Đặc điểm về nguyên nhân suy thận cấp ở người lớn tuổi

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUYÊN NHÂN SUY THẬN CẤP Ở NGƯỜI LỚN TUỔI  
Nguyễn Bách*, Nguyễn Đức Công*, Vũ Đình Hùng**, Châu Thị Kim Liên***  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: tìm hiểu một số nguyên nhân suy thận cấp trước thận, tại thận và sau thận thường gặp ở bệnh  
nhân lớn tuổi tại Bệnh Viện Thống Nhất và Chợ Rẫy.  
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Đối tượng: Có tất cả 202 BN được chẩn đoán STC tại Bệnh Viện Thống Nhất và Khoa Nội Thận - Bệnh  
Viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2006 đến tháng 10/2011 được đưa vào nghiên cứu.  
Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, quan sát, mô tả có đối chứng.  
Xử lý số liệu thống kê: Dựa theo các thuật toán thống kê y học thông thường với phần mềm SPSS 13.0.  
Kết quả: Tỷ lệ STC có nguyên nhân trước thận, tại thận và sau thận ở NLT so với người trẻ tuổi lần lượt  
là: 71,53 % so với 56,92 %; 18,25 % so với 35,38 % và 10,22 % so với 7,70 % (p < 0,05). Nhiễm khuẩn nặng,  
choáng nhiễm khuẩn là nguyên nhân chính trong nhóm STC trước thận ở NLT 67,35 % so với 35,14 % ở  
người trẻ (p < 0,001). Các nguyên nhân trong nhóm STC tại thận ở NLT so với người trẻ: hoại tử ống thận do  
thuốc: 88 % so với 34,78 %; tổn thương tại cầu thận: 0 % so với 65,22 % (p < 0,001). Nguyên nhân chính  
trong nhóm STC sau thận ở NLT là u chèn ép hệ niệu (57,15%)  
Kết luận: Ở NLT, STC có nguyên nhân trước thận thường gặp nhất ở NLT (71,53 %). Nguyên nhân chủ  
yếu là bệnh lý nhiễm khuẩn nặng, choáng nhiễm khuẩn với tiêu điểm từ phổi (56,58 %). STC có nguyên nhân  
tại thận chỉ đứng hàng thứ 2 (18,25 %), chủ yếu là do các thuốc độc thận. Bệnh lý u từ vùng tiểu khung là  
nguyên nhân chính của STC sau thận, chiếm tỷ lệ thấp (10,22 %).  
Từ khoá: suy thận cấp (STC), người lớn tuổi (NLT)  
ABSTRACT  
ETIOLOGIES OF ACUTE RENAL FAILURE IN THE ELDERLY  
Nguyen Bach, Nguyen Duc Cong, Vu Dinh Hung, Chau Thi Kim Lien  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 179 - 184  
Objective: investigating etiologies of prerenal, intrarenal and postrenal acute failure in Thong Nhat and  
Cho Ray hospital  
Patients and methods: Patients: 202 ARF patients in Thong Nhat and Cho Ray hospital from Oct, 2006  
to Oct, 2011 were enrolled the study. ARF definition is abruptly increasing of serum creatinin ≥ 176.8 µmol/L  
(2mg/dl). Method: prospective and controlled.  
Stastictical analysis was performed by using SPSS version 13.0 with standard analysis..  
Results: Percentage of prerenal, intrarenal and postrenal acute failure etiologies in the elderly versus the  
young was 71.53 % vs 56.92 %; 18.25 % vs 35.38 % and 10.22 % vs 7.70 % (p <0.05). The major cause of  
prerenal acute failure in the elderly versus the young was septic shock: 67.35 % vs 35.14 % (p < 0.001). The  
major causes of intrarenal acute failure in the elderly versus the young were ATN: 88 % vs 34.78 %; glomerular  
**  
***  
* Bệnh viện Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh Học Viện Quân Y  
Tác giả liên lạc: ThS. BS. Nguyễn Bách ĐT: 0918209808  
Bệnh Viện Chợ Rẫy  
179  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
diseases: 0 % vs 65.22 % (p < 0.001). Postrenal causes in the elderly was metastic tumor: 57.15 %  
Conclusions: prerenal renal failure was most common cause in the lederly (71.53 %) in which septic shock  
was the main cause. Intrarenal failure was the second cause (18.25 %), mainly due to nephrotoxic drugs.  
Metastatic tumor was major cause of postrenal failure (10.22 %).  
Key words: Acute renal failure, elderly, etiologies  
MỞ ĐẦU  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng  
Nguyên nhân suy thận cấp (STC) ở người lớn  
tuổi thường khác so với người trẻ. Hiện tại chưa  
có sự thống nhất về tần suất các nhóm nguyên  
nhân STC trước thận và tại thận ở người lớn tuổi  
(NLT). Đa số các tác giả đều thống nhất rằng  
nhóm nguyên nhân STC trước thận là thường  
gặp nhất, kể cả ở NLT(2,10,5,12). Tuy nhiên, có  
nghiên cứu cho rằng nguyên nhân STC ở NLT  
khác với ở người trẻ tuổi ở điểm là STC tại thận là  
nguyên nhân thường gặp nhất và STC trước thận  
chỉ là nguyên nhân thường gặp thứ 2 (chỉ chiếm  
1/3)(13). Nhưng cũng có tác giả lại cho rằng khó  
phân biệt rạch ròi giữa nguyên nhân STC trước  
và tại thận ở NLT mà thường là do nhiều yếu tố  
kết hợp(3,7). Sự khác biệt này có thể do cách phân  
loại STC và do tần suất các nguyên nhân khác  
nhau.  
Nguyên nhân STC rất phong phú và có xu  
hướng thay đổi theo thời gian, vị trí địa lý và  
điều kiện kinh tế - xã hội: STC ở nước phát triển  
và ở thành thị có những nguyên nhân, đặc điểm  
khác với STC ở nước đang phát triển và ở vùng  
nông thôn. Nhóm nguyên nhân STC sau thận  
ngày nay cũng ít gặp hơn nhờ những tiến bộ  
trong chẩn đoán và điều trị sớm.  
Có tất cả 202 bệnh nhân được chẩn đoán STC  
tại Bệnh Viện Thống Nhất và Khoa Nội Thận -  
Bệnh Viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2006 đến tháng  
10/2011 được đưa vào nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn chọn bệnh  
Độ tuổi: 2 nhóm tuổi. Nhóm 1 (NLT) ≥ 60  
tuổi, có 137 BN. Nhóm 2 (người trẻ): 18 - 59 tuổi,  
có 65 BN.  
Chẩn đoán STC: creatinin huyết thanh tăng ≥  
176,8 µmol/L (2mg/dl) và xác định được ít nhất 1  
nguyên nhân gây ra STC(1,7).  
Đầy đủ các thông tin, xét nghiệm như bệnh  
án nghiên cứu đề ra.  
BN và gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ: khi có 1 trong các yếu tố  
như không xác định được nguyên nhân STC, tiền  
sử suy thận mạn (creatinin huyết thanh 3 tháng  
trước > 176,8 µmol/L), khi nhập viện đã có các  
biểu hiện của suy thận mạn rõ ràng như thiếu  
máu mạn nặng, siêu âm 2 thận teo hoặc tăng cản  
âm vùng vỏ thận trên siêu âm, tử vong trong  
vòng 24 giờ sau khi nhập viện, BN hoặc gia đình  
từ chối và không được theo dõi và làm xét  
nghiệm chức năng thận đầy đủ.  
Một số nguyên nhân thường gặp ở NLT:  
nhiễm khuẩn nặng/nhiễm khuẩn huyết và sốc  
nhiễm khuẩn; thiếu dịch, xuất huyết tiêu hóa  
nặng, hạ huyết áp; suy tim nặng; sau phẫu thuật  
tim mạch, STC ở bệnh nhân ung thư, STC do sử  
dụng thuốc độc thận và u chèn ép đường niệu(4).  
Phương pháp nghiên cứu  
Tiến cứu, quan sát, mô tả có đối chứng.  
Tiêu chuẩn chẩn đoán nguyên nhân gây STC  
dùng trong nghiên cứu(4).  
Đề tài này được thực hiện với mục tiêu: tìm  
hiểu một số nguyên nhân suy thận cấp trước  
thận, tại thận và sau thận thường gặp ở bệnh  
nhân lớn tuổi tại Bệnh Viện Thống Nhất và  
Chợ Rẫy.  
STC trước thận  
Sốc giảm thể tích (mất máu, mất nước); sốc  
tim (nhồi máu cơ tim cấp, hội chứng ép tim, viêm  
cơ tim cấp); sốc nhiễm khuẩn (NK huyết, viêm  
tụy cấp, sốt xuất huyết); sốc chấn thương; sốc  
phản vệ; hội chứng gây giảm khối lượng tuần  
180  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
hoàn (xơ gan, hội chứng thận hư, suy tim nặng,  
Nghiên cứu Y học  
NLT  
chứng  
(n= 98) (n = 37)  
suy dinh dưỡng nặng).  
17  
(17,35)  
66  
(67,35)  
5 (13,51)  
> 0,05  
Thiếu dịch, mất má u  
STC tại thận  
nặng, n (%)  
13 (35,14) 29,02 < 0,01  
4 (10,81)  
Nhiễm khuẩn nặng,  
Nhóm nguyên nhân gây hoại tử ống thận  
choá ng nhiễm khuẩn,  
cấp (nhiễm độc: kim loại nặng, nấm độc, mật  
ong, cá trắm, kháng sinh aminoglycosid, thuốc  
cản quang, manitol, thuốc điều trị ung thư; tình  
trạng sốc: lúc đầu là STC chức năng sau đó  
chuyển thành STC thực thể; tắt ống thận do  
myoglobin hoặc hemoglobin, ngộ độc heroin).  
Nhóm nguyên nhân gây viêm kẽ thận cấp tính  
(do thuốc: kháng viêm không steroid, thiazid,  
allopurinol, do tăng acid uric, canxi máu. Nhóm  
do viêm cầu thận (viêm cầu thận cấp sau nhiễm  
liên cầu, viêm cầu thận tiến triển nhanh, viêm  
cầu thận Lupus) và nhóm do bệnh lý mạch thận.  
n (%)  
Choá ng tim, suy tim  
12  
(12,24)  
nặng, n (%)  
3 (3,06) 13 (35,14)  
Hội chứng thận hư, xơ  
gan, n(%)  
0 (0)  
2 (5,40)  
Sốc chấn thương, n  
(%)  
Bảng 4: Các nguyên nhân chính của suy thận cấp tại  
thận.  
Nguyên nhâ n  
Nhó m NLT Nhó m  
p
chứng  
22 (88)  
8 (34,78) < 0,001  
Hoại tử ống thận do thuốc,  
n (%)  
n = 22  
7 (31,82)  
3 (13,64)  
3 (13,64)  
2 (9,09)  
2 (9,09)  
n = 8  
1 (12,5)  
0 (0)  
Cá c thuốc, n (%)  
Thuốc cản quang  
Aminoglycoside  
Allopurinol  
STC sau thận  
Sỏi thận, niệu quản; u chèn ép tắc đường tiểu;  
viêm xơ, chít hẹp đường niệu.  
0 (0)  
Manitol  
0 (0)  
Xử lý số liệu thống kê  
0 (0)  
Hoá trị  
Dựa theo các thuật toán thống kê y học thông  
thường và dùng máy vi tính với phần mềm SPSS  
13.0.  
Khá ng viêm khô ng steroid 2 (9,09)  
1 (12,5)  
0 (0)  
Pheformin  
Sulfaganidine  
Heroin  
1 (4,54)  
1 (4,54)  
0 (0)  
0 (0)  
KẾT QUẢ  
1 (12,5)  
5 (62,5)  
1 (4,54)  
Thuốc đông y không rõ  
loại, rượu thuốc…  
Tổn thương tại cầu thận  
Viêm cầu thận cấp, n (%)  
Bảng 1: Các đặc điểm chung của bệnh nhân trong  
nghiên cứu  
Đặc điểm  
Nhó m NLT Nhó m chứng  
n =137 n = 65  
76,6 ± 7,65 37,1 ± 12,9 < 0,001  
100/37 42/23 0,146  
p
0 (0)  
0 (0)  
9 (39,13)  
6 (26,09)  
Ong đốt, ăn mật cá trắm, n  
Tuổi trung bì nh  
(%)  
Giới tí nh: nam/nữ  
3 (12)  
0
Bệnh lý mạch thận, n (%)  
Bảng 2: Các nhóm nguyên nhân chính gây suy thận  
cấp  
Tổng, n (%)  
25 (100)  
23 (100)  
Bảng 5: Các nguyên nhân gây suy thận cấp sau thận  
Nguyên nhâ n sau thận Nhó m NLT  
Sỏi đường niệu, n (%)  
Hẹp niệu quản, n (%)  
U tiền liệt tuyến, n (%)  
χ 2  
Nhó m nguyên Nhó m NLT  
Nhó m  
chứng  
p
Nhó m chứng  
nhâ n  
1 (7,14)  
4 (28,57)  
1 (7,14)  
2 (40)  
1 (20)  
0 (0)  
2 (40)  
98 (71,53) 37 (56,92)  
STC trước thận, n  
(%)  
25 (18,25) 23 (35,38) 7,155 0,028  
STC tại thận, n  
(%)  
8 (57,15)  
U xâ m lấn, chè n é p, n  
14 (10,22)  
137 (100)  
5 (7,70)  
65 (100)  
STC sau thận, n  
(%)  
(%)  
Tổng, n (%)  
14 (100)  
5 (100)  
Tổng, n (%)  
Bảng 3: Suy thận cấp trước thận: các nguyên nhân  
chính  
χ 2  
Nguyên nhâ n  
Nhó m Nhó m  
p
181  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
máu tưới thận, một số trường hợp ghi nhận có  
tình trạng co mạch thận quá mức nhất là ở NLT  
(rối loạn phân bố tưới máu tại thận), sử dụng oxy  
BÀNLUẬN  
Về nhóm nguyên nhân STC  
Có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ các nhóm  
nguyên nhân STC ở 2 nhóm tuổi (bảng 2). Ở  
BN lớn tuổi, STC trước thận là nhóm nguyên  
nhân thường gặp nhất: 71,53 % so với 56,92 %;  
p < 0,05. Trong khi đó, tỷ lệ STC tại thận ở  
người trẻ tuổi cao hơn ở NLT: 35,38 % so với  
18,25 %; p < 0,05. Tỷ lệ này tương tự với các tác  
giả Brenner (55 -60 %)(2) và Ricardo(12) nhưng  
cao hơn so với Rachel Hilton (45-50 %)(5) và  
Pascual (STC trước thận ở người > 70 tuổi là 47  
% cao hơn so người trẻ là 32 %)(10). Các tác giả  
trên đều có một điểm chung là STC trước thận  
là thường gặp nhất kể cả ở BN lớn tuổi nhưng  
tần suất thì khác nhau có thể do mẫu nghiên  
cứu khác nhau ở các quốc gia. Tuy nhiên, theo  
Wan STC, STC trước thận chỉ là nguyên nhân  
thường gặp thứ 2 ở NLT (chiếm 1/3 các nguyên  
nhân) và STC tại thận mới là nguyên nhân  
hàng đầu(13). Trong nghiên cứu này, BN chủ  
yếu tại ICU và với quan niệm STC do nhiều  
yếu tố kết hợp nên tác giả xếp các nguyên  
nhân như thiếu dịch và hạ huyết áp, nhiễm  
khuẩn huyết…có kết hợp với sử dụng thuốc  
độc thận vào nhóm STC tại thận do vậy tỷ lệ  
nhóm này cao.  
của tế bào bị tổn thương(11,13)  
.
Nguyên nhân hàng thứ 2 trong nhóm STC  
trước thận ở NLT là thiếu dịch và mất máu nặng.  
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ STC do thiếu dịch, mất máu  
nặng ở NLT và người trẻ tương đương nhau, lần  
lượt là 17,35 % và 13,51 %. Tuy nhiên, có sự khác  
biệt về các nguyên nhân cụ thể theo nhóm tuổi.  
Nguyên nhân thiếu dịch ở NLT chủ yếu do BN  
ăn uống kém, suy kiệt và tăng đường huyết gây  
lợi niệu thẩm thấu hoặc do mắc các bệnh lý cấp  
như sốt cao, nhiễm khuẩn, COPD…với thận đã  
có sự suy giảm chức năng do tuổi cao nên khi có  
thêm yếu tố thiếu nước sẽ rất dễ gây STC. Ở NLT  
mức độ mất nước không đến độ tụt huyết áp,  
nhưng có thể xảy ra rối loạn chức năng thận. Do  
vậy ở BN lớn tuổi khi có nguyên nhân mất nước  
như sốt, khó thở, tiêu chảy... nên bù dịch đủ để  
tránh xảy ra STC. Không nên để đến lúc có triệu  
chứng thiếu dịch trên lâm sàng hoặc CVP thấp  
rồi mới bù dịch. Trong khi đó, ở người trẻ  
nguyên nhân thiếu dịch chủ yếu là do mất máu  
cấp do rong kinh nặng, xuất huyết tiêu hoá  
nặng, đa chấn thương…  
Nguyên nhân cũng thường gặp của STC  
trước thận là giảm cung lượng tim. Mặc dù tỷ  
lệ nhóm nguyên nhân này không khác biệt ở 2  
nhóm tuổi (12,24% so với 10,81%) nhưng có sự  
khác biệt về nguyên nhân cụ thể. Choáng tim ở  
NLT thường gặp do nhồi máu cơ tim cấp,  
trong khi đó ở người trẻ chủ yếu do viêm cơ  
tim cấp với biến chứng nặng.  
Trong nhóm nguyên nhân STC trước thận  
còn có nguyên nhân do giảm áp lực keo. Hội  
chứng thận hư ít gặp ở NLT nên cũng ít gặp  
biến chứng này. Trong khi đó, ở người trẻ STC  
thường do hội chứng thận hư đáp ứng điều trị  
kém với liệu pháp ức chế miễn dịch. Các BN  
trẻ tuổi bị hội chứng thận hư ở các tỉnh, ít tuân  
thủ điều trị trong giai đoạn ngoại trú, bỏ thuốc  
nên khi nhập viện thường với biểu hiện hội  
nặng với biến chứng STC. Xơ gan là bệnh lý  
Đối với nhóm nguyên nhân trước thận  
Bảng 3 cho thấy nhiễm khuẩn nặng, choáng  
nhiễm khuẩn là nguyên nhân hàng đầu của  
nhóm này (67,35 %). Tiêu điểm nhiễm khuẩn  
thường là viêm phổi nặng với biến chứng suy hô  
hấp, nhiễm khuẩn huyết. Tác nhân phân lập  
được: E coli, Klebsiella pneumonia, Pseudomonas  
aegunosa hoặc kết hợp 2 chủng vi khuẩn trên.  
NLT có sức đề kháng giảm nên dễ bị nhiễm  
khuẩn và khi bị nhiễm khuẩn thì thường nặng.  
Ngoài ra, nhiễm khuẩn ở NLT thường là tiềm ẩn,  
khó nhận biết do thường không có biểu hiện sốt  
hoặc chỉ sốt nhẹ, giảm khả năng tăng bạch cầu và  
giảm đáp ứng viêm toàn thân. Có nhiều giả  
thuyết được đưa ra để giải thích cơ chế bệnh sinh  
của STC trong nhiễm khuẩn như do giãn mạch  
toàn thân, giãn mạch thận gây giảm lưu lượng  
182  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
thường gặp hơn ở NLT và có thể có biến chứng  
STC (hội chứng gan thận). Nguyên nhân sốc  
chấn thương do tai nạn giao thông trong  
nghiên cứu này cũng chỉ gặp ở người trẻ.  
thường do các bệnh lý ung thư di căn chèn ép hệ  
niệu như K đại - trực tràng, K tử cung xâm lấn  
gây chèn ép bế tắt đường niệu. Các nguyên nhân  
này ít gặp ở người trẻ hơn. Trong khi đó, STC  
sau thận ở người trẻ chủ yếu là do tắt nghẽn niệu  
quản 2 bên do sỏi. Tìm hiểu lý do các BN STC  
sau thận vào viện trễ chúng tôi thấy rằng STC do  
nguyên nhân K chèn ép thường xảy ra chậm, từ  
từ không xảy ra đột ngột như trong STC sau thận  
do sỏi nên BN “thích nghi” dần dần và thường  
nhập viện rất trễ với các biến chứng của STC như  
nôn ói, lơ mơ, xuất huyết tiêu hoá…và cần phải  
lọc máu cấp cứu trước khi điều trị nguyên nhân  
gây bế tắt đường tiểu.  
STC tại thận là nguyên nhân thứ hai của  
STC, chiếm tỷ lệ 34-40 % chung cho các nhóm  
tuổi(2). Trong nghiên cứu này, tỷ lệ STC tại thận  
chiếm 35% ở người trẻ và cao hơn ở NLT (bảng  
2). Bảng 4 mô tả các nguyên nhân gây STC tại  
thận ở 2 nhóm tuổi. Có sự khác biệt về tỷ lệ các  
nguyên nhân gây STC tại thận ở 2 nhóm tuổi.  
Hoại tử ống thận cấp do thuốc là nguyên nhân  
thường gặp nhất ở NLT (88%). Một số thuốc đã  
được xác nhận là có độc tính cao với thận như  
kháng sinh nhóm aminoglycoside, kháng viêm  
không steroid (KVKS), manitol, thuốc cản  
quang, thuốc hoá trị ung thư (cisplatin),  
sulfonamide, heroin, thuốc đông y không rõ  
nguồn gốc…(9). Trong nghiên cứu này, các thuốc  
gặp theo thứ tự kháng sinh aminoglycoside,  
thuốc cản quang dùng can thiệp mạch máu,  
manitol và thuốc điều trị ung thư sử dụng để hoá  
trị. Các thuốc này cũng được báo cáo trong các  
nghiên cứu của các tác giả Harbir Kohli(7) và Joao  
F P. Oliveira(9). Trong khi đó ở người trẻ, các  
nguyên nhân STC tại thận là hoàn toàn khác:  
nguyên nhân hàng đầu là bệnh lý viêm cầu thận  
cấp điều trị chưa đầy đủ, ong đốt, ăn mật cá  
trắm... Ở người trẻ tuổi, STC tại thận do thuốc  
cũng có thể gặp nhưng thường do các thuốc sử  
dụng tại cộng đồng như các đông dược không rõ  
nguồn gốc... Nghiên cứu này còn ghi nhận có 3  
trường hợp STC ở NLT xảy ra trong bệnh cảnh  
hẹp mạch thận do xơ vữa mạch máu nặng do vậy  
cũng cần lưu ý thêm nhóm nguyên nhân STC do  
bệnh lý mạch máu vốn rất phổ biến ở NLT.  
KẾT LUẬN  
Qua nghiên cứu về các nhóm nguyên nhân  
suy thận cấp ở 137 bệnh nhân lớn tuổi và 65 bệnh  
nhân trẻ tuổi tại Bệnh Viện Thống Nhất và Chợ  
Rẫy, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:  
Suy thận cấp có nguyên nhân trước thận  
thường gặp nhất ở người lớn tuổi (71,53%).  
Nguyên nhân chủ yếu là bệnh lý nhiễm khuẩn  
nặng, choáng nhiễm khuẩn với tiêu điểm từ  
phổi (56,58%).  
Suy thận cấp có nguyên nhân tại thận  
đứng hàng thứ 2 (18,25%), chủ yếu là do các  
thuốc độc thận được sử dụng trong chẩn đoán  
và điều trị. Các thuốc thường gặp theo thứ tự  
là thuốc cản quang (31,82%), kháng sinh  
aminoglycoside  
(13,64%),  
allopurinol  
(13,64%), manitol và thuốc hoá trị ung thư.  
Bệnh lý u từ vùng tiểu khung là nguyên  
nhân chính của suy thận cấp sau thận, chỉ  
chiếm 10,22 %.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
STC sau thận chiếm tỷ lệ thấp, chỉ < 5%(2).  
Trong nghiên cứu này tỷ lệ STC sau thận cao hơn  
y văn, lần lượt là 10,22 % và 7,70% ở NLT và ở  
người trẻ. Kết quả này tương tự Lamiere với 9% ở  
NLT và 4,8 % ở người trẻ(8). Bảng 5 mô tả các  
nguyên nhân STC sau thận ở 2 nhóm tuổi. Điểm  
quan trọng hơn là có sự khác biệt về nguyên  
nhân STC sau thận ở 2 nhóm tuổi. Nguyên nhân  
STC sau thận ở NLT trong nghiên cứu này  
1.  
2.  
3.  
4.  
Baraldi. A. (1998). Acute renal failure of medical type in an elderly  
population. Nephrol Dial Transplant 13 (Suppl 7): 25-29.  
Brenner BM (2001). Acute Renal Failure. The Kidney, Fifth  
edition. Page 1200-1253.  
Davidman M, Olson P, Kohen J (1991). Iatrogenic renal disease.  
Arch Internn MedSep, 151 (9): 1809-1812.  
Hà Hoàng Kiệm (2009). “Hội chứng suy thận cấp”. Điều trị nội  
khoa. Trang 13-22. Học viện quân y. NXB Quân đội nhân dân.  
2009.  
5.  
Hilton R (2006). Acute kidney injury. Review. Brishtist Medical  
Journal. 333,786-790  
183  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
6.  
7.  
Himmelfarb J, Ikizler TA. (2007). Changing lexicography  
10. Pascual J, Orofino L, Liaño F, Marcén R, Naya MT, Orte L,  
Ortuño J. (1990). Incidence and prognosis of acute renal failure in  
older patients. J Am Geriatr Soc. Jan;38(1):25-30.  
11. Schrier RW (2004). Acute renal failure and sepsis. New England  
Journal Medicine 351; 159-69.  
12. Sesso R, Roque A, Visioso B and Stella S (2004). Prognosis of  
Acute Renal Failure in Hospitalised Elderly Patients. American  
Journal of Kidney Disease, Vol 44, N3(September). pp 410-419.  
13. Wan L, Bellomo R, Di Giantomasso D, Ronco C. (2003). The  
pathogenesis of septic acute renal failure. Curr Opin Crit Care. 9(6):  
p. 496-502.  
definition andepidermiology. Kidney International 71, 971-976.  
Kohli HS, Bhat A, Aravindan AN, Sud K, Jha V, Gupta KL,  
Sakhuja V (2007). Predictors of mortality in elderly patients with  
acute renal failure in a developing country. Int Urol Nephrol.  
2007;39(1):339-44. Epub 2007 Jan.  
Lameire N, Van Biesen W, Vanholder R (2005). Acute renal  
failure. The Lancet. 365(9457): p. 417-430.  
Oliveira JFP, Silva CA, Barbieri CD, Oliveira GM, Zanetta DMT,  
and Burdmann EA (2009). Prevalence and risk factors for  
aminoglycoside nephrotoxicity in ICU. Antimicrobial agents and  
chemotherapy. July, 2887-2891.  
8.  
9.  
184  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
pdf 6 trang yennguyen 16120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm về nguyên nhân suy thận cấp ở người lớn tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_ve_nguyen_nhan_suy_than_cap_o_nguoi_lon_tuoi.pdf