment of mental  
disorders in the World Health Organization World Mental  
Health Surveys”. JAMA, 291(21):2581-2590.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Alonso J. (2004), "Prevalence of mental disorders in Europe:  
results from the European Study of the Epidemiology of  
Mental Disorders project". Acta Psychiatr Scand Suppl, 109  
(420):7-21.  
Ngày nhận bài báo:  
14.12.2012  
2.  
3.  
Bùi Đức Trình (2008), Bài giảng tâm thần học, NXB Y học, Thái  
Nguyên, 220.  
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17.1.2012  
Ngày bài báo được đăng: 10.03.2014  
Đặng văn Giáp, Đỗ Quang Dương (2010), Tài liệu phân tích  
thống kê và quản lý dữ liệu, Bộ môn Công nghệ Thông tin Dược,  
Khoa Dược, Đại học Y Dược TPHCM  
316  
Chuyên Đề Dược Học  
pdf 7 trang yennguyen 17240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trị rối loạn tâm thần tại khoa Lão – Tâm thần Bệnh viện Nguyễn Tri Phương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tinh_hinh_su_dung_thuoc_tri_roi_loan_tam_than_tai_k.pdf