Ảnh hưởng của các bệnh lý nội khoa, các rối loạn tâm thần và việc sử dụng thuốc trên người cao tuổi mất ngủ

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
ẢNHHƯỞNGCỦACÁCBỆNHLÝNỘIKHOA,CÁCRỐILOẠNTÂMTHẦN VÀ  
VIỆC SỬ DỤNG THUỐC TRÊN NGƯỜI CAO TUỔI MẤT NGỦ  
Đỗ Thị Xuân Hương*, Nguyễn Minh Đức**, Nguyễn Văn Trí ***, Ngô Tích Linh ****  
TÓM TẮT  
Mở đầu: Hầu hết những người cao tuổi khi đến phòng khám bệnh đều phàn nàn với bác sỹ họ bị khó ngủ  
hoặc mất ngủ. Ngày nay, chứng mất ngủ đã được thừa nhận là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng  
đến sức khỏe cũng như chất lượng sống của người cao tuổi. Tỷ lệ mất ngủ ở người cao tuổi ngày càng cao và có  
rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến giấc ngủ ở người cao tuổi. Nghiên cứu này nhằm tìm ra những bệnh lý nội  
khoa, những rối loạn tâm thần và những thuốc đang sử dụng ở người cao tuổi bị mất ngủ.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng. Có 306 bệnh nhân tham gia nghiên cứu phân thành 2  
nhóm: nhóm mất ngủ (161) và nhóm chứng (145). Các đối tượng tham gia đều được điều tra đầy đủ như nhau  
về các đặc điểm dịch tễ học, các bệnh lý nội khoa, tâm thần, các yếu tố môi trường, các thói quen cá nhân và các  
đặc điểm của giấc ngủ của họ.  
Kết quả: Các yếu tố có liên quan ghi nhận gồm bệnh lý dạ dày (OR=2,67), bệnh khớp mãn (OR=2,07), suy  
thận mãn (OR=4,51), bệnh mạch vành (OR=2,28), bệnh lý trầm cảm và rối loạn lo âu (p<0,001), dùng corticoides  
(OR=2,14), dãn phế quản (OR=2,04).  
Kết luận: Có nhiều yếu tố liên quan đến mất ngủ người cao tuổi trong đó số lượng các bệnh lý nội khoa, số  
lượng thuốc sử dụng, một số bệnh lý nội khoa và nhất là các rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu là ghi nhận có liên  
quan mạnh.  
Từ khóa: mất ngủ, người cao tuổi.  
ABSTRACT  
THE ASSOCIATION OF MEDICAL DISEASES, MENTAL DISORDERS AND THE USE OF DRUGS IN THE  
INSOMNIA ELDERLY  
Do Thi Xuan Huong, Nguyen Minh Duc, Nguyen Van Tri, Ngo Tich Linh  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 376 - 381  
Introduction: Most elderly patients who went to the clinic complained to doctors that they had trouble with  
sleeping or insomnia. Today, insomnia has been acknowleged as one of the causes affecting the health and quality  
of life of the elderly.The rate of insomnia in the elderly is increasing and there are many factors affecting the sleep  
in the elderly. The aim of this study is to find out the medical conditions, mental disorders and the drugs that have  
been being used in the insomnia elderly.  
Research methodology: case-control study. There are 306 patients in the study divided into two groups:  
insomnia (161) and control group (145). The participants were equally under full investigation of the  
epidemiological characteristics, other medical conditions, mental, environmental factors, personal habits and  
characteristics of their sleep.  
Results: The factors related records, including gastric pathology (OR = 2.67), arthritis patients (OR = 2:07),  
** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. ** Bộ môn Lão khoa, ĐHYD TP Hồ Chí Minh  
*** Bộ Môn Tâm Thần, ĐHYD TP Hồ Chí Minh.  
Tác giả liên lạc: BS Đỗ Thị Xuân Hương  
ĐT :0903883573  
376  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
chronic renal failure (OR = 4:51), coronary artery disease (OR = 2.28), disease Management of depression and  
anxiety disorders (p <0.001), use corticoides (OR = 2.14), bronchodilators (OR = 2:04).  
Conclusion: There are many factors associated with insomnia in the elderly, however the number of medical  
conditions, the numbers of drug used, some medical conditions and particularly depressive disorders, anxiety  
disorders are recorded that strongly related.  
Key words: insomnia, elderly.  
Những rối loạn nầy xảy ra ít nhất 3 lần trong  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
1 tuần, kéo dài ít nhất 1 tháng, gây ra những khó  
Tỷ lệ mất ngủ ở người cao tuổi ngày càng  
chịu và biến chứng trong ngày.  
cao. Có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến giấc  
Khó duy trì tình trạng thức ngủ hay chu kỳ  
ngủ ở người cao tuổi: bệnh lý nội khoa, tâm  
thức ngủ hằng định.  
thần, thuốc men, môi trường....Vấn đề nghiên  
Có các vấn đề khác gây cản trở giấc ngủ.  
cứu là “tại sao tỉ lệ mất ngủ ở người cao tuổi  
đang gia tăng?”. Ở nước ta giấc ngủ người cao  
tuổi chưa được quan tâm đến, rất ít công trình  
nghiên cứu về vấn đề nầy. Từ thực tiễn này  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu về các yếu tố  
liên quan góp phần ảnh hưởng gây mất ngủ ở  
người cao tuổi mà trong nghiên cứu này là  
những bệnh lý nội khoa, những rối loạn tâm  
thần và những thuốc đang sử dụng ở người cao  
tuổi.  
- Nhóm chứng: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥  
60 tuổi) có vấn đề về nội khoa, tâm thần ... đến  
BV khám và điều trị nhưng không bị mất ngủ.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Bệnh nhân có rối loạn tri giác hoặc hôn mê.  
Bệnh nhân bệnh tâm thần thuộc nhóm loạn  
thần đã được chẩn đoán xác định trước đó và  
đang điều trị.  
Cỡ mẫu  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Được tính theo công thức sau:  
Đối tượng nghiên cứu  
2
Z 1/2 2P 1P Z  
1 1   
P 1P P 1P  
1   
1 2   
2   
1  
   
Dân số mục tiêu  
n   
2
P P  
2   
Tất cả bệnh nhân cao tuổi ≥ 60 tuổi có mất  
ngủ và không mất ngủ đến khám và điều trị nội  
ngoại trú tại BV Thống Nhất và BV Nguyễn Tri  
Phương từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 5 năm  
2010 vì những nguyên nhân khác nhau.  
1
→ n = 121 người cho mỗi nhóm bệnh và chứng.  
Thực tế chúng tôi thu thập được 161 BN nhóm  
mất ngủ và 145 bệnh nhân nhóm chứng.  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Tiêu chuẩn chọn mẫu  
Thiết kế nghiên cứu  
- Nhóm bệnh: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥  
60 tuổi) có vấn đề về mất ngủ đồng ý tham gia  
nghiên cứu:  
Nghiên cứu bệnh chứng.  
Phương pháp tiến hành nghiên cứu  
- Trực tiếp thu thập dữ liệu từ bệnh nhân  
đến khám tại Khoa Khám bệnh, Khoa Lão, các  
Khoa Nội Tổng hợp BV Nguyễn Tri Phương và  
BV Thống Nhất với các tiêu chuẩn chọn bệnh và  
các tiêu chuẩn loại trừ nêu trên.  
Thời gian đi vào giấc ngủ kéo dài trên 30  
phút.  
Trong giấc ngủ, thời gian tỉnh giấc nhiều  
lần, thời gian tổng cộng trên 30 phút.  
Thức dậy buổi sáng quá sớm.  
- Các bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên  
cứu sẽ được:  
Cảm giác mệt mỏi sau khi thức dậy và ngủ  
ngày quá nhiều.  
* Khám lâm sàng đánh giá tình trạng mất  
ngủ và không mất ngủ.  
377  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
* Thực hiện bảng câu hỏi khảo sát về rối  
loạn giấc ngủ (RLGN) và các thang điểm đánh  
giá tình trạng tâm thần.  
Bảng 4. Số bệnh lý mãn tính trên một bệnh nhân  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Chung  
Số bệnh  
lý  
BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ %  
Không  
1 bệnh  
2 bệnh  
> 2 bệnh  
Tổng  
5
3,1  
10  
44  
45  
46  
6,9  
15  
69  
4,9  
- Sau đó nhóm bệnh nhân này được tiếp tục  
tái khám và theo dõi ít nhất 2 lần sau đó để xác  
định tình trạng mất ngủ.  
25  
46  
85  
15,5  
28,6  
52,8  
30,3  
31,0  
31,7  
22,5  
29,7  
42,8  
91  
131  
161 100,0 145 100,0 306 100,0  
Công cụ thu thập số liệu  
2 = 17,732, p < 0,001  
Bảng 5. Thời gian phát hiện bệnh lý mãn tính  
* Bảng câu hỏi khảo sát về RLGN.  
* Thang HDRS (Thang HAM-D).  
* Thang WS (Worry Scale for Older Adulds).  
* Thang buồn ngủ EPWORTH.  
Nhóm NC Nhóm chứng  
Chung  
Thời gian  
BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ %  
≤ 6 tháng  
1
2
0,6  
1,3  
0
3
1
5
0,3  
1,7  
6 - 12 tháng  
2,2  
Phương pháp xử lý số liệu  
> 12 tháng 153 98,1  
Tổng  
132  
97,8  
285  
97,9  
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS  
13.0 for Windows.  
161 100,0 145 100,0 306 100,0  
2 = 1,238, p = 0,538  
KẾT QỦA  
Mô tả bệnh lý mãn tính  
Đặc điểm bệnh lý nội khoa  
Bệnh lý cấp tính nặng  
Bảng 6. Các bệnh mãn tính  
Nhóm  
OR  
(95%KTC)  
1,92  
Bệnh mãn  
P
tính  
NC  
Chứng  
Bảng 1. Số bệnh lý cấp tính trên một bệnh nhân  
Tâm thần  
Parkinson  
4 (2,5)  
0
0,125  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
(1,72 – 2,14)  
0,67  
Số bệnh lý  
BN  
Tỷ lệ %  
37,3  
BN  
Tỷ lệ %  
61,4  
3 (1,9) 4 (2,8) 0,601  
14 (8,7) 5 (3,4) 0,058  
Không  
1 bệnh  
≥ 2 bệnh  
Tổng  
60  
68  
89  
46  
(0,15 – 3,04)  
2,67  
42,2  
31,7  
Bệnh lý mạch  
máu não  
33  
20,5  
10  
6,9  
(0,94 – 7,59)  
4,37  
161  
100,0  
145  
100,0  
Bệnh lý dạ dày 10 (6,2) 2 (1,4) 0,038  
2 = 21,414, p < 0,001  
(1,02 – 21,98)  
0,17  
Bệnh lý gan  
1 (0,6) 5 (3,4) 0,075  
mật  
Di chứng bệnh lý cấp tính nặng  
(0,02 – 1,52)  
4,51  
Bảng 2. Di chứng  
Suy thận mạn 14 (8,7) 3 (2,1) 0,012  
Bệnh lý TLT 15 (9,3) 4 (2,8) 0,018  
(1,27 – 16,02)  
3,62  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Di chứng*  
BN  
Tỷ lệ %  
29,4  
BN  
Tỷ lệ %  
20,7  
(1,17 – 11,18)  
2,07  
Có  
47  
30  
Không  
Tổng  
113  
161  
70,6  
115  
145  
79,3  
Bệnh khớp  
mãn  
31  
(21,4)  
58 (36,0)  
0,005  
0,518  
0,146  
(1,24 – 3,45)  
0,84  
100,0  
100,0  
37  
(25,5)  
2 = 3,041, p = 0,081; * Liệt nửa người, liệt hạ chi, gãy  
xương, suy hô hấp mãn…  
Bệnh ĐTĐ 36 (22,4)  
(0,49 – 1,42)  
1,58  
19  
(13,1)  
Bệnh phổi mãn 31 (19,3)  
(0,85 – 2,94)  
3,74  
Bệnh lý mãn tính  
Bảng 3. Tiền căn có bệnh mãn tính  
Suy tim mãn 8 (5,0) 2 (1,4) 0,078  
110  
(0,78 – 17,91)  
0,90  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Chung  
Bệnh mãn  
tính  
Bệnh huyết áp 119 (73,9)  
0,695  
BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ %  
(75,9)  
(0,54 – 1,51)  
3,67  
Có  
156  
5
96,9  
3,1  
135  
10  
93,1  
6,9  
291  
15  
95,1  
4,9  
Rối loạn nhịp  
4 (2,5) 1 (0,7) 0,216  
20  
Không  
Tổng  
tim  
(0,41 – 33,21)  
2,28  
161 100,0 145 100,0 306 100,0  
Bệnh mạch  
vành  
43 (26,7)  
0,005  
(13,8)  
2 = 2,352, p = 0,125  
(1,27 – 4,09)  
378  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Nhóm  
Chứng  
Đặc điểm về bệnh lý tâm thần  
Thuốc điều trị  
P
OR (95%KTC)  
NC  
Bảng 7. Rối loạn trầm cảm theo điểm thang HAM-D  
0,45  
(0,18 – 1,11)  
0,25  
Ức chế calci + Ức  
chế men chuyển  
8 (5,0) 15 (10,3) 0,075  
3 (1,9) 10 (6,9) 0,029  
5 (3,1) 3 (2,1) 0,570  
Nhóm NC Nhóm chứng  
Chung  
Nhóm  
bệnh nhân  
BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ %  
Ức chế beta  
Không trầm  
cảm  
(0,07 – 0,95)  
1,52  
55  
100  
6
34,2  
62,1  
3,7  
133  
11  
1
91,7  
7,6  
188  
111  
7
61,4  
36,3  
2,3  
Lợi tiểu  
Nitrat  
Trầm cảm  
nhẹ  
(0,36 – 6,46)  
1,81  
19  
Trầm cảm  
nặng  
10 (6,9) 0,144  
(11,8)  
0,7  
(0,81 – 4,02)  
Tổng  
161 100,0 145 100,0 306 100,0  
BÀN LUẬN-KẾT LUẬN  
2 = 106,749, p < 0,001  
Đặc điểm về bệnh lý nội khoa  
Bảng 8. Rối loạn lo âu theo thang WS  
Bệnh lý cấp tính nặng  
Nhóm  
Điểm thang WS  
P
Trong nhóm tiền sử có bệnh lý cấp tính  
nặng, sự cố có bệnh cấp tính nặng và số bệnh  
cấp tính nặng có ảnh hưởng lên giấc ngủ, sự  
khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,001, trong  
khi các di chứng của bệnh lý cấp tính nặng lại  
không p=0,081. Điều này có lẽ do mắc di chứng  
bệnh trong một thời gian dài nên bệnh nhân đã  
thích nghi được và nó không ảnh hưởng đến  
giấc ngủ, còn sự cố có bệnh cấp tính nặng đã  
ảnh hưởng sâu sắc đến tâm trí người bệnh và  
ảnh hưởng đến giấc ngủ.  
NC  
Chứng  
Điểm TB về tài chính 7,16 ± 3,56 6,29 ± 2,78 0,019  
25,76 ±  
Điểm TB về sức khỏe  
17,69 ± 6,82 < 0,001  
12,16  
Điểm TB về điều kiện  
xã hội  
15,92 ± 7,14 11,54 ± 4,04 < 0,001  
48,47 ±  
Điểm trung bình chung  
35,28 ± 10,77 < 0,001  
18,38  
Đặc điểm về dược phẩm  
Bảng 10. Số lượng thuốc trung bình sử dụng trên  
một bệnh nhân  
Nhóm NC  
Nhóm chứng  
Chung  
2,65 ± 1,73  
2,13 ± 1,81  
2,40 ± 1,79  
Bệnh lý mãn tính  
F = 6,437, p = 0,012  
Trong nhóm tiền căn có bệnh mãn tính, thời  
gian mắc bệnh lý mãn tính không có gì khác biệt  
giữa 2 nhóm p=0,538 nhưng số lượng bệnh mãn  
tính mắc giữa 2 nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê p<0,001. Điều này rõ ràng là đa số  
người cao tuổi thường mang trong người ít nhất  
một bệnh lý mãn tính nào đó và họ chấp nhận  
tình trạng này xem như đây là một sự thay đổi  
tất yếu trong quá trình lão hóa như tăng huyết  
áp, thoái hóa khớp, Parkinson, mờ mắt, ăn uống  
kém…nhưng nếu số lượng bệnh mãn tính này  
tăng lên nhiều bệnh cùng lúc thì sẽ có ảnh  
hưởng lên thể chất và tâm lý của người cao tuổi  
từ đó gây mất ngủ.  
Bảng 11. Loại thuốc điều trị  
Nhóm  
Thuốc điều trị  
P
OR (95%KTC)  
NC  
Chứng  
2,14  
(0,94 – 4,87)  
0,59  
20  
(12,4)  
Corticoids  
9 (6,2) 0,047  
Kháng viêm  
nonsteroids  
2 (1,2) 3 (2,1) 0,569  
(0,09 – 3,61)  
1,52  
Ức chế proton 5 (3,1) 3 (2,1) 0,570  
(0,35 – 6,46)  
2,04  
25  
(15,5)  
Dãn PQ  
12 (8,3) 0,038  
(0,98 – 4,22)  
0,78  
Sulfonylureas 16 (9,9) 18 (12,4) 0,419  
(0,38 – 1,59)  
1,19  
17  
(10,6)  
Biguanides  
Insuline  
13 (9,0) 0,640  
(0,56 – 2,56)  
1,08  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm  
bệnh nhân tiền căn có bệnh lý mãn tính sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm mất ngủ  
và nhóm chứng chỉ xảy ra ở nhóm bệnh lý mạch  
vành (p=0,005), bệnh lý khớp mãn tính (p=0,005),  
6 (3,7) 5 (3,4) 0,896  
(0,32 – 3,63)  
1,21  
72  
Ức chế calci  
58 (40,0) 0,404  
(44,7)  
(0,77 – 1,91)  
0,78  
Ức chế men  
chuyển  
42  
45 (31,0) 0,338  
(26,1)  
(0,48 – 1,29)  
379  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
bệnh lý thận mãn (p=0,012), bệnh lý tiền liệt  
tuyến (p=0,018) và bệnh lý dạ dày (p=0,038). Kết  
quả này phù hợp với Marci M (1), riêng những  
nhóm bệnh mạch máu não, tiểu đường, bệnh  
phổi… sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê,  
điều này có lẽ do mẫu nghiên cứu nhỏ chưa đủ  
sức khai thác hết những ảnh hưởng của bệnh lý  
nội khoa lên giấc ngủ. So sánh các nghiên cứu  
khác:  
Qua các nghiên cứu chúng tôi nhận xét  
rằng mất ngủ và các rối loạn trầm cảm, lo âu  
có mối liên hệ nhân quả với nhau, chúng ta  
lần đầu tiếp xúc với bệnh nhân không thể biết  
đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả nhưng  
rõ ràng là tỷ lệ trầm cảm, lo âu trên bệnh nhân  
mất ngủ rất cao và ngược lại tỷ lệ mất ngủ  
xuất hiện trên bệnh nhân rối loạn trầm cảm, lo  
âu cũng cao không kém.  
Trong một nghiên cứu khảo sát ở Mỹ của  
Pearson NJ, Johnson LL, Nahin RL (2) về những  
yếu tố liên quan đến mất ngủ cũng chỉ ghi nhận  
những tình trạng có liên quan như béo phì  
(OR=1,15), tăng huyết áp (OR=1,32), suy tim  
sung huyết (OR=2,24). Trong nghiên cứu của Su  
TP (4) các tình trạng nội khoa ảnh hưởng đến  
giấc ngủ là tiểu đêm (OR=20,6), đau (OR=2,4),  
trầm cảm (OR=2,2). Theo Thái Minh Trung,  
những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy  
rằng chứng mất ngủ thường đi đôi với những  
bệnh lý tâm thần và thể xác. Những bệnh lý sau  
đây thường đi đôi với chứng mất ngủ: trầm cảm  
(OR=8,2), suy tim (OR=2,5), loét dạ dày (OR=1,8),  
bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (OR=1,5).  
Trong xã hội ngày nay, chính áp lực công  
việc, nhịp sống thời công nghiệp và lối sống với  
nhiều dịch vụ của cư dân thành thị là những  
nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng  
giấc ngủ. Xu thế phát triển quá nhanh của kinh  
tế xã hội đã làm con người khó thích ứng kịp và  
áp lực về mức sống cũng góp phần không nhỏ  
làm mất ngủ. Đó là chứng mất ngủ do áp lực  
công việc, ban đầu chỉ là khó ngủ do chưa thích  
ứng khi thay đổi môi trường làm việc hoặc do  
sức ép công việc tác động lên tâm lý, dần dần  
nếu chứng khó ngủ không được điều trị hoặc do  
người bệnh lo lắng quá mức thì tình trạng nặng  
hơn, dẫn đến mất ngủ kéo dài, mãn tính và xuất  
hiện kèm theo những triệu chứng đau đầu, cáu  
gắt, suy nhược và trầm cảm.  
Đặc điểm về bệnh lý tâm thần kinh  
Các rối loạn trầm cảm và lo âu  
Đặc điểm về dược phẩm  
Theo Marci M & cs (1), số lượng thuốc đã và  
đang sử dụng ảnh hưởng mạnh đến mức độ  
nặng nhẹ của những RLGN do ảnh hưởng trực  
tiếp lên cấu trúc giấc ngủ hoặc là do tác dụng  
phụ của thuốc. Các nhóm thuốc chính được kê  
đơn có thể gây mất ngủ là: các thuốc chống trầm  
cảm (SSRIs), thuốc thông mũi, thuốc hạ huyết  
áp, thuốc dãn phế quản, nhóm thuốc beta-  
blockers, và corticoides.  
Các rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu đều  
có ảnh hưởng đến mất ngủ, sự khác biệt này có  
ý nghĩa thống kê p<0,001. So sánh với các  
nghiên cứu khác:  
Kết quả này phù hơp với Y văn, mất ngủ có  
mối liên quan chặt chẽ và có tính nhân quả với  
trầm cảm và rối loạn lo âu. Kết quả nghiên cứu  
của các tác giả Châu Á cũng phù hợp với nghiên  
cứu của chúng tôi, trong nghiên cứu của Su TP  
ở Đài Loan (4) có mối tương quan giữa trầm  
cảm và mất ngủ (OR=2,2). Tương tự, trong  
nghiên cứu của Pearson NJ ở Mỹ (2) có sự tương  
quan giữa rối loạn lo âu và trầm cảm với mất  
ngủ (OR=5,64). Ở Việt Nam, theo một thống kê  
của bệnh viện Tâm thần TP.HCM (1) hơn 80%  
bệnh nhân đến khám trầm cảm đều có triệu  
chứng mất ngủ.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng vậy,  
rõ ràng là tổng lượng thuốc mà một bệnh nhân  
phải dùng có ảnh hưởng đến mất ngủ và sự  
khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê  
(p=0,012). Các nhóm thuốc có ảnh hưởng đến  
giấc ngủ là nhóm corticoides (p=0,047), nhóm  
thuốc dãn phế quản (p=0,038) và nhóm ức chế  
beta (p=0,029).  
380  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Trên thực tế nước ta và có lẽ cũng ở nhiều  
nước khác, do sự tiến bộ của y khoa thường đi  
theo hướng chuyên khoa sâu nên một bệnh  
nhân nhất là bệnh nhân cao tuổi cơ bản mang  
trong người nhiều bệnh cùng lúc có thể được  
điều trị bởi nhiều bác sỹ trong nhiều lĩnh vực  
khác nhau và được sử dụng số lượng đơn thuốc  
tương ứng với từng bệnh lý mà họ mắc phải, kết  
quả cuối cùng là một bệnh nhân phải uống quá  
nhiều thuốc mà không có sự quản lý chung của  
một bác sỹ nào. Do đó, điều cần thiết là mỗi  
bệnh nhân cần phải có một bác sỹ quản lý tất cả  
các loại thuốc để biết được tình trạng bệnh lý  
của bệnh nhân một cách tổng hợp nhất. Để thực  
hiện được điều này cần thiết phải phát triển  
mạng lưới bác sỹ gia đình, khi đó bệnh nhân chỉ  
đến bác sỹ chuyên khoa khi thật sự cần thiết và  
từ đó tránh sử dụng cùng lúc nhiều loại thuốc  
ảnh hưởng đến giấc ngủ.  
KẾT LUẬN  
Có nhiều yếu tố liên quan đến mất ngủ  
người cao tuổi trong đó số lượng các bệnh lý nội  
khoa, số lượng thuốc sử dụng, một số bệnh lý  
nội khoa- tâm thần nhất là các rối loạn trầm  
cảm, rối loạn lo âu là ghi nhận có liên quan  
mạnh, người bác sỹ lâm sàng phải biết xem xét  
nguyên nhân nào là chính từ đó có cái nhìn chính  
xác và thái độ điều trị thích hợp cho từng bệnh  
nhân.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Marci M, Melanie K, et al (2009), “Sleep disturbances in aging.  
Advances in cell aging and gerontology”, Sleep and Aging, Vol.  
17, 33-60.  
2.  
Pearson NJ, Johnson LL, Nahin RL (2006), “Insomnia, trouble  
sleeping, andcomplementary and alternative medicine: Analysis  
of the 2002 national health interview survey data”, Arch Intern  
Med, 166(16): 1775-82.  
3.  
4.  
Robert E. Roberts, PhD, Sarah J. Shema, MS and George A.  
Kaplan, PhD (1999). Prospective Data on Sleep Complaints and  
Associated Risk Factors in an Older Cohort. Psychosomatic  
Medicine 61:188-196.  
Su TP, Huang SR, Chou P (2004), “Prevalence and risk factors of  
insomnia in community-dwelling Chinese elderly: a Taiwanese  
urban area survey”, Aust N Z J Psychiatry, 38(9): 706-13.  
381  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
pdf 6 trang yennguyen 10700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của các bệnh lý nội khoa, các rối loạn tâm thần và việc sử dụng thuốc trên người cao tuổi mất ngủ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_cac_benh_ly_noi_khoa_cac_roi_loan_tam_than_va.pdf