Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa Tim mạch - Bệnh viện Thống Nhất
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
Bài nghiên cứu
Open Access Full Text Article
Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú
tại khoa tim mạch - Bệnh viện Thống Nhất
Hồ Sĩ Dũng1, Trần Quang Bách2, Mai Bá Gia Hữu2, Đỗ Thị Mỹ Phúc2, Lê Phương2, Trần Bảo Trinh2,
Nguyễn Đức Công3,*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Rối loạn nhịp tim đang trở thành một bệnh lý quan trọng của người cao tuổi với tỉ
lệ mắc cao và tần suất tăng dần theo tuổi, trong đó có nhiều rối loạn nhịp tim nặng đe dọa tính
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
mạng bệnh nhân.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các rối loạn nhịp tim ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị tại khoa Nội Tim
mạch Bệnh viện Thống Nhất - TP. Hồ Chí Minh từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016.
Phương pháo nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu cắt ngang mô tả, thực hiện đọc
lại toàn bộ điện tâm đồ thường quy trên 1024 bệnh nhân điều trị tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện
Thống Nhất từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016.
Kết quả: Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nhóm ≥60 tuổi là 51%; với nam 52,1% và nữ là 49,7%, khác
biệt không có ý nghĩa thống kê. Tỉ lệ rối loạn nhịp nhĩ là 30,6%, rối loạn dẫn truyền 22,3% và rối
loạn nhịp thất là 6,6%. Rung nhĩ chiếm 10,7%. Tỷ lệ rối loạn nhịp ở nhóm chứng (<60 tuổi) là 46%
và khác biệt không có ý nghĩa thống kê với nhóm nghiên cứu (p>0,05).
Kết luận: Rối loạn nhịp tim là phổ biến ở người cao tuổi, tỉ lệ nam tương đương nữ. Rung nhĩ là
rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở người cao tuổi và tăng dần ở nam giới sau 60 tuổi. Không có
sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ rối loạn nhịp chung giữa người cao tuổi và người trẻ.
Từ khoá: rối loạn nhịp tim, điện tâm đồ, người cao tuổi
1Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu khảo sát tỉ lệ các rối loạn nhịp tim
trên điện tâm đồ bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú
tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện ống Nhất - TP.
Hồ Chí Minh nhằm cung cấp thêm thông tin và nâng
cao hiệu quả cho quá trình chẩn đoán, điều trị và tiên
lượng của các bác sĩ lâm sàng.
ạch, ành phố Hồ Chí Minh, Việt
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nam
Rối loạn nhịp tim hiện đang trở thành một bệnh lý
quan trọng ở người cao tuổi với tần suất tăng dần theo
tuổi, trong đó rung nhĩ và rối loạn nhịp thất là các rối
loạn nhịp hàng đầu ở người cao tuổi. Rung nhĩ là một
trong những rối loạn nhịp rất thường gặp, chiếm 6%
ở người cao tuổi và khoảng 10% ở người từ trên 85
nhóm người cao tuổi là rất thường gặp so với người
trẻ. Rung nhĩ gặp ở 1-2% người cao tuổi không có
bệnh tim và nguy cơ tăng gấp đôi cho mỗi 10 năm
Tuổi thọ trung bình năm 2019 của dân số Việt Nam là
73,6 tuổi, tăng 0,4 tuổi so với kết quả điều tra dân số
số từ năm 2011 với tỉ lệ người trên 60 tuổi chiếm hơn
9,9% và đến năm 2018, tỉ lệ này là 11,9%. Sự thoái hóa
hệ tim mạch tuân theo quy luật tuổi tác, do đó, bệnh
lý tim mạch cũng như các rối loạn nhịp tim là một
vấn đề phổ biến ở người cao tuổi với tỉ lệ mắc bệnh
nhiếu gấp ba lần so với người trẻ tuổi. Không giống
như người trẻ tuổi, các rối loạn nhịp ở người cao tuổi
thường có triệu chứng lâm sàng thay đổi, không đặc
hiệu dẫn đến khó khăn trong chẩn đoán và điều trị.
2Khoa Y – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí
Minh, Việt Nam
3Bệnh viện ống Nhất, ành phố Hồ
Chí Minh, Việt Nam
Liên hệ
Mục tiêu nghiên cứu
Nguyễn Đức Công, Bệnh viện Thống Nhất,
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Khảo sát tỉ lệ các rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân cao
tuổi điều trị tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện ống
Nhất - TP. Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng
01/2016 đến tháng 12/2016.
Email: cong1608@gmail.com
Lịch sử
• Ngày nhận: 30-7-2020
• Ngày chấp nhận: 20-12-2020
• Ngày đăng: 27-12-2020
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
DOI :
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội Tim
mạch Bệnh viện ống Nhất - TP. Hồ Chí Minh từ
tháng 01/2016 đến tháng 12/2016.
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Đủ hồ sơ bệnh án nội trú và kí duyệt của Trưởng
khoa Nội Tim mạch.
Trích dẫn bài báo này: Dũng H S, Bách T Q, Hữu M B G, Phúc D T M, Phương L, Trinh T B, Công N D. Tỉ lệ
các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa tim mạch - Bệnh viện Thống
Nhất. Sci. Tech. Dev. J. - Health Sci.; 1(2):44-51.
44
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
- Có ít nhất từ 01 điện tâm đồ trở lên và đủ chất lượng chính là những bệnh nhân ≥60 tuổi với tổng số là
để đọc.
824 (80,5%), và nhóm chứng (<60 tuổi) bao gồm 200
người (19,5%). Tỉ lệ giới tính nam chung là 51%, nữ là
49%. Trong nhóm tuổi ≥60, tỉ lệ bệnh nhân nam cao
hơn tỉ lệ bệnh nhân nữ (52,4% so với 47,6%) trong khi
ở nhóm chứng tỉ lệ bệnh nhân nam lại thấp hơn nữ là
(45% và 55%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không được đo điện tâm đồ.
- Điện tâm đồ không đủ chất lượng để kết luận loại
rối loạn nhịp.
- Không có kí duyệt của lãnh đạo khoa.
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nhóm ≥ 60 tuổi là 51,0%
không khác biệt có ý nghĩa so với nhóm <60 tuổi
(46,0%) với p>0,05. Tỉ lệ rối loạn nhịp tim ở nam giới
có xu hướng cao hơn nữ giới (52,3% so với 47,6%)
nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Cơ cấu
rối loạn nhịp theo tuổi và giới được trình bày trong
Tỉ lệ rối loạn nhịp nhĩ trong tổng số bệnh nhân là
31,1%. Rung nhĩ là rối loạn nhịp nhĩ phố biến nhất
trong dân số chung với tỉ lệ 10,1%. Rối loạn nhịp nhĩ
thường gặp nhất trong nhóm ≥60 tuổi là rung nhĩ
(10,7%), trong khi ở nhóm <60 tuổi là nhịp nhanh
xoang (14,0%). Trong nhóm bệnh nhân ≥60 tuổi có
rối loạn nhịp nhĩ, số bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ nhiều
hơn số bệnh nhân nữ (32,2% so với 27,8%) nhưng sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Đối với rung nhĩ
và ngoại tâm thu nhĩ, số bệnh nhân nam cũng chiếm
tỉ lệ nhiều hơn số bệnh nhân nữ nhưng sự khác biệt
không có ý nghĩa (p>0,05). Tỉ lệ bệnh nhân nam có
nhịp nhanh xoang ở nhóm <60 tuổi (15,6%) cao hơn
nhóm ≥60 tuổi (7,2%) với p = 0,01.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu kết hợp tiến cứu cắt ngang mô tả.
Các bước tiến hành
Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu được ghi
nhận các thông tin về tình trạng bệnh tật. Đồng thời,
tất cả hồ sơ bệnh án thỏa tiêu chuẩn chọn sẽ được đọc
lại điện tâm đồ bởi các nghiên cứu viên và đưa ra kết
luận về loại rối loạn nhịp tim (nếu có) của bệnh nhân.
Các trường hợp khó kết luận loại rối loạn nhịp, chúng
tôi tham khảo ý kiến của Giáo sư về tim mạch. Chúng
tôi lấy tiêu chuẩn các rối loạn nhịp tim dựa trên sách
Phương pháp xử lý sô liệu
Kết quả số liệu của nghiên cứu được xử lý bằng phần
mềm thống kê SPSS 20. Biến định lượng được trình
bày dưới dạng trung bình ꢀ độ lệch chuẩn nếu có
phân phối chuẩn và dưới dạng trung vị hay tứ phân
vị nếu không có phân phối chuẩn. Biến định tính và
biến định danh được trình bày dưới dạng tỉ lệ phần
trăm. So sánh 2 trung bình của biến định lượng bằng
phép kiểm t-student nếu có phân phối chuẩn, phép
kiểm Mann-Whitney nếu không có phân phối chuẩn.
Kiểm định tương quan giữa các biến định tính bằng
phép kiểm Chi bình phương (χ2). Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê khi p<0,05 với độ tin cậy 95%.
Rung nhĩ, block nhánh phải và nhịp nhanh xoang là
ba rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở bệnh nhân cao
tượng nghiên cứu là 5,7%, ở nhóm ≥60 tuổi và <60
tuổi lần lượt là 6,6% và 2,0%, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p = 0,012. Ngoại tâm thu thất là rối loạn
nhịp thất chiếm tỉ lệ cao nhất trong toàn bộ bệnh nhân
với tỉ lệ 5,6%. Tỉ lệ ngoại tâm thu thất trong nhóm ≥60
tuổi là 6,4%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm
<60 tuổi (2,0%) với p = 0,014. Trong nhóm bệnh nhân
≥60 tuổi có rối loạn nhịp thất, số bệnh nhân nam và
nữ chiếm tỉ lệ lần lượt là 6,3% và 6,8% (p>0,05). Tỉ lệ
bệnh nhân nữ ≥60 tuổi có ngoại tâm thu thất là 6,9%
cao hơn so với nhóm <60 tuổi (1,8%) với p=0,044.
Tỉ lệ rối loạn dẫn truyền trong tổng số bệnh nhân là
20,9%, trong đó nhóm ≥60 tuổi là 22,3% và nhóm <60
tuổi là 15,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
Y đức
Đây là nghiên cứu quan sát, không can thiệp trong vào
quá trình điều trị của bệnh nhân. Tất cả các thông
tin thu thập được từ bệnh nhân sẽ được mã hóa và
lưu trữ trong máy tính cá nhân có cài mật khẩu, chỉ
nghiên cứu viên mới có quyền truy cập và sử dụng
các số liệu này. Đề tài đã được Hội đồng Y đức Bệnh
viện ống Nhất thông qua theo Giấy chấp thuận số = 0,022. Block nhánh phải chiếm tỉ lệ cao nhất trong
103/2015/BVTN-HĐYĐ ngày 20 tháng 12 năm 2015. các rối loạn dẫn truyền ở toàn bộ bệnh nhân (8,9%).
Tỉ lệ block nhĩ thất độ 1 ở nhóm ≥60 tuổi là 5,3%, cao
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (1,5%)
KẾT QUẢ
với p = 0,02. Nhóm bệnh nhân nữ ≥60 tuổi có rối
Nghiên cứu khảo sát 1024 đối tượng với tuổi nhỏ loạn dẫn truyền chiếm tỉ lệ 22,7% cao hơn có ý nghĩa
nhất là 19 và cao nhất là 101. Nhóm nghiên cứu thống kê so với nhóm <60 tuổi (13,6%). Trong đó, tỉ
45
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
Bảng 1: Đặc điểm về tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ (n = 1024)
70,56 ꢀ 13,76
Nam (n = 522)
Nữ (n = 502)
p
Tuổi trung bình
Phân nhóm tuổi
≥60, n (%)
70,45 ꢀ 13,73
70,68 ꢀ 13,80
0,797
0,059
824 (80,5)
200 (19,5)
432 (82,8)
90 (17,2)
392 (78,1)
110 (21,9)
<60, n (%)
Phân lớp tuổi
0-70, n (%)
256 (25,0)
294 (28,7)
274 (26,8)
144 (27,6)
147 (28,2)
141 (27,0)
112 (22,3)
147 (29,3)
133 (26,5)
71-80, n (%)
>80, n (%)
0,317
Bảng 2: Cơ cấu rối loạn nhịp tim theo tuổi và giới tính
Toàn bộ
<60 tuổi
92 (46,0)
48 (53,3)
44 (40,0)
≥60 tuổi
420 (51,0)
225 (52,1)
195 (49,7)
p
Có rối loạn nhịp tim, n (%)
512 (50,0)
273 (52,3)
239 (47,6)
0,207
0,829
0,071
Nam
Nữ
Hình 1: Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim (%) ở nhóm bệnh nhân ≥60 tuổi từ nghiên cứu
46
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
lệ bệnh nhân nữ có block nhĩ thất đô 1 ở nhóm ≥60
Phânbốrốiloạnnhịptimtheonhómtuổivà
giới tính
tuổi cao hơn so với nhóm <60 tuổi (5,4% so với 0,9%,
p =0,044). Trong nhóm bệnh nhân cao tuổi có rối loạn
dẫn truyền, hầu hết tỉ lệ bệnh nhân nam cao hơn tỉ lệ
bệnh nhân nữ. Riêng trong block nhánh phải hoàn
toàn thì ngược lại, số bệnh nhân nữ với tỉ lệ 55,6%
nhiều hơn so với số bệnh nhân nam với tỉ lệ là 44,4%
(p>0,05).
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nhóm ≥60 tuổi là không
có sự khác biệt có ý nghĩa so với nhóm <60 tuổi.
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nghiên cứu của chúng tôi
tương tự với nghiên cứu của Charles Fisch (cũng thực
hiện trên ECG thường quy), nghiên cứu của Mano-
rối loạn nhịp tim trong nghiên cứu của chúng tôi cao
hơn nghiên cứu của Nguyễn Chí Hiếu và Nguyễn Đức
Hoàng có thể do đối tượng nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Chí Hiếu là rung nhĩ và rối loạn nhịp thất
trong khi đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bao
gồm cả rối loạn nhịp nhĩ, rối loạn nhịp thất và rối
của Nguyễn Đức Hoàng do nghiên cứu thực hiện trên
mẫu bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện
Hương Trà, còn nghiên cứu của chúng tôi thực hiện
trên mẫu bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội Tim
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim chung theo các nhóm tuổi 60-
70, 71-80 và >80 khác biệt không có ý nghĩa ở cả nam
và nữ. Đa số các rối loạn nhịp tim phát hiện được
cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên, tỉ lệ rối loạn
nhịp nhĩ nói chung và rung nhĩ nói riêng tăng dần
theo tuổi ở nam giới và sự khác biệt này có ý nghĩa
thông kê với giá trị p lần lượt là 0,016 và 0,005 trong
Chúng tôi tiến hành phân tích sự khác biệt về tỉ lệ
rối loạn nhịp nhĩ và rung nhĩ theo 03 nhóm tuổi giữa
biệt trong ảnh hưởng của độ tuổi lên rối loạn nhịp nhĩ
chung theo giới tính. Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê trong ảnh hưởng của độ tuổi lên rung
nhĩ giữa nam và nữ (p=0,009). Đồng thời khi phân
tích theo từng nhóm tuổi, có sự khác biệt có ý nghĩa
về tỉ lệ rung nhĩ giữa nam và nữ ở nhóm tuổi trên 80
(p=0,005).
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim ở nam giới cao hơn nữ giới
(52,3% so với 47,6%) nhưng không có ý nghĩa thống
kê. Các nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Chí Hiếu,
Manolio cũng cho thấy tỉ lệ rối loạn nhịp tim ở nam
.
THẢO LUẬN
Mối liên quan giữa các rối loạn nhịp tim với
giới tính và các nhóm tuổi
Tuổi
Tuổi tác ảnh hưởng lên bệnh lí tim mạch theo nhiều
cách, bao gồm xơ cứng và dày thành đông mạch, phì
đại thất trái. Chúng tôi ghi nhận có 30,1% rối loạn
nhịp nhĩ, 6,6% rối loạn nhịp thất và 22,8% rối loạn
dẫn truyền. eo Yamaguchi I. và cộng sự nghiên
cứu mối quan hệ giữa tuổi và các bất thường về điện
tâm đồ cũng như rối loạn nhịp trên ECG 12 chuyển
đạo, được phân tích trên 3174 ca (1778 nam và 1396
nữ, độ tuổi 17-87) không có các bệnh tim thực thể
rõ ràng, ghi nhân tỉ lệ ECG bình thường giảm dần
theo tuổi tác, đạt đến mức tối thiếu là 20,0% ở nam
trên thất, rối loạn nhịp thất, rung nhĩ, block nhánh
trái, nhánh phải và phân nhánh trái trước gia tăng
theo tuổi. Riêng nhịp chậm xoang và hôi chứng Wolff-
Parkinson-White không theo xu hướng chung này tuy
có sự gia tăng theo tuổi đến 55 tuổi. Block độ 2 và đô 3
rất hiếm ở nhóm dân số nghiên cứu này. Block nhánh
phải có kèm block phân nhánh trái trước không ghi
nhận trước tuổi 35 có thể xem là hậu quả của tuổi tác
ở nhóm tuổi cao hơn. Có thể kết luân rằng, lão hóa
là một yếu tố quan trọng trong rối loạn nhịp tim ghi
nhận trong ECG 12 chuyển đạo.
Nhóm tuổi từ 71-80 chiếm tỉ lệ cao nhất (28.7%), ít
nhất là nhóm <60 tuổi (19,5%). Tuổi trung bình trong
nghiên cứu của chúng tôi là 70,56 ꢀ 13,76, tương
đương với một số nghiên cứu khác tại Bệnh viện
ống Nhất của tác giả Trần ị Mỹ Liên và Nguyễn
nghiên cứu tại Bệnh viện ống Nhất đa số là cán bộ
hưu trí và người cao tuổi.
Giới tính
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ nam/nữ là 1,04,
không tương đồng với nghiên cứu của Phạm Hòa
Sự khác biệt này có thể do tỉ lệ mắc bệnh tim mạch ở
nữ ngày càng tăng theo tuổi, đặc biệt là sau mãn kinh
khi mà phụ nữ phải đối mặt với nhiều nguy cơ tim
mạch hơn trước đó. Ở nhóm tuổi ≥60 thì nam chiếm
tỉ lệ cao hơn nữ tuy nhiên sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê. ông thường thì tỉ lệ mắc bệnh tim
mạch của nam giới sẽ cao hơn nữ giới do có nhiều yếu
tố nguy cơ. Nhưng tỉ lệ giới tính theo nhóm tuổi trong
nghiên cứu của chúng tôi không khác biệt có thể do
mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ và khu trú ở
một bệnh viện mà bệnh nhân đa số là người lớn tuổi
và cán bộ hưu trí.
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở người
cao tuổi với tần suất 10,7%. eo nghiên cứu của tác
47
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
Bảng 3: Cơ cấu các rối loạn nhịp tim theo 03 nhóm tuổi ở đối tượng ≥ 60 tuổi
Nữ ≥60 tuổi Nam ≥60 tuổi
Tổng
60-70
71-80
>80
p
Tổng
60-70
71-80
>80
p
n = 392
n = 103
n = 156
n = 133
n = 432
n = 133
n = 158
n = 141
Có rối 195
50
70
75
0,143
225
60
81
84
0,055
loạn
nhịp
tim
(49,5)
(48,5)
(44,9)
(56,4)
(52,1)
(45,1)
(51,3)
(59,6)
n (%)
Có rối 109
28
42
39
0,890
139
34
47
58
0,016
loạn
nhịp
nhĩ
(27,8)
(27,2)
(26,9)
(29,3)
(32,2)
(25,6)
(29,7)
(41,1)
Rung
nhĩ,
38
(9,7)
10
(9,7)
20
(12,8)
8
(6,0)
0,150
0,409
50
(11,6)
6
(4,5)
20
(12,7)
24
(17,0)
0,005
0,657
Nhịp
34
7
12
15
31
11
9
11
nhanh
xoang
(8,7)
(6,8)
(7,7)
(11,3)
(7,2)
(8,3)
(5,7)
(7,8)
Ngoại
tâm
thu nhĩ
18
(4,6)
3
(2,9)
6
(3,8)
9
(6,8)
0,317
0,933
22
(5,1)
3
(2,3)
8
(5,1)
11
(7,8)
0,113
0,743
Có rối 27
7
10
10
27
9
11
7
loạn
nhịp
thất
(6,9)
(6,8)
(6,4)
(7,5)
(6,3)
(6,8)
(7,0)
(5,0)
Ngoại
tâm
thu
27
(6,9)
7
(6,8)
10
(6,4)
10
(7,5)
0,933
0,085
0,409
26
(6,0)
9
(6,8)
10
(6,3)
7
(5,0)
0,804
0,222
0,783
thất
Có rối 89
loạn
dẫn
truyền
17
(16,5)
34
(21,8)
38
(28,6)
99
(22,9)
24
(18,0)
42
(26,6)
33
(23,4)
(22,7)
Block
nhĩ
21
(5,4)
3
(2,9)
9
(5,8)
9
(6,8)
23
(5,3)
8
(6,0)
9
(5,7)
6
(4,3)
thất độ
1
Block
nhánh
trái
6
(1,5)
1
(1,0)
4
(2,6)
1
(0,8)
0,396
0,458
16
(3,7)
4
(3,0)
8
(5,1)
4
(2,8)
0,523
0,665
Block
nhánh
trái
22
(5,6)
4
(3,9)
8
(5,1)
10
(7,5)
26
(6,0)
6
(4,5)
11
(7,0)
9
(6,4)
trước
Block
nhánh
phải
38
(9,7)
7
(6,8)
13
(8,3)
18
(13,5)
0,169
36
(8,3)
6
(4,5)
15
(9,5)
15
(10,6)
0,149
48
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
Bảng 4: Cơ cấu các rối loạn nhịp tim theo 03 nhóm tuổi ở đối tượng ≥ 60 tuổi
60-70 tuổi
71-80 tuổi
>80 tuổi
p
Có rối loạn nhịp nhĩ, 62 (26,3)
n (%)
89 (28,3)
97 (30,1)
0,053
0,236
Nữ
28 (27,2)
34 (25,6)
16 (6,8)
10 (9,7)
6 (4,5)
42 (26,9)
47 (29,7)
40 (12,7)
20 (12,8)
20 (12,7)
39 (29,3)
58 (41,1)
32 (11,7)
8 (6,0)
Nam
Rung nhĩ, n (%)
0,066
0,009
Nữ
Nam
24 (17,0)
Bảng 5: Tỉ lệ rối loạn nhịp tim so sánh với các nghiên cứu khác
Nghiên cứu
Tuổi
≥60
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim (%)
Nguyễn Chí Hiếu (n =554)
Nguyễn Đức Hoàng (n =500)
Camm (n =106)
7,8
42,5 ꢀ 18
≥75
2,8
77,0
57,0
50
Fisch C (n =2482)
≥70
Manolio (n =1372)
Chúng tôi (n =824)
≥65
≥60
51,0
giả Nguyễn ị Dung thì rung nhĩ thường gặp sau tuổi các bệnh tim mạch mạn tính ổn định nên tần suất rối
65 và ở nam giới nhiều hơn, tương tự như kết luận của loạn nhịp nặng cũng thấp hơn. eo Yamaguchi và
chúng tôi13. Tần suất rung nhĩ tăng dần theo tuổi ở cộng sự, ngoại tâm thu trên thất, ngoại tâm thu thất
nam giới trong khi ở nữ giới thì không có sự khác biệt. và rung nhĩ ở nam cao hơn nữ trên người cao tuổi; tuy
nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận sự tương
Chúng tôi ghi nhận tần suất rối loạn nhịp thất ở bệnh
nhân cao tuổi là 6,6%, trong đó chủ yếu là ngoại tâm
thu thất chiếm 6,4%. eo Manolio, rối loạn nhịp thất
ở nữ chiếm tỉ lệ 16% và rối loạn nhịp thất ở nam chiếm
phố biến ở nam nhiều hơn nữ, khác với kết quả nghiên
cứu của chúng tôi. Còn theo của nghiên cứu của Gar-
cia và cộng sự ở 94 bệnh nhân trên 70 tuổi ghi nhận rối
loạn nhịp trên thất và rối loạn nhịp thất xảy ra thường
rối loạn nhịp thất phức tạp. Tỉ lệ rối loạn nhịp thất
ở cả hai giới trong nghiên cứu này đều cao hơn kết
quả của chúng tôi. Có thể lí giải rằng, tỉ lệ rối loạn
nhịp thất trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn
nhiều so với nghiên cứu của hai tác giả là do chỉ theo
dõi trên điên tâm đồ một thời điểm, không phản ánh
giống như rối loạn nhịp đo trên Holter 24 giờ mà hai
nghiên cứu trên sử dụng. Đồng thời, bệnh viện ống
Nhất có 3 khoa liên quan đến tim mạch bao gồm khoa
.
Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền ở nhóm người
cao tuổi là cao hơn nhóm còn lại (p = 0,022). Trong
các rối loạn dẫn truyền, block nhánh phải chiếm tỷ
lệ cao nhất (8,9%). Các rối loạn dẫn truyền đa phần
nam có tần suất cao hơn nữ, ngoại trừ block nhánh
phải. eo nghiên cứu của Yamaguchi, rối loạn dẫn
trái thường thấy ở nữ nhiều hơn nam trong nhóm
cao tuổi, khác với nghiên cứu của chúng tôi là block
nhánh phải.
HẠN CHẾ
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có bệnh tim
mạch đang điều trị tại khoa Nội Tim mạch nên tỉ lệ
rối loạn nhịp tim cao hơn tỉ lệ ở cộng đồng. Nghiên
cứu này chỉ phân tích được điện tâm đồ thường quy,
không theo dõi holter ECG liên tục nên khó phát hiện
Tim mạch cấp cứu can thiệp là nơi điều trị các bệnh đầy đủ các rối loạn nhịp. Nghiên cứu được thực hiện
nặng nên có thể tần suất loạn nhịp thất cao hơn, khoa khu trú tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện ống
Nhịp tim học cũng có tần suất loạn nhịp thất cao hơn Nhất, nơi thường các bệnh nhân bệnh tim mạch diễn
và có thể can thiệp hiệu quả và khoa Nội tim mạch tiến ốn định nên ít ghi nhân được các dạng rối loạn
là nơi chúng tôi tiến hành lấy mẫu chủ yếu là điều trị nhịp tim nghiêm trọng. Ngoài khoa Nội Tim mạch,
49
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51
bệnh viện ống Nhất còn có khoa Tim mạch cấp cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chow GV, Marine JE, Fleg JL. Epidemiology of arrhythmias
and conduction disorders in older adults. Clin Geriatr Med.
– can thiệp là nơi tập trung những rối loạn nhịp tim
nặng và khoa Nhịp tim học là nơi có các rối loạn nhịp
đặc biệt đồng thời có thể can thiệp chữa trị đặc hiệu.
2. Kannel WB, Benjamin EJ. Status of the epidemiology of atrial
fibrillation. Med Clin North Am. 2008;92(1):17–40. PMID:
3. Tổng cục thống kê. Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm
1/4/2019 - tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ. Nhà xuất bản
Thống Kê. 2019;p. 45–52.
4. Đỗ Trinh T, Đồng TV. Hướng dẫn đọc điện tim. Nhà xuất bản
Y học. 2002;p. 89–104.
5. Hiếu NC, Bình PH, Đức Công N. Cơ cấu rối loạn nhịp ở người
KẾT LUẬN
Rối loạn nhịp tim là phổ biến ở người cao tuổi, chiếm
tỉ lệ 51% ờ bệnh nhân ≥ 60 tuổi, tỉ lệ namtương đương
nữ. Không có sự khác biệt về tỉ lệ rối loạn nhịp tim
giữa người cao tuổi và người <60 tuổi, tuy nhiên tỉ lệ
rối loạn nhịp thất và rối loạn dẫn truyền ở người cao
tuổi là lớn hơn người trẻ. Rung nhĩ là rối loạn nhịp
tim thường gặp nhất ở người cao tuổi, với tỉ lệ tăng
dần theo tuổi ở nam giới. Ngoài rối loạn nhịp nhĩ, các
rối loạn dẫn truyền cũng thường gặp. Rối loạn nhịp
thất ít gặp, chủ yếu là ngoại tâm thu thất.
cao tuổi điều trị nội trú tại khoa tim mạch bệnh viện Thống
Nhất năm 2009. Y Học TP. Hồ Chí Minh. 2012;16(1):6–9.
6. Liên TTM, Uyên VTN, Đồng LH.
Nghiên cứu rối
loạn nhịp tim bệnh nhân tăng huyêt áp bằng
ở
holter điện tim liên tục 24 giờ tại khoa tim mạch
bệnh viện Thống Nhất TP HCM. 2014;Available from:
7. Bình PH, Dũng HT, Vinh CV. Nhân xét về điều trị nhồi máu cơ
tim cấp tại bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh từ 01/2009
- 06/2010. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh. 2011;15(2):170–176.
8. Camm AJ, Evans KE, Ward DE, Martin A. The rhythm of the
heart in active elderly subjects. Am Heart J. 1980;99(5):598–
9. Fisch C. Electrocardiogram in the aged: an independent
marker of heart disease? Am J Med. 1981;70(1):4–6. Available
10. Manolio TA, Furberg CD, Rautaharju PM, Siscovick D, Newman
AB, Borhani NO, Gardin JM, Tabatznik B. Cardiac arrhythmias
on 24-h ambulatory electrocardiography in older women and
men: the Cardiovascular Health Study. J Am Coll Cardiol.
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi chân thành cảm ơn ban giám đốc bệnh viện
ống Nhất, lãnh đạo và toàn thể nhân viên khoa Nội
Tim mạch đã tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi hoàn
thành được nghiên cứu này.
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Đây là đề tài tốt nghiệp của sinh viên Khoa Y – Đại
học Quốc gia ành phố Hồ Chí Minh. Tên các tác
giả bao gồm nhóm nghiên cứu, người hỗ trợ, người
hướng dẫn và đã được sự đồng ý của nhóm nghiên
cứu. Các tác giả không có tranh chấp lợi ích trong
nghiên cứu này.
11. Đức Hoàng N, et al. Nghiên cứu rối loạn nhịp tim tim ở người
trên 15 tuổi tại bệnh viện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp
chí Y học thực hành. 2010;p. 699–700.
12. Yamaguchi I, Ito I. Electrocardiographic changes and arrhyth-
mias in the elderly. J Cardiol Suppl. 1988;19:49–57.
13. Dung NT, et al. Một số nhận xét qua 585 bệnh nhân bị loạn
nhịp tim điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng 6 tháng
đầu năm 2001. Kỷ yếu toàn văn các đê tải khoa học.Tạp chí
Tim mạch. 2002;29:323–330.
14. García A, Valdés M, Sánchez V, Soria F, Hernández A, Vicente
T, Pérez F, Rodriguez P. Cardiac rhythm in healthy elderly sub-
jects. Clin Investig. 1992;70(2):130–135. Available from: https:
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Nguyễn Đức Công đã giới thiệu đề tài, hướng dẫn,
chỉnh sửa, phân tích những mẫu khó và góp ý cho nội
dung của bài báo.
Trần Quang Bách, Mai Bá Gia Hữu, Đỗ ị Mỹ Phúc,
Lê Phương, Trần Bảo Trinh đã đóng góp nội dung,
tham gia lấy mẫu, hoàn thành các công việc được giao
để hoàn thiện bài báo.
Hồ Sĩ Dũng hỗ trợ việc lấy mẫu, phân tích các số liệu,
viết báo, kiểm tra và đăng báo.
50
Science & Technology Development Journal – Health Sciences, 1(2):44-51
Research article
Open Access Full Text Article
Prevalence of arrhythmias in elderly inpatients at department of
cardiology of Thong Nhat Hospital
Ho Si Dung1, Tran Quang Bach2, Mai Ba Gia Huu2, Do Thi My Phuc2, Le Phuong2, Tran Bao Trinh2,
Nguyen Duc Cong3,*
ABSTRACT
Objectives: To definite prevalence of arrhythmias in elderly inpatients treated at the Department
of Cardiology of Thong Nhat Hospital - Ho Chi Minh City from January 2016 to December 2016 and
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
the relationship between arrhythmias and some associated diseases.
Methods: Retrospective study incorporating a descriptive cross-sectional study, performing a full
read-back of the routine ECG on 1024 patients treated at the Department of Cardiology of Thong
Nhat Hospital.
Results: The rate of arrhythmias in the age 60 years and more is 51%, with 52.1% male and 49.7%
female, the difference is not statistically significant. Arrhythmias include atrial arrhythmias (30.6%),
conduction disorders (22.3%) and ventricular arrhythmias (6.6%). Atrial fibrillation accounts for
10.7%. The rate of arrhythmias in the control group (younger than 60 years old) was 46% and the
difference was not statistically significant with the research group (p>0.05).
Conclusions: Arrhythmias are frequent in the elderly and equal between men and wonmen. Atrial
fibrillation is the most common arrhythmia in the elderly and gradually increases in men after age of
60. There is no difference in the prevalence of arrhythmias among the elderly and younger people.
Key words: arrhythmia, electrocardiogram, elderly
1Pham Ngoc ach Univesity of
Medicine, Ho Chi Minh City, Vietnam
2School of Medicine, Vietnam National
University Ho Chi Minh City, Vietnam
3ong Nhat Hospital, Ho Chi Minh
City, Vietnam
Correspondence
Nguyen Duc Cong, Thong Nhat Hospital,
Ho Chi Minh City, Vietnam
Email: cong1608@gmail.com
History
• Received: 30-7-2020
• Accepted: 20-12-2020
• Published: 27-12-2020
DOI :
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : Dung H S, Bach T Q, Huu M B G, Phuc D T M, Phuong L, Trinh T B, Cong N D. Prevalence
of arrhythmias in elderly inpatients at department of cardiology of Thong Nhat Hospital. Sci. Tech.
Dev. J. - Health Sci.; 1(2):44-51.
51
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa Tim mạch - Bệnh viện Thống Nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ti_le_cac_roi_loan_nhip_tim_tren_benh_nhan_cao_tuoi_dieu_tri.pdf

