Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa Tim mạch - Bệnh viện Thống Nhất

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
Bài nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú  
tại khoa tim mạch - Bệnh viện Thống Nhất  
Hồ Sĩ Dũng1, Trần Quang Bách2, Mai Bá Gia Hữu2, Đỗ Thị Mỹ Phúc2, Lê Phương2, Trần Bảo Trinh2,  
Nguyễn Đức Công3,*  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Rối loạn nhịp tim đang trở thành một bệnh lý quan trọng của người cao tuổi với tỉ  
lệ mắc cao và tần suất tăng dần theo tuổi, trong đó có nhiều rối loạn nhịp tim nặng đe dọa tính  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
mạng bệnh nhân.  
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các rối loạn nhịp tim ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị tại khoa Nội Tim  
mạch Bệnh viện Thống Nhất - TP. Hồ Chí Minh từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016.  
Phương pháo nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu cắt ngang mô tả, thực hiện đọc  
lại toàn bộ điện tâm đồ thường quy trên 1024 bệnh nhân điều trị tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện  
Thống Nhất từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016.  
Kết quả: Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nhóm ≥60 tuổi là 51%; với nam 52,1% và nữ là 49,7%, khác  
biệt không có ý nghĩa thống kê. Tỉ lệ rối loạn nhịp nhĩ là 30,6%, rối loạn dẫn truyền 22,3% và rối  
loạn nhịp thất là 6,6%. Rung nhĩ chiếm 10,7%. Tỷ lệ rối loạn nhịp ở nhóm chứng (<60 tuổi) là 46%  
và khác biệt không có ý nghĩa thống kê với nhóm nghiên cứu (p>0,05).  
Kết luận: Rối loạn nhịp tim là phổ biến ở người cao tuổi, tỉ lệ nam tương đương nữ. Rung nhĩ là  
rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở người cao tuổi và tăng dần ở nam giới sau 60 tuổi. Không có  
sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ rối loạn nhịp chung giữa người cao tuổi và người trẻ.  
Từ khoá: rối loạn nhịp tim, điện tâm đồ, người cao tuổi  
1Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc  
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực  
hiện nghiên cứu khảo sát tỉ lệ các rối loạn nhịp tim  
trên điện tâm đồ bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú  
tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện ống Nhất - TP.  
Hồ Chí Minh nhằm cung cấp thêm thông tin và nâng  
cao hiệu quả cho quá trình chẩn đoán, điều trị và tiên  
lượng của các bác sĩ lâm sàng.  
ạch, ành phố Hồ Chí Minh, Việt  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nam  
Rối loạn nhịp tim hiện đang trở thành một bệnh lý  
quan trọng ở người cao tuổi với tần suất tăng dần theo  
tuổi, trong đó rung nhĩ và rối loạn nhịp thất là các rối  
loạn nhịp hàng đầu ở người cao tuổi. Rung nhĩ là một  
trong những rối loạn nhịp rất thường gặp, chiếm 6%  
ở người cao tuổi và khoảng 10% ở người từ trên 85  
tuổi1. Tỉ lệ rối loạn nhịp tim bao gồm cả rung nhĩ ở  
nhóm người cao tuổi là rất thường gặp so với người  
trẻ. Rung nhĩ gặp ở 1-2% người cao tuổi không có  
bệnh tim và nguy cơ tăng gấp đôi cho mỗi 10 năm  
tiếp theo2.  
Tuổi thọ trung bình năm 2019 của dân số Việt Nam là  
73,6 tuổi, tăng 0,4 tuổi so với kết quả điều tra dân số  
năm 20143. Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân  
số từ năm 2011 với tỉ lệ người trên 60 tuổi chiếm hơn  
9,9% và đến năm 2018, tỉ lệ này là 11,9%. Sự thoái hóa  
hệ tim mạch tuân theo quy luật tuổi tác, do đó, bệnh  
lý tim mạch cũng như các rối loạn nhịp tim là một  
vấn đề phổ biến ở người cao tuổi với tỉ lệ mắc bệnh  
nhiếu gấp ba lần so với người trẻ tuổi. Không giống  
như người trẻ tuổi, các rối loạn nhịp ở người cao tuổi  
thường có triệu chứng lâm sàng thay đổi, không đặc  
hiệu dẫn đến khó khăn trong chẩn đoán và điều trị.  
2Khoa Y – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí  
Minh, Việt Nam  
3Bệnh viện ống Nhất, ành phố Hồ  
Chí Minh, Việt Nam  
Liên hệ  
Mục tiêu nghiên cứu  
Nguyễn Đức Công, Bệnh viện Thống Nhất,  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Khảo sát tỉ lệ các rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân cao  
tuổi điều trị tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện ống  
Nhất - TP. Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng  
01/2016 đến tháng 12/2016.  
Email: cong1608@gmail.com  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 30-7-2020  
• Ngày chấp nhận: 20-12-2020  
• Ngày đăng: 27-12-2020  
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
DOI :  
Đối tượng nghiên cứu  
Tất cả bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội Tim  
mạch Bệnh viện ống Nhất - TP. Hồ Chí Minh từ  
tháng 01/2016 đến tháng 12/2016.  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
Tiêu chuẩn chọn bệnh  
- Đủ hồ sơ bệnh án nội trú và kí duyệt của Trưởng  
khoa Nội Tim mạch.  
Trích dẫn bài báo này: Dũng H S, Bách T Q, Hữu M B G, Phúc D T M, Phương L, Trinh T B, Công N D. Tỉ lệ  
các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa tim mạch - Bệnh viện Thống  
Nhất. Sci. Tech. Dev. J. - Health Sci.; 1(2):44-51.  
44  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
- Có ít nhất từ 01 điện tâm đồ trở lên và đủ chất lượng chính là những bệnh nhân ≥60 tuổi với tổng số là  
để đọc.  
824 (80,5%), và nhóm chứng (<60 tuổi) bao gồm 200  
người (19,5%). Tỉ lệ giới tính nam chung là 51%, nữ là  
49%. Trong nhóm tuổi ≥60, tỉ lệ bệnh nhân nam cao  
hơn tỉ lệ bệnh nhân nữ (52,4% so với 47,6%) trong khi  
ở nhóm chứng tỉ lệ bệnh nhân nam lại thấp hơn nữ là  
(45% và 55%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý  
nghĩa thống kê (Bảng 1).  
Tiêu chuẩn loại trừ  
- Không được đo điện tâm đồ.  
- Điện tâm đồ không đủ chất lượng để kết luận loại  
rối loạn nhịp.  
- Không có kí duyệt của lãnh đạo khoa.  
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nhóm ≥ 60 tuổi là 51,0%  
không khác biệt có ý nghĩa so với nhóm <60 tuổi  
(46,0%) với p>0,05. Tỉ lệ rối loạn nhịp tim ở nam giới  
có xu hướng cao hơn nữ giới (52,3% so với 47,6%)  
nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Cơ cấu  
rối loạn nhịp theo tuổi và giới được trình bày trong  
Bảng 2.  
Tỉ lệ rối loạn nhịp nhĩ trong tổng số bệnh nhân là  
31,1%. Rung nhĩ là rối loạn nhịp nhĩ phố biến nhất  
trong dân số chung với tỉ lệ 10,1%. Rối loạn nhịp nhĩ  
thường gặp nhất trong nhóm ≥60 tuổi là rung nhĩ  
(10,7%), trong khi ở nhóm <60 tuổi là nhịp nhanh  
xoang (14,0%). Trong nhóm bệnh nhân ≥60 tuổi có  
rối loạn nhịp nhĩ, số bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ nhiều  
hơn số bệnh nhân nữ (32,2% so với 27,8%) nhưng sự  
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Đối với rung nhĩ  
và ngoại tâm thu nhĩ, số bệnh nhân nam cũng chiếm  
tỉ lệ nhiều hơn số bệnh nhân nữ nhưng sự khác biệt  
không có ý nghĩa (p>0,05). Tỉ lệ bệnh nhân nam có  
nhịp nhanh xoang ở nhóm <60 tuổi (15,6%) cao hơn  
nhóm ≥60 tuổi (7,2%) với p = 0,01.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Hồi cứu kết hợp tiến cứu cắt ngang mô tả.  
Các bước tiến hành  
Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu được ghi  
nhận các thông tin về tình trạng bệnh tật. Đồng thời,  
tất cả hồ sơ bệnh án thỏa tiêu chuẩn chọn sẽ được đọc  
lại điện tâm đồ bởi các nghiên cứu viên và đưa ra kết  
luận về loại rối loạn nhịp tim (nếu có) của bệnh nhân.  
Các trường hợp khó kết luận loại rối loạn nhịp, chúng  
tôi tham khảo ý kiến của Giáo sư về tim mạch. Chúng  
tôi lấy tiêu chuẩn các rối loạn nhịp tim dựa trên sách  
Hướng dẫn đọc điện tim của tác giả Trần Đỗ Trinh4.  
Phương pháp xử lý sô liệu  
Kết quả số liệu của nghiên cứu được xử lý bằng phần  
mềm thống kê SPSS 20. Biến định lượng được trình  
bày dưới dạng trung bình ꢀ độ lệch chuẩn nếu có  
phân phối chuẩn và dưới dạng trung vị hay tứ phân  
vị nếu không có phân phối chuẩn. Biến định tính và  
biến định danh được trình bày dưới dạng tỉ lệ phần  
trăm. So sánh 2 trung bình của biến định lượng bằng  
phép kiểm t-student nếu có phân phối chuẩn, phép  
kiểm Mann-Whitney nếu không có phân phối chuẩn.  
Kiểm định tương quan giữa các biến định tính bằng  
phép kiểm Chi bình phương (χ2). Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê khi p<0,05 với độ tin cậy 95%.  
Rung nhĩ, block nhánh phải và nhịp nhanh xoang là  
ba rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở bệnh nhân cao  
tuổi (Hình 1). Tỉ lệ rối loạn nhịp thất trong tổng số đối  
tượng nghiên cứu là 5,7%, ở nhóm ≥60 tuổi và <60  
tuổi lần lượt là 6,6% và 2,0%, sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p = 0,012. Ngoại tâm thu thất là rối loạn  
nhịp thất chiếm tỉ lệ cao nhất trong toàn bộ bệnh nhân  
với tỉ lệ 5,6%. Tỉ lệ ngoại tâm thu thất trong nhóm ≥60  
tuổi là 6,4%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm  
<60 tuổi (2,0%) với p = 0,014. Trong nhóm bệnh nhân  
≥60 tuổi có rối loạn nhịp thất, số bệnh nhân nam và  
nữ chiếm tỉ lệ lần lượt là 6,3% và 6,8% (p>0,05). Tỉ lệ  
bệnh nhân nữ ≥60 tuổi có ngoại tâm thu thất là 6,9%  
cao hơn so với nhóm <60 tuổi (1,8%) với p=0,044.  
Tỉ lệ rối loạn dẫn truyền trong tổng số bệnh nhân là  
20,9%, trong đó nhóm ≥60 tuổi là 22,3% và nhóm <60  
tuổi là 15,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p  
Y đức  
Đây là nghiên cứu quan sát, không can thiệp trong vào  
quá trình điều trị của bệnh nhân. Tất cả các thông  
tin thu thập được từ bệnh nhân sẽ được mã hóa và  
lưu trữ trong máy tính cá nhân có cài mật khẩu, chỉ  
nghiên cứu viên mới có quyền truy cập và sử dụng  
các số liệu này. Đề tài đã được Hội đồng Y đức Bệnh  
viện ống Nhất thông qua theo Giấy chấp thuận số = 0,022. Block nhánh phải chiếm tỉ lệ cao nhất trong  
103/2015/BVTN-HĐYĐ ngày 20 tháng 12 năm 2015. các rối loạn dẫn truyền ở toàn bộ bệnh nhân (8,9%).  
Tỉ lệ block nhĩ thất độ 1 ở nhóm ≥60 tuổi là 5,3%, cao  
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (1,5%)  
KẾT QUẢ  
với p = 0,02. Nhóm bệnh nhân nữ ≥60 tuổi có rối  
Nghiên cứu khảo sát 1024 đối tượng với tuổi nhỏ loạn dẫn truyền chiếm tỉ lệ 22,7% cao hơn có ý nghĩa  
nhất là 19 và cao nhất là 101. Nhóm nghiên cứu thống kê so với nhóm <60 tuổi (13,6%). Trong đó, tỉ  
45  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
Bảng 1: Đặc điểm về tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu  
Toàn bộ (n = 1024)  
70,56 ꢀ 13,76  
Nam (n = 522)  
Nữ (n = 502)  
p
Tuổi trung bình  
Phân nhóm tuổi  
≥60, n (%)  
70,45 ꢀ 13,73  
70,68 ꢀ 13,80  
0,797  
0,059  
824 (80,5)  
200 (19,5)  
432 (82,8)  
90 (17,2)  
392 (78,1)  
110 (21,9)  
<60, n (%)  
Phân lớp tuổi  
0-70, n (%)  
256 (25,0)  
294 (28,7)  
274 (26,8)  
144 (27,6)  
147 (28,2)  
141 (27,0)  
112 (22,3)  
147 (29,3)  
133 (26,5)  
71-80, n (%)  
>80, n (%)  
0,317  
Bảng 2: Cơ cấu rối loạn nhịp tim theo tuổi và giới tính  
Toàn bộ  
<60 tuổi  
92 (46,0)  
48 (53,3)  
44 (40,0)  
≥60 tuổi  
420 (51,0)  
225 (52,1)  
195 (49,7)  
p
Có rối loạn nhịp tim, n (%)  
512 (50,0)  
273 (52,3)  
239 (47,6)  
0,207  
0,829  
0,071  
Nam  
Nữ  
Hình 1: Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim (%) ở nhóm bệnh nhân ≥60 tuổi từ nghiên cứu  
46  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
lệ bệnh nhân nữ có block nhĩ thất đô 1 ở nhóm ≥60  
Phânbốrốiloạnnhịptimtheonhómtuổivà  
giới tính  
tuổi cao hơn so với nhóm <60 tuổi (5,4% so với 0,9%,  
p =0,044). Trong nhóm bệnh nhân cao tuổi có rối loạn  
dẫn truyền, hầu hết tỉ lệ bệnh nhân nam cao hơn tỉ lệ  
bệnh nhân nữ. Riêng trong block nhánh phải hoàn  
toàn thì ngược lại, số bệnh nhân nữ với tỉ lệ 55,6%  
nhiều hơn so với số bệnh nhân nam với tỉ lệ là 44,4%  
(p>0,05).  
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nhóm ≥60 tuổi là không  
có sự khác biệt có ý nghĩa so với nhóm <60 tuổi.  
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim trong nghiên cứu của chúng tôi  
tương tự với nghiên cứu của Charles Fisch (cũng thực  
hiện trên ECG thường quy), nghiên cứu của Mano-  
lio và Camm (thực hiện trên holter ECG)8–10. Tỉ lệ  
rối loạn nhịp tim trong nghiên cứu của chúng tôi cao  
hơn nghiên cứu của Nguyễn Chí Hiếu và Nguyễn Đức  
Hoàng có thể do đối tượng nghiên cứu của tác giả  
Nguyễn Chí Hiếu là rung nhĩ và rối loạn nhịp thất  
trong khi đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bao  
gồm cả rối loạn nhịp nhĩ, rối loạn nhịp thất và rối  
loạn dẫn truyền5. Sự khác biệt so với nghiên cứu  
của Nguyễn Đức Hoàng do nghiên cứu thực hiện trên  
mẫu bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện  
Hương Trà, còn nghiên cứu của chúng tôi thực hiện  
trên mẫu bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội Tim  
mạch bệnh viện ống Nhất11 (Bảng 5).  
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim chung theo các nhóm tuổi 60-  
70, 71-80 và >80 khác biệt không có ý nghĩa ở cả nam  
và nữ. Đa số các rối loạn nhịp tim phát hiện được  
cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên, tỉ lệ rối loạn  
nhịp nhĩ nói chung và rung nhĩ nói riêng tăng dần  
theo tuổi ở nam giới và sự khác biệt này có ý nghĩa  
thông kê với giá trị p lần lượt là 0,016 và 0,005 trong  
khi khác biệt này không ghi nhận được ở nữ (Bảng 3).  
Chúng tôi tiến hành phân tích sự khác biệt về tỉ lệ  
rối loạn nhịp nhĩ và rung nhĩ theo 03 nhóm tuổi giữa  
nam và nữ (Bảng 4). Kết quả ghi không có sự khác  
biệt trong ảnh hưởng của độ tuổi lên rối loạn nhịp nhĩ  
chung theo giới tính. Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê trong ảnh hưởng của độ tuổi lên rung  
nhĩ giữa nam và nữ (p=0,009). Đồng thời khi phân  
tích theo từng nhóm tuổi, có sự khác biệt có ý nghĩa  
về tỉ lệ rung nhĩ giữa nam và nữ ở nhóm tuổi trên 80  
(p=0,005).  
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim ở nam giới cao hơn nữ giới  
(52,3% so với 47,6%) nhưng không có ý nghĩa thống  
kê. Các nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Chí Hiếu,  
Manolio cũng cho thấy tỉ lệ rối loạn nhịp tim ở nam  
cao hơn nữ5,10  
.
THẢO LUẬN  
Mối liên quan giữa các rối loạn nhịp tim với  
giới tính và các nhóm tuổi  
Tuổi  
Tuổi tác ảnh hưởng lên bệnh lí tim mạch theo nhiều  
cách, bao gồm xơ cứng và dày thành đông mạch, phì  
đại thất trái. Chúng tôi ghi nhận có 30,1% rối loạn  
nhịp nhĩ, 6,6% rối loạn nhịp thất và 22,8% rối loạn  
dẫn truyền. eo Yamaguchi I. và cộng sự nghiên  
cứu mối quan hệ giữa tuổi và các bất thường về điện  
tâm đồ cũng như rối loạn nhịp trên ECG 12 chuyển  
đạo, được phân tích trên 3174 ca (1778 nam và 1396  
nữ, độ tuổi 17-87) không có các bệnh tim thực thể  
rõ ràng, ghi nhân tỉ lệ ECG bình thường giảm dần  
theo tuổi tác, đạt đến mức tối thiếu là 20,0% ở nam  
và 22,7% ở nữ sau tuổi 7512. Tần suất rối loạn nhịp  
trên thất, rối loạn nhịp thất, rung nhĩ, block nhánh  
trái, nhánh phải và phân nhánh trái trước gia tăng  
theo tuổi. Riêng nhịp chậm xoang và hôi chứng Wolff-  
Parkinson-White không theo xu hướng chung này tuy  
có sự gia tăng theo tuổi đến 55 tuổi. Block độ 2 và đô 3  
rất hiếm ở nhóm dân số nghiên cứu này. Block nhánh  
phải có kèm block phân nhánh trái trước không ghi  
nhận trước tuổi 35 có thể xem là hậu quả của tuổi tác  
ở nhóm tuổi cao hơn. Có thể kết luân rằng, lão hóa  
là một yếu tố quan trọng trong rối loạn nhịp tim ghi  
nhận trong ECG 12 chuyển đạo.  
Nhóm tuổi từ 71-80 chiếm tỉ lệ cao nhất (28.7%), ít  
nhất là nhóm <60 tuổi (19,5%). Tuổi trung bình trong  
nghiên cứu của chúng tôi là 70,56 ꢀ 13,76, tương  
đương với một số nghiên cứu khác tại Bệnh viện  
ống Nhất của tác giả Trần ị Mỹ Liên và Nguyễn  
Chí Hiếu5,6. Sở dĩ tuổi trung bình cao là do đối tượng  
nghiên cứu tại Bệnh viện ống Nhất đa số là cán bộ  
hưu trí và người cao tuổi.  
Giới tính  
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ nam/nữ là 1,04,  
không tương đồng với nghiên cứu của Phạm Hòa  
Bình với tỉ lệ bệnh nhân nam tương ứng là 77,1%7.  
Sự khác biệt này có thể do tỉ lệ mắc bệnh tim mạch ở  
nữ ngày càng tăng theo tuổi, đặc biệt là sau mãn kinh  
khi mà phụ nữ phải đối mặt với nhiều nguy cơ tim  
mạch hơn trước đó. Ở nhóm tuổi ≥60 thì nam chiếm  
tỉ lệ cao hơn nữ tuy nhiên sự khác biệt này không có ý  
nghĩa thống kê. ông thường thì tỉ lệ mắc bệnh tim  
mạch của nam giới sẽ cao hơn nữ giới do có nhiều yếu  
tố nguy cơ. Nhưng tỉ lệ giới tính theo nhóm tuổi trong  
nghiên cứu của chúng tôi không khác biệt có thể do  
mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ và khu trú ở  
một bệnh viện mà bệnh nhân đa số là người lớn tuổi  
và cán bộ hưu trí.  
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất ở người  
cao tuổi với tần suất 10,7%. eo nghiên cứu của tác  
47  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
Bảng 3: Cơ cấu các rối loạn nhịp tim theo 03 nhóm tuổi ở đối tượng ≥ 60 tuổi  
Nữ ≥60 tuổi Nam ≥60 tuổi  
Tổng  
60-70  
71-80  
>80  
p
Tổng  
60-70  
71-80  
>80  
p
n = 392  
n = 103  
n = 156  
n = 133  
n = 432  
n = 133  
n = 158  
n = 141  
Có rối 195  
50  
70  
75  
0,143  
225  
60  
81  
84  
0,055  
loạn  
nhịp  
tim  
(49,5)  
(48,5)  
(44,9)  
(56,4)  
(52,1)  
(45,1)  
(51,3)  
(59,6)  
n (%)  
Có rối 109  
28  
42  
39  
0,890  
139  
34  
47  
58  
0,016  
loạn  
nhịp  
nhĩ  
(27,8)  
(27,2)  
(26,9)  
(29,3)  
(32,2)  
(25,6)  
(29,7)  
(41,1)  
Rung  
nhĩ,  
38  
(9,7)  
10  
(9,7)  
20  
(12,8)  
8
(6,0)  
0,150  
0,409  
50  
(11,6)  
6
(4,5)  
20  
(12,7)  
24  
(17,0)  
0,005  
0,657  
Nhịp  
34  
7
12  
15  
31  
11  
9
11  
nhanh  
xoang  
(8,7)  
(6,8)  
(7,7)  
(11,3)  
(7,2)  
(8,3)  
(5,7)  
(7,8)  
Ngoại  
tâm  
thu nhĩ  
18  
(4,6)  
3
(2,9)  
6
(3,8)  
9
(6,8)  
0,317  
0,933  
22  
(5,1)  
3
(2,3)  
8
(5,1)  
11  
(7,8)  
0,113  
0,743  
Có rối 27  
7
10  
10  
27  
9
11  
7
loạn  
nhịp  
thất  
(6,9)  
(6,8)  
(6,4)  
(7,5)  
(6,3)  
(6,8)  
(7,0)  
(5,0)  
Ngoại  
tâm  
thu  
27  
(6,9)  
7
(6,8)  
10  
(6,4)  
10  
(7,5)  
0,933  
0,085  
0,409  
26  
(6,0)  
9
(6,8)  
10  
(6,3)  
7
(5,0)  
0,804  
0,222  
0,783  
thất  
Có rối 89  
loạn  
dẫn  
truyền  
17  
(16,5)  
34  
(21,8)  
38  
(28,6)  
99  
(22,9)  
24  
(18,0)  
42  
(26,6)  
33  
(23,4)  
(22,7)  
Block  
nhĩ  
21  
(5,4)  
3
(2,9)  
9
(5,8)  
9
(6,8)  
23  
(5,3)  
8
(6,0)  
9
(5,7)  
6
(4,3)  
thất độ  
1
Block  
nhánh  
trái  
6
(1,5)  
1
(1,0)  
4
(2,6)  
1
(0,8)  
0,396  
0,458  
16  
(3,7)  
4
(3,0)  
8
(5,1)  
4
(2,8)  
0,523  
0,665  
Block  
nhánh  
trái  
22  
(5,6)  
4
(3,9)  
8
(5,1)  
10  
(7,5)  
26  
(6,0)  
6
(4,5)  
11  
(7,0)  
9
(6,4)  
trước  
Block  
nhánh  
phải  
38  
(9,7)  
7
(6,8)  
13  
(8,3)  
18  
(13,5)  
0,169  
36  
(8,3)  
6
(4,5)  
15  
(9,5)  
15  
(10,6)  
0,149  
48  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
Bảng 4: Cơ cấu các rối loạn nhịp tim theo 03 nhóm tuổi ở đối tượng ≥ 60 tuổi  
60-70 tuổi  
71-80 tuổi  
>80 tuổi  
p
Có rối loạn nhịp nhĩ, 62 (26,3)  
n (%)  
89 (28,3)  
97 (30,1)  
0,053  
0,236  
Nữ  
28 (27,2)  
34 (25,6)  
16 (6,8)  
10 (9,7)  
6 (4,5)  
42 (26,9)  
47 (29,7)  
40 (12,7)  
20 (12,8)  
20 (12,7)  
39 (29,3)  
58 (41,1)  
32 (11,7)  
8 (6,0)  
Nam  
Rung nhĩ, n (%)  
0,066  
0,009  
Nữ  
Nam  
24 (17,0)  
Bảng 5: Tỉ lệ rối loạn nhịp tim so sánh với các nghiên cứu khác  
Nghiên cứu  
Tuổi  
≥60  
Tỉ lệ rối loạn nhịp tim (%)  
Nguyễn Chí Hiếu (n =554)  
Nguyễn Đức Hoàng (n =500)  
Camm (n =106)  
7,8  
42,5 ꢀ 18  
≥75  
2,8  
77,0  
57,0  
50  
Fisch C (n =2482)  
≥70  
Manolio (n =1372)  
Chúng tôi (n =824)  
≥65  
≥60  
51,0  
giả Nguyễn ị Dung thì rung nhĩ thường gặp sau tuổi các bệnh tim mạch mạn tính ổn định nên tần suất rối  
65 và ở nam giới nhiều hơn, tương tự như kết luận của loạn nhịp nặng cũng thấp hơn. eo Yamaguchi và  
chúng tôi13. Tần suất rung nhĩ tăng dần theo tuổi ở cộng sự, ngoại tâm thu trên thất, ngoại tâm thu thất  
nam giới trong khi ở nữ giới thì không có sự khác biệt. và rung nhĩ ở nam cao hơn nữ trên người cao tuổi; tuy  
nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận sự tương  
Chúng tôi ghi nhận tần suất rối loạn nhịp thất ở bệnh  
nhân cao tuổi là 6,6%, trong đó chủ yếu là ngoại tâm  
thu thất chiếm 6,4%. eo Manolio, rối loạn nhịp thất  
ở nữ chiếm tỉ lệ 16% và rối loạn nhịp thất ở nam chiếm  
28%10. Cũng theo nghiên cứu này, rối loạn nhịp thất  
phố biến ở nam nhiều hơn nữ, khác với kết quả nghiên  
cứu của chúng tôi. Còn theo của nghiên cứu của Gar-  
cia và cộng sự ở 94 bệnh nhân trên 70 tuổi ghi nhận rối  
loạn nhịp trên thất và rối loạn nhịp thất xảy ra thường  
xuyên (91% và 89,4%)14. Khoảng 50% bệnh nhân có  
rối loạn nhịp thất phức tạp. Tỉ lệ rối loạn nhịp thất  
ở cả hai giới trong nghiên cứu này đều cao hơn kết  
quả của chúng tôi. Có thể lí giải rằng, tỉ lệ rối loạn  
nhịp thất trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn  
nhiều so với nghiên cứu của hai tác giả là do chỉ theo  
dõi trên điên tâm đồ một thời điểm, không phản ánh  
giống như rối loạn nhịp đo trên Holter 24 giờ mà hai  
nghiên cứu trên sử dụng. Đồng thời, bệnh viện ống  
Nhất có 3 khoa liên quan đến tim mạch bao gồm khoa  
đồng này ở loạn nhịp kiểu rung nhĩ12  
.
Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền ở nhóm người  
cao tuổi là cao hơn nhóm còn lại (p = 0,022). Trong  
các rối loạn dẫn truyền, block nhánh phải chiếm tỷ  
lệ cao nhất (8,9%). Các rối loạn dẫn truyền đa phần  
nam có tần suất cao hơn nữ, ngoại trừ block nhánh  
phải. eo nghiên cứu của Yamaguchi, rối loạn dẫn  
truyền ở nam cao hơn nữ12. Tuy nhiên block nhánh  
trái thường thấy ở nữ nhiều hơn nam trong nhóm  
cao tuổi, khác với nghiên cứu của chúng tôi là block  
nhánh phải.  
HẠN CHẾ  
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có bệnh tim  
mạch đang điều trị tại khoa Nội Tim mạch nên tỉ lệ  
rối loạn nhịp tim cao hơn tỉ lệ ở cộng đồng. Nghiên  
cứu này chỉ phân tích được điện tâm đồ thường quy,  
không theo dõi holter ECG liên tục nên khó phát hiện  
Tim mạch cấp cứu can thiệp là nơi điều trị các bệnh đầy đủ các rối loạn nhịp. Nghiên cứu được thực hiện  
nặng nên có thể tần suất loạn nhịp thất cao hơn, khoa khu trú tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện ống  
Nhịp tim học cũng có tần suất loạn nhịp thất cao hơn Nhất, nơi thường các bệnh nhân bệnh tim mạch diễn  
và có thể can thiệp hiệu quả và khoa Nội tim mạch tiến ốn định nên ít ghi nhân được các dạng rối loạn  
là nơi chúng tôi tiến hành lấy mẫu chủ yếu là điều trị nhịp tim nghiêm trọng. Ngoài khoa Nội Tim mạch,  
49  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Sức khỏe, 1(2):44-51  
bệnh viện ống Nhất còn có khoa Tim mạch cấp cứu  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Chow GV, Marine JE, Fleg JL. Epidemiology of arrhythmias  
and conduction disorders in older adults. Clin Geriatr Med.  
2012;28(4):539–553. PMID: 23101570. Available from: https:  
– can thiệp là nơi tập trung những rối loạn nhịp tim  
nặng và khoa Nhịp tim học là nơi có các rối loạn nhịp  
đặc biệt đồng thời có thể can thiệp chữa trị đặc hiệu.  
2. Kannel WB, Benjamin EJ. Status of the epidemiology of atrial  
fibrillation. Med Clin North Am. 2008;92(1):17–40. PMID:  
3. Tổng cục thống kê. Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm  
1/4/2019 - tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ. Nhà xuất bản  
Thống Kê. 2019;p. 45–52.  
4. Đỗ Trinh T, Đồng TV. Hướng dẫn đọc điện tim. Nhà xuất bản  
Y học. 2002;p. 89–104.  
5. Hiếu NC, Bình PH, Đức Công N. Cơ cấu rối loạn nhịp ở người  
KẾT LUẬN  
Rối loạn nhịp tim là phổ biến ở người cao tuổi, chiếm  
tỉ lệ 51% ờ bệnh nhân ≥ 60 tuổi, tỉ lệ namtương đương  
nữ. Không có sự khác biệt về tỉ lệ rối loạn nhịp tim  
giữa người cao tuổi và người <60 tuổi, tuy nhiên tỉ lệ  
rối loạn nhịp thất và rối loạn dẫn truyền ở người cao  
tuổi là lớn hơn người trẻ. Rung nhĩ là rối loạn nhịp  
tim thường gặp nhất ở người cao tuổi, với tỉ lệ tăng  
dần theo tuổi ở nam giới. Ngoài rối loạn nhịp nhĩ, các  
rối loạn dẫn truyền cũng thường gặp. Rối loạn nhịp  
thất ít gặp, chủ yếu là ngoại tâm thu thất.  
cao tuổi điều trị nội trú tại khoa tim mạch bệnh viện Thống  
Nhất năm 2009. Y Học TP. Hồ Chí Minh. 2012;16(1):6–9.  
6. Liên TTM, Uyên VTN, Đồng LH.  
Nghiên cứu rối  
loạn nhịp tim bệnh nhân tăng huyêt áp bằng  
ở
holter điện tim liên tục 24 giờ tại khoa tim mạch  
bệnh viện Thống Nhất TP HCM. 2014;Available from:  
7. Bình PH, Dũng HT, Vinh CV. Nhân xét về điều trị nhồi máu cơ  
tim cấp tại bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh từ 01/2009  
- 06/2010. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh. 2011;15(2):170–176.  
8. Camm AJ, Evans KE, Ward DE, Martin A. The rhythm of the  
heart in active elderly subjects. Am Heart J. 1980;99(5):598–  
9. Fisch C. Electrocardiogram in the aged: an independent  
marker of heart disease? Am J Med. 1981;70(1):4–6. Available  
10. Manolio TA, Furberg CD, Rautaharju PM, Siscovick D, Newman  
AB, Borhani NO, Gardin JM, Tabatznik B. Cardiac arrhythmias  
on 24-h ambulatory electrocardiography in older women and  
men: the Cardiovascular Health Study. J Am Coll Cardiol.  
1994;23(4):916–925. Available from: https://doi.org/10.1016/  
LỜI CẢM ƠN  
Chúng tôi chân thành cảm ơn ban giám đốc bệnh viện  
ống Nhất, lãnh đạo và toàn thể nhân viên khoa Nội  
Tim mạch đã tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi hoàn  
thành được nghiên cứu này.  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Đây là đề tài tốt nghiệp của sinh viên Khoa Y – Đại  
học Quốc gia ành phố Hồ Chí Minh. Tên các tác  
giả bao gồm nhóm nghiên cứu, người hỗ trợ, người  
hướng dẫn và đã được sự đồng ý của nhóm nghiên  
cứu. Các tác giả không có tranh chấp lợi ích trong  
nghiên cứu này.  
11. Đức Hoàng N, et al. Nghiên cứu rối loạn nhịp tim tim ở người  
trên 15 tuổi tại bệnh viện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp  
chí Y học thực hành. 2010;p. 699–700.  
12. Yamaguchi I, Ito I. Electrocardiographic changes and arrhyth-  
mias in the elderly. J Cardiol Suppl. 1988;19:49–57.  
13. Dung NT, et al. Một số nhận xét qua 585 bệnh nhân bị loạn  
nhịp tim điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng 6 tháng  
đầu năm 2001. Kỷ yếu toàn văn các đê tải khoa học.Tạp chí  
Tim mạch. 2002;29:323–330.  
14. García A, Valdés M, Sánchez V, Soria F, Hernández A, Vicente  
T, Pérez F, Rodriguez P. Cardiac rhythm in healthy elderly sub-  
jects. Clin Investig. 1992;70(2):130–135. Available from: https:  
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ  
Nguyễn Đức Công đã giới thiệu đề tài, hướng dẫn,  
chỉnh sửa, phân tích những mẫu khó và góp ý cho nội  
dung của bài báo.  
Trần Quang Bách, Mai Bá Gia Hữu, Đỗ ị Mỹ Phúc,  
Lê Phương, Trần Bảo Trinh đã đóng góp nội dung,  
tham gia lấy mẫu, hoàn thành các công việc được giao  
để hoàn thiện bài báo.  
Hồ Sĩ Dũng hỗ trợ việc lấy mẫu, phân tích các số liệu,  
viết báo, kiểm tra và đăng báo.  
50  
                         
Science & Technology Development Journal – Health Sciences, 1(2):44-51  
Research article  
Open Access Full Text Article  
Prevalence of arrhythmias in elderly inpatients at department of  
cardiology of Thong Nhat Hospital  
Ho Si Dung1, Tran Quang Bach2, Mai Ba Gia Huu2, Do Thi My Phuc2, Le Phuong2, Tran Bao Trinh2,  
Nguyen Duc Cong3,*  
ABSTRACT  
Objectives: To definite prevalence of arrhythmias in elderly inpatients treated at the Department  
of Cardiology of Thong Nhat Hospital - Ho Chi Minh City from January 2016 to December 2016 and  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
the relationship between arrhythmias and some associated diseases.  
Methods: Retrospective study incorporating a descriptive cross-sectional study, performing a full  
read-back of the routine ECG on 1024 patients treated at the Department of Cardiology of Thong  
Nhat Hospital.  
Results: The rate of arrhythmias in the age 60 years and more is 51%, with 52.1% male and 49.7%  
female, the difference is not statistically significant. Arrhythmias include atrial arrhythmias (30.6%),  
conduction disorders (22.3%) and ventricular arrhythmias (6.6%). Atrial fibrillation accounts for  
10.7%. The rate of arrhythmias in the control group (younger than 60 years old) was 46% and the  
difference was not statistically significant with the research group (p>0.05).  
Conclusions: Arrhythmias are frequent in the elderly and equal between men and wonmen. Atrial  
fibrillation is the most common arrhythmia in the elderly and gradually increases in men after age of  
60. There is no difference in the prevalence of arrhythmias among the elderly and younger people.  
Key words: arrhythmia, electrocardiogram, elderly  
1Pham Ngoc ach Univesity of  
Medicine, Ho Chi Minh City, Vietnam  
2School of Medicine, Vietnam National  
University Ho Chi Minh City, Vietnam  
3ong Nhat Hospital, Ho Chi Minh  
City, Vietnam  
Correspondence  
Nguyen Duc Cong, Thong Nhat Hospital,  
Ho Chi Minh City, Vietnam  
Email: cong1608@gmail.com  
History  
• Received: 30-7-2020  
• Accepted: 20-12-2020  
• Published: 27-12-2020  
DOI :  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Dung H S, Bach T Q, Huu M B G, Phuc D T M, Phuong L, Trinh T B, Cong N D. Prevalence  
of arrhythmias in elderly inpatients at department of cardiology of Thong Nhat Hospital. Sci. Tech.  
Dev. J. - Health Sci.; 1(2):44-51.  
51  
pdf 8 trang yennguyen 21180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tỉ lệ các rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa Tim mạch - Bệnh viện Thống Nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfti_le_cac_roi_loan_nhip_tim_tren_benh_nhan_cao_tuoi_dieu_tri.pdf