Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh động kinh ở người lớn tuổi

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
ĐẶCĐIỂMLÂM SÀNG, CẬNLÂM SÀNG  
VÀ ĐIỀUTRỊ BỆNH ĐỘNG KINH Ở NGƯỜILỚNTUỔI  
Vũ Anh Nhị*, Trần Thị Mai Thy**  
TÓM TẮT  
Mở đầu: Trong các bệnh thần kinh ở người lớn tuổi, động kinh (ĐK) là bệnh đứng hàng thứ ba, sau đột  
quỵ và sa sút trí tuệ (SSTT). Tuy nhiên, công việc chẩn đoán bệnh ĐK ở người lớn tuổi không đơn giản, thể hiện  
ở tỉ lệ bỏ sót chẩn đoán là khá cao. Chẩn đoán muộn sẽ làm chậm trễ cơ hội được điều trị của bệnh nhân. Bên  
cạnh đó, công việc điều trị bệnh ĐK ở bệnh nhân lớn tuổi cũng gặp nhiều khó khăn vì thường người lớn tuổi có  
nhiều bệnh đi kèm, đòi hỏi điều trị nhiều thuốc nên dễ có sự tương tác thuốc và dễ xuất hiện tác dụng phụ.  
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và hình ảnh học, xác định tỉ lệ nguyên  
nhân, nhận xét về điều trị bệnh động kinh ở người lớn tuổi.  
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca, hồi cứu 300 bệnh nhân trên 60 tuổi được chẩn đoán ĐK lúc  
ra viện theo tiêu chuẩn của hiệp hội quốc tế chống động kinh 2005 tại Bệnh viện nhân dân 115 từ 01/01/2010  
đến 30/06/2013. Các biến số thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê Stata 12.0.  
Kết quả: Tổng số 300 bệnh nhân, tuổi trung bình là 72 ± 8,1; nam chiếm 53% (n = 159). Động kinh cục bộ  
toàn thể hóa chiếm tỉ lệ cao nhất (n = 175, 58,3%). Phóng điện dạng động kinh chiếm 22% (n = 66). Bất thường  
hình ảnh học thường gặp nhất là nhồi máu não (n = 155, 65,1%). Nguyên nhân động kinh thường gặp nhất là  
tai biến mạch máu não (n = 178, 59,3%). Đơn trị liệu chiếm 91% (n = 273).  
Kết luận: Động kinh cục bộ toàn thể hóa chiếm tỉ lệ cao nhất. Phóng điện dạng động kinh chiếm tỉ lệ không  
cao. Bất thường hình ảnh học thường gặp nhất là nhồi máu não. Nguyên nhân thường gặp nhất là các loại tai  
biến mạch máu não. Đa số bệnh nhân được điều trị đơn trị liệu.  
Từ khóa: Đặc điểm lâm sàng, đặc điểm cận lâm sàng, điều trị, động kinh, người lớn tuổi.  
ABSTRACT  
CLINICAL MANIFESTATIONS, DIAGNOSTIC STUDIES  
AND TREATMENT OF EPILEPSY IN THE ELDERLY  
Vu Anh Nhi, Tran Thi Mai Thy  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 516 ‐ 520  
Background: Epilepsy is the third most common neurological disorder after dementia and stroke. In the  
elderly, epilepsy can be difficult to diagnose. Delay in the diagnosis can lead to delay in the treatment of epilepsy.  
Concomitant diseases are highly prevalent in the elderly so elderly has a greater sensitivity to adverse effects and  
drug interactions.  
Objective: The aim of this study was to describe clinical manifestations, EEG, imaging studies, cause of  
epilepsy and treatment of epilepsy in the elderly.  
Methods: The case series study was performed evaluations in 300 patients with epilepsy older than 60 years  
in People’s Hospital 115 from 01/01/2010 to 30/06/2013 (the epilepsy diagnosis was set based on the criteria of  
International League against Epilepsy 2005). Statistical analysis is done with the software Stata 12.0 for window.  
Results: 300 patients could be studied, mean age is 72±8.1; male ratio is 53%. Secondarily generalized  
* Bộ môn Thần Kinh, ĐH Y Dược TP.HCM  
** Bệnh viện Nhân Dân 115  
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Trần Thị Mai Thy ĐT: 0966925349 Email: thytranthimai@gmail.com  
516  
Chuyên Đề Nội Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
seizures (n = 175, 58.3%) were most frequent. Interictal EEG revealed epileptiform discharges in 22% (n = 66)  
patients. Ischemic stroke (n = 155, 65.1%) was most frequent on imaging study. Stroke is the most common cause  
of epilepsy in the elderly (n = 178, 59.3%). 273 patients (91%) were on antiepileptic monotherapy.  
Conclusion: Secondarily generalized seizures were most frequent. The rate of epileptiform discharges was  
not high. Ischemic stroke was most frequent on imaging study. Stroke is the most common cause of epilepsy  
in the elderly. Most patients were on antiepileptic monotherapy.  
Keywords: clinical manifestations, diagnostic study, treatment, epilepsy, elderly.  
tuổi, giới, các tiền căn, lý do nhập viện, chẩn  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
đoán ban đầu, tiền triệu, phân loại cơn động  
Người lớn tuổi là nhóm dân số tăng nhanh  
kinh, thời gian từ lúc bệnh đến lúc được chẩn  
nhất trong dân số chung. Trong các bệnh thần  
đoán, lý do co giật tái phát, trạng thái động kinh,  
kinh ở người lớn tuổi, động kinh (ĐK) là bệnh  
nguyên nhân động kinh. các cận lâm sàng  
đứng hàng thứ ba, sau đột quỵ và sa sút trí tuệ  
thường quy, điện não đồ, hình ảnh học, loại  
(13)  
(SSTT) . Tuy nhiên, công việc chẩn đoán bệnh  
thuốc chống động kinh, liều lượng thuốc chống  
động kinh.  
ĐK ở người lớn tuổi không đơn giản. Chẩn đoán  
muộn sẽ làm chậm trễ cơ hội được điều trị của  
Các dữ liệu thu thập được ghi trong bệnh án  
bệnh nhân. Hơn thế nữa, công việc điều trị bệnh  
nghiên cứu, sau đó nhập liệu và xử lý bằng phần  
ĐK ở người lớn tuổi cũng có những nét rất riêng  
mềm thống kê Stata 12.0. Các biến số định tính  
và phức tạp. Chính vì số lượng người lớn tuổi  
được phân tích bằng phép kiểm chi bình  
ngày càng nhiều, tỉ lệ bệnh ĐK ở người lớn tuổi  
phương, các biến số định lượng được phân tích  
cao và có nhiều điểm đặc biệt nên bệnh ĐK ở  
bằng phép kiểm t.  
người lớn tuổi ngày càng là vấn đề sức khỏe cần  
KẾT QUẢ  
được quan tâm và cần có nghiên cứu riêng cho  
nhóm đối tượng này. Trên thế giới, đã có nhiều  
nghiên cứu về ĐK ở người lớn tuổi. Tuy nhiên,  
tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên  
biệt về bệnh ĐK ở nhóm đối tượng này. Từ  
những phân tích trên, chúng tôi thực hiện đề tài  
nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng  
và điều trị ĐK ở người lớn tuổi” với các mục tiêu  
sau: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, điện não đồ  
và hình ảnh học, xác định tỉ lệ nguyên nhân,  
nhận xét về điều trị bệnh động kinh ở người lớn  
tuổi.  
Mẫu nghiên cứu 300 bệnh nhân, trong đó có  
159 nam chiếm 53%, tuổi trung bình 72,49 ± 8,1,  
trong đó bệnh nhân nhỏ nhất 60 tuổi, lớn nhất  
95 tuổi. Có 62% bệnh nhân ở ngoại thành. Bệnh  
nhân mới được chẩn đoán động kinh chiếm  
74%, bệnh nhân đã được chẩn đoán động kinh  
chiếm 26%. Tuổi khởi phát động kinh trung bình  
68,14 ± 8. Tiền căn tai biến mạch máu não chiếm  
67,66%, tiền căn tăng huyết áp chiếm 67,33%,  
tiền căn rối loạn lipid máu chiếm 51%. Thời gian  
từ lúc bị nhồi máu não đến lúc bị động kinh  
trung bình 18 tháng, thời gian từ lúc bị xuất  
huyết máu não đến lúc bị động kinh trung bình  
19,5 tháng, thời gian từ lúc bị chấn thương sọ  
não đến lúc bị động kinh trung bình 36 tháng.  
Lý do nhập viện là co giật chiếm 83,33%. Chẩn  
đoán ban đầu chưa chính xác chiếm 25%. Chẩn  
đoán ban đầu là rối loạn ý thức chiếm 28,95%.  
Chỉ có 5% bệnh nhân động kinh có tiền triệu.  
Cơn cục bộ toàn thể hóa chiếm tỉ lệ cao nhất  
58,33%. Thời gian một cơn ĐK trung bình:  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Dân số mục tiêu gồm những bệnh nhân lớn  
tuổi được chẩn đoán động kinh. Dân số chọn  
mẫu gồm tất cả bệnh nhân trên 60 tuổi được  
chẩn đoán động kinh lúc ra viện (theo định  
nghĩa động kinh của Hiệp hội quốc tế chống  
động kinh 2005) tại Bệnh viện Nhân Dân 115 từ  
01/01/2010 – 30/06/2013. Nghiên cứu mô tả hàng  
loạt ca, hồi cứu. Các biến số thu thập bao gồm  
các dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị như:  
517  
Thần Kinh  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
3,01±1,58 phút. Thời gian phục hồi tri giác sau  
cơn trung bình: 10 phút, dài nhất 3 ngày. Lý do  
co giật tái phát đa số do không tuân thủ điều trị  
(51%). Chỉ có 2% bệnh nhân bị trạng thái động  
kinh. Phóng điện dạng động kinh trên điện não  
đồ chiếm tỉ lệ 22%.  
Rối loạn ý thức là chẩn đoán ban đầu  
thường gặp nhất ở BN ĐK lớn tuổi (28,95%).  
Điều này cũng tương tự trong nghiên cứu  
VACS # 428 với tỉ lệ chẩn đoán rối loạn ý thức  
(6)  
khá cao (41,8%) . Các chẩn đoán khác bao  
gồm ngất, cơn thoáng thiếu máu não, choáng  
váng trong hai nghiên cứu cũng có tỉ lệ tương  
tự. Như vậy đối với các trường hợp BN lớn  
tuổi nhập viện vì rối loạn ý thức cần phải lưu ý  
để loại trừ động kinh.  
So sánh tỉ lệ có phóng điện dạng động kinh  
giữa 2 nhóm đo điện não đồ trong vòng 24h và  
sau 24h.  
Đo EEG trong vòng 24 giờ  
Tổng cộng  
Có  
Không  
Đa số BN không có tiền triệu. Điều này cũng  
tương tự trong nghiên cứu của tác giả  
21 (22,34%) 14 (12,39%) 35 (16,9%)  
73 (77,66%) 99 (87,61%) 172 (83,1%)  
Có  
PĐDĐK  
Không  
(12)  
Tinuper .  
94 (100%)  
113 (100%) 207 (100%)  
Tổng cộng  
Động kinh cục bộ toàn thể hóa là loại cơn  
thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng  
tôi. Và xét trên tổng số các trường hợp, cơn động  
kinh cục bộ (cục bộ đơn giản, cục bộ phức tạp và  
động kinh cục bộ toàn thể hóa) là loại cơn  
thường gặp nhất. Điều này phù hợp với kết quả  
Nhận xét : Có sự khác biệt về tỉ lệ PĐDĐK giữa 2 nhóm  
đo trong vòng 24 giờ và sau 24 giờ (χ2=3,62, p<0,05)  
Bất thường trên hình ảnh học chiếm 87%.  
Nhồi máu não chiếm 65,13% trên hình ảnh  
học. Nguyên nhân động kinh do tai biến mạch  
máu não chiếm 59,33%. Bệnh nhân có 3 bệnh  
lý đi kèm chiếm tỉ lệ cao nhất 32%. Trong đó  
THA chiếm tỉ lệ cao nhất 67,33%. Thuốc chống  
động kinh được sử dụng nhiều nhất là  
Valproic acid 57,33%. Có 8% trường hợp phải  
điều trị phối hợp thuốc. Thời gian nằm viện  
trung bình 7,36 ngày.  
(9)  
của tác giả Tabatabaei với cơn động kinh cục  
bộ toàn thể hóa chiếm tỉ lệ cao nhất là 24%.  
Trong hai nghiên cứu ở Việt Nam, loại cơn cục  
(3,8)  
bộ đơn giản là cơn thường gặp nhất . Tuy  
(4)  
nhiên, trong nghiên cứu của các tác giả Hauser  
(6)  
và Ramsay , ta thấy cơn động kinh cục bộ phức  
tạp là cơn thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ tương  
ứng là 48,,6% và 38,3%, cũng như trong nghiên  
BÀN LUẬN  
(10)  
cứu của tác giả Tanaka tỉ lệ này là 47,1% . Sự  
TBMMN là bệnh thường gặp nhất trong tiền  
căn BN ĐK, chiếm khoảng 2/3 số trường hợp.  
Trong đó NMN cũ gặp nhiều hơn XHN cũ. Điều  
này cũng giải thích một phần trong nguyên  
nhân bệnh động kinh ở người lớn tuổi đa số là  
TBMMN cũ.  
khác biệt này có thể do nghiên cứu của chúng tôi  
lấy mẫu tại bệnh viện, đa số các trường hợp  
nhập viện vì co giật. Các lý do nhập viện không  
điển hình khác chỉ chiếm một tỉ lệ thấp (các  
trường hợp này thường khám tại phòng khám  
thần kinh hoặc các chuyên khoa tâm thần, hiếm  
khi phải đưa bệnh nhân đến nhập viện).  
Điểm cần lưu ý là tỉ lệ bệnh THA trong tiền  
căn bệnh cũng rất cao, 67,33%. Điều này cũng  
Đối với các BN động kinh đã được điều trị,  
hơn 50% các trường hợp co giật lại là do tuân  
thủ điều trị kém, điều này cũng được ghi nhận  
trong nghiên cứu của tác giả Đặng Tiến Hải‐  
(6)  
tương tự kết quả của tác giả Ramsay , tỉ lệ bệnh  
THA đi kèm là 64%.  
Tần số mắc bệnh ĐK cao nhất rơi vào thời  
điểm trong vòng 1 năm sau TBMMN (chiếm tỉ lệ  
44,8%). Điều này cũng tương tự trong nghiên  
(3)  
Nguyễn Văn Chương .  
Trạng thái động kinh chỉ chiếm tỉ lệ 2,33%,  
con số này thấp hơn trong các nghiên cứu của  
(1)  
cứu của tác giả Adelow cho thấy có đến 49.57%  
số BN NMN xuất hiện bệnh ĐK trong vòng 1  
năm đầu và nguy cơ bệnh ĐK vẫn còn ít nhất  
trong vòng 7 năm.  
(9)  
(11)  
tác giả Tabatabaei và tác giả Tchalla . Tỉ lệ  
này thấp có thể vẫn chưa phản ánh đúng thực tế  
518  
Chuyên Đề Nội Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
vì có những trường hợp hôn mê chưa rõ nguyên  
nhân, không thể đo được điện não đồ, vẫn chưa  
loại trừ được trạng thái động kinh.  
BN động kinh lớn tuổi tại BV 115 đa số được  
điều trị với Valproic acid và Phenytoin. Đây là  
các thuốc thế hệ cũ. Chỉ có khoảng 6% trường  
hợp được điều trị với các thuốc chống động kinh  
thế hệ mới (Levetiracetam và Topiramate). Điều  
này có thể do đa số BN điều trị tại BV 115 thuộc  
diện BHYT nên thường chỉ được sử dụng các  
thuốc trong cơ số BHYT, trong đó có Valproic  
acid và Phenytoin.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi các phóng  
điện dạng động kinh chỉ chiếm chưa đến ¼ số  
trường hợp. Kết quả này cũng tương tự như  
(2)  
trong nghiên cứu của tác giả Ivo Drury  
(nghiên cứu chuyên biệt về các phóng điện  
dạng động kinh) với tỉ lệ các phóng điện dạng  
động kinh dao động từ 26%‐ 35% (ở nhóm  
động kinh đã có từ trước và ở nhóm khởi phát  
sau 60 tuổi).  
KẾT LUẬN  
Cơn động kinh cục bộ toàn thể hóa là loại  
cơn thường gặp nhất với tỉ lệ 58,33%. Đa số  
trường hợp không có tiền triệu. Chỉ khoảng hơn  
70% trường hợp được chẩn đoán đúng ngay từ  
đầu.Không tuân thủ điều trị là nguyên nhân  
chính gây co giật tái lại ở bệnh nhân động kinh  
cũ. Mỗi bệnh nhân có trung bình 2,49 bệnh đi  
kèm, nhiều nhất 6 bệnh, bệnh thường gặp nhất  
là tăng huyết áp (67,33%), rối loạn lipid máu  
(51%). Các phóng điện dạng động kinh hiện  
diện ở 21,88% số trường hợp. Nhóm đo điện não  
đồ trong vòng 24 giờ có tỉ lệ các phóng điện  
dạng động kinh cao hơn có ý nghĩa với nhóm đo  
sau 24 giờ. Hình ảnh học bất thường ghi nhận  
trong 87,18% số trường hợp, trong đó hình ảnh  
nhồi máu não và xuất huyết não cũ là thường  
gặp nhất chiếm tỉ lệ 70,17%. Nguyên nhân  
thường gặp nhất là TBMMN chiếm tỉ lệ 59,33%.  
Đa số các trường hợp điều trị một thuốc (thường  
nhất là Valproic acid).  
Phân tích sâu hơn bằng cách chia nhóm,  
nhóm đo điện não đồ trong vòng 24 giờ và  
nhóm đo điện não đồ sau 24 giờ. Kết quả cho  
thấy nhóm đo điện não đồ trong vòng 24 giờ có  
tỉ lệ các phóng điện dạng động kinh cao hơn  
nhóm đo điện não đồ sau 24 giờ. Điều này cũng  
tương tự trong nghiên cứu của tác giả King  
(5)  
MA , với tỉ lệ các phóng điện tương ứng là 51%  
và 34%. Như vậy cần khuyến cáo BN nên được  
đo điện não đồ sớm để tăng khả năng phát hiện  
các sóng đặc hiệu góp phần chẩn đoán động  
kinh ở BN lớn tuổi.  
Hình ảnh nhồi máu não cũ hoặc xuất huyết  
não cũ là các bất thường thường gặp nhất trên  
hình ảnh học BN động kinh lớn tuổi. Kết quả  
(6)  
này cũng tương tự của tác giả Ramsay với tỉ lệ  
(7)  
42,6% và tác giả Sinha là 64,3%.  
Nhìn chung trong tất cả các nghiên cứu, tai  
biến mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu  
của bệnh ĐK ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, trong  
nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ này cao hơn hẳn  
so với các nghiên cứu khác. Đó có thể là do BN  
tai biến mạch máu não đến khám và điều trị tại  
bệnh viện Nhân Dân 115 khá nhiều. Khi xuất  
viện họ vẫn thường được theo dõi và tái khám  
tại 115 và khi có biến chứng động kinh, BN cũng  
sẽ được tiếp tục nhập viện và điều trị tại đây.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Adelow C, Andersson T, Ahlbom A, et al (2011).“ Prior  
hospitalization for stroke, diabetes, myocardial infarction, and  
subsequent risk of unprovoked seizures”. Epilepsia 52(2),  
pp.301‐307.  
2. Drury I and Beydoun A (1998). “ Interictal epileptiform activity  
in elderly patients with epilepsy”. Electroencephalogr Clin  
Neurophysiol 106(4), pp.369‐373.  
3. Đặng Tiến Hải và Nguyễn Văn Chương (2012). “Nhận xét một  
số đặc điểm lâm sàng và điện não đồ của bệnh động kinh ở  
người cao tuổi tại bệnh viện tâm thần Ninh Bình”. Tạp chí y học  
thực hành 5, tr. 35‐38  
Trong các bệnh lý đi kèm, THA là bệnh  
thường gặp nhất. Điều này cũng tương tự với  
kết quả của tác giả Ramsay với tỉ lệ bệnh THA  
4. Hauser WA(1992). “Seizure disorders: the changes with age”.  
Epilepsia 33 (Suppl 4), pp.S6‐14.  
5. King MA, Newton MR, Jackson GD, et al (1998). “Epileptology  
(6)  
of  
the  
first‐seizure  
presentation:  
a
clinical,  
trong nhóm nghiên cứu là 64%.  
electroencephalographic, and magnetic resonance imaging  
519  
Thần Kinh  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
study of 300 consecutive patients”. Lancet 352(9133), pp.1007‐  
1011.  
6. Ramsay RE, Rowan AJ, and Pryor FM (2004). “Special  
considerations in treating the elderly patient with epilepsy”.  
Neurology 62(5 Suppl 2), pp.S24‐29.  
7. Sinha S, Satishchandraet P, Kalband BR, et al (2012).  
“Neuroimaging observations in a cohort of elderly manifesting  
10. Tanaka A, Takamatsu N, Shuzaki T, et al (2013). “Clinical  
characteristics and treament responses in new‐ onset epilepsy in  
the elderly”. Seizure.  
11. Tchalla AE, Marin B, Mignard C, et al (2011). “Newly diagnosed  
epileptic seizures: focus on an elderly population on the French  
island of Reunion in the Southern Indian Ocean”. Epilepsia  
52(12), pp.2203‐2208.  
with new onset seizures: Experience from  
hospital”. Ann Indian Acad Neurol 15(4), pp.273‐280.  
a
university  
12. Tinuper P, Provini F, Marini C, et al (1996). “Partial epilepsy of  
long duration: changing semiology with age”. Epilepsia 37(2),  
pp.162‐164.  
13. Vũ Anh Nhị (2012). “Động kinh ở người lớn tuổi”, Bài giảng  
sau đại học 2012.  
8. Phan Việt Nga (2008). “Đặc điểm động kinh khởi phát ở bệnh  
nhân từ 45 tuổi trở lên”. Tạp chí y dược học quân sự‐ HVQY 7.  
9. Tabatabaei SS, Delbari A, Salman ‐Roghani R, et al (2012).  
“Seizures and epilepsy in elderly patients of an urban area of  
Iran: clinical manifestation, differential diagnosis, etiology, and  
epilepsy subtypes”. Neurol Sci.  
Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2013  
Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014  
520  
Chuyên Đề Nội Khoa  
pdf 5 trang yennguyen 14340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh động kinh ở người lớn tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_can_lam_sang_va_dieu_tri_benh_dong_kinh_o.pdf