Nghiên cứu tỉ lệ suy yếu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân hội chứng vành cấp cao tuổi

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
NGHIÊN CỨU TỈ LỆ SUY YẾU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH CẤP CAO TUỔI  
Nguyễn Văn Tân*,**, Lê Dưỡng**  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Suy yếu là một hội chứng lâm sàng thường gặp ở người cao tuổi (≥60 tuổi), dự báo nguy cơ  
cao những bất lợi về sức khỏe như tình trạng té ngã, khuyết tật, tăng số lần nhập viện và thậm chí là tử vong.  
Tuy nhiên, nghiên cứu về suy yếu trên đối tượng bệnh nhân hội chứng vành cấp (HCVC) cao tuổi chưa được  
thực hiện tại Việt Nam.  
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tỉ lệ suy yếu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân hội chứng vành cấp cao  
tuổi theo thang điểm báo cáo suy yếu Edmonton.  
Phương pháp: Tiến cứu, mô tả và cắt ngang trên 324 bệnh nhân hội chứng vành cấp cao tuổi nhập  
viện điều trị từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 04 năm 2018 tại Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh và  
Bệnh viện Chợ Rẫy.  
Kết quả: Tỷ lệ suy yếu chiếm 47,5% ở bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì HCVC, tuổi trung bình dân số  
nghiên cứu là 73,5 ± 8,3 tuổi. Trong đó tỉ lệ nữ giới chiếm 39,2%, nam giới chiếm 60,8%. Tăng huyết áp chiếm  
76,2%, rối loạn lipid máu 16,7%, đái tháo đường típ 2 (30,3%), hút thuốc lá (51,9%), béo phì (15,1%). Tỉ lệ bệnh  
nhân đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKOĐ) chiếm 22%, nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên  
(NMCTCKSTCL) 41%, nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên (NMCTCSTCL) 37%. Phân độ Killip lúc nhập viện  
lần lượt là Killip I 72,2%, Killip (II, III, IV) 27,8%. Các yếu tố có liên quan đến suy yếu bao gồm độ tuổi 70 – 79  
có tỉ lệ suy yếu cao hơn 2,94 lần (KTC 95%, 1,6 – 5,41; p=0,001), nhóm tuổi ≥ 80 có suy yếu cao hơn 10,04 lần  
(KTC 95%, 4,79–21,05; p<0,001) so với nhóm bệnh nhân 60 – 69 tuổi; nữ giới có suy yếu cao hơn 3,14 lần (KTC  
95%, 1,48 – 6,67; p=0,003) so với nam giới; tiền căn bệnh thận mạn có suy yếu cao hơn 13,54 lần (KTC 95%,  
1,59 – 115,08; p=0,02), tiền căn suy tim mạn có suy yếu cao hơn 3,48 lần (KTC 95%, 1,49 – 8,15; p=0,004) và tai  
biến mạch máu não cũ có suy yếu cao hơn 4,56 lần (KTC 95%, 2 – 10,4; p<0,001).  
Kết luận: Bệnh nhân hội chứng vành cấp cao tuổi có tỉ lệ suy yếu cao 47,5%. Tuổi ≥ 70, nữ giới, tiền căn  
bệnh thận mạn, suy tim mạn và tai biến mạch máu não cũ là những yếu tố nguy cơ làm gia tăng tình trạng suy  
yếu ở bệnh nhân hội chứng vành cấp cao tuổi.  
Từ khóa: suy yếu, bệnh nhân cao tuổi  
ABSTRACT  
FRAILTY PREVALENCE AND RELATED FACTORS IN ELDERLY  
WITH ACUTE CORONARY SYNDROME  
Nguyen Van Tan, Le Duong  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 2- 2019: 189-195  
Background: Frailty is a common clinical syndrome in elderly (≥ 60 years-old), which is a high-risk  
predisposition for health disabilities such as falls, disability, increased hospitalizations and even death. However,  
research on this syndrome with acute coronary syndrome has not been done in Vietnam.  
Objectives: To survey frailty prevalence and related factors in the elderly with acute coronary syndrome in  
Cho Ray Hospital, Thong Nhat Hospital.  
*Bộ môn Lão khoa, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh **Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: BS. Lê Dưỡng  
ĐT: 0374538207  
Email: duonglent123 @gmail.com  
189  
Chuyên Đề Nội Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ BảnTập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Methods: Prospectively, descriptive and cross-sectional studies in 324 elderly patients with acute coronary  
syndrome to hospitalization from September 2017 to April 2018 at Thong Nhat Hospital and Cho Ray Hospital.  
Results: The frailty prevalence was 47.5% in cases of acute coronary syndrome, with average age 73.5 ± 8.3  
years. Male accounted for 60.8%. Hypertension accounted for 76.2%, dyslipidemia 16.7%; type 2 diabetes  
(30.3%), smoking (51.9%), and obesity (15.1%). Patients with unstable angina accounted for 22%, non-ST  
segment elevation myocardial infarction (NSTEMI) 41%, ST elevation myocardial infarction (STEMI) 37%. The  
Killip classification at admission was Killip I 72.2%, Killip (II, III, and IV) 27.8%. Factors associated with frailty  
include: ≥ 70 years, female (OR =3.14, CI 95%, 1.48 – 6.67; p=0.003), chronic kidney disease (OR =13.54, CI  
95%, 1.59 – 115.08; p=0.02), chronic heart failure (OR =3.48, CI 95%, 1.49 – 8.15; p=0.004), previous stroke  
(OR =4.56, CI 95%, 2 – 10.4; p<0.001).  
Conclusions: Frailty prevalence in elderly patients with acute coronary syndrome was 47.5%. Age ≥70,  
female, previous chronic kidney disease, chronic heart failure and previous stroke were risk factors for increased  
frailty in the elderly patients with acute coronary syndrome.  
Keywords: frailty, elderly patients  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Hội chứng vành cấp (HCVC) nói riêng và  
bệnh mạch vành (BMV) nói chung vẫn là  
nguyên nhân tử vong hàng đầu trên toàn thế  
giới theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới  
(WHO). Hằng năm, tại Hoa Kỳ có hơn một triệu  
người nhập viện vì nhồi máu cơ tim (NMCT)  
cấp, có hơn 300.000 người tử vong trước khi  
nhập viện và cứ mỗi 25 giây có một người Hoa  
Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥60 tuổi) được  
chẩn đoán hội chứng vành cấp từ tháng 09/2017  
đến tháng 04/2018 tại khoa Nội Tim Mạch Bệnh  
viện Chợ Rẫy, khoa Tim mạch can thiệp Bệnh  
viện Chợ Rẫy, khoa Tim Mạch Cấp cứu – Can  
thiệp Bệnh viện Thống Nhất.  
Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu những  
trường hợp HCVC cao tuổi có thông khí cơ học,  
rối loạn huyết động tại thời điểm đánh giá hoặc  
tử vong ngay khi mới nhập viện, bệnh nhân  
không hiểu tiếng Việt, mê sảng, sa sút trí tuệ  
nặng và không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.  
Kỳ chết vì NMCT cấp(6,18)  
.
Suy yếu là một hội chứng lâm sàng thường  
gặp ở người cao tuổi, dự báo nguy cơ cao  
những bất lợi về sức khỏe như tình trạng té  
ngã, khuyết tật, tăng số lần nhập viện và thậm  
chí là tử vong(6). Suy yếu đã được chứng minh  
là yếu tố tiên lượng độc lập và quan trọng trên  
bệnh nhân HCVC cao tuổi qua nhiều nghiên  
cứu ở ngoài nước.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Tiến cứu, mô tả và cắt ngang.  
Thu thập dữ liệu từ bệnh nhân  
Chúng tôi tiến hành ghi nhận đầy đủ các  
thông tin về mặt lâm sàng (các triệu chứng cơ  
năng, triệu chứng thực thể, tiền căn bệnh lý), cận  
lâm sàng và phương pháp điều trị (điều trị nội  
khoa, can thiệp mạch vành qua da), các biến cố  
trong thời gian nằm viện; đồng thời chúng tôi  
cũng tiến hành phỏng vấn đánh giá hội chứng  
suy yếu ở bệnh nhân theo thang điểm báo cáo  
suy yếu Edmonton.  
Mặc dù hiểu biết suy yếu có tầm quan trọng  
tiên lượng trên bệnh nhân HCVC cao tuổi là vậy,  
nhưng tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về  
vấn đề suy yếu trên bệnh nhân hội chứng vành  
cấp cao tuổi. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên  
cứu này nhằm khảo sát tỉ lệ suy yếu và một số  
yếu tố liên quan ở bệnh nhân hội chứng vành  
cấp cao tuổi.  
Chuyên Đề Nội Khoa  
190  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Các xét nghiệm cận lâm sàng được thu thập  
như công thức máu, đường huyết, urê, creatinin,  
ion đồ máu, SGOT, SGPT, men tim (CKMB,  
Troponin T hs, Troponin I), BNP hoặc NT pro  
BNP, siêu âm tim (đo phân suất tống máu thất  
trái bằng phương pháp Simpson).  
nghiên cứu và đề tài đã được thông qua Hội  
đồng Y đức của Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ  
Chí Minh, Hội đồng Y đức của Bệnh viện Chợ  
Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh.  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Có 324 bệnh nhân HCVC cao tuổi nhập  
viện trong thời gian nghiên cứu thỏa điều kiện  
chọn mẫu. Tuổi trung bình là 73,5 ± 8,3 tuổi,  
nam giới chiếm tỷ lệ 60,8%, nữ giới chiếm  
39,2% (Biểu đồ 1).  
Các tiêu chuẩn chẩn đoán  
Chẩn đoán NMCT cấp theo tiêu chuẩn của  
định nghĩa toàn cầu lần thứ 3 về nhồi máu cơ  
tim năm 2012(15). Chẩn đoán đau thắt ngực  
không ổn định (ĐTNKOĐ) theo tiêu chuẩn của  
Hội Tim Châu Âu năm 2015(13)  
.
Phân độ mức độ suy tim dựa theo phân độ  
Killip lúc bệnh nhân vào viện tại khoa cấp  
cứu(2,9). Các tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp,  
đái tháo đường, hút thuốc lá, béo phì, bệnh thận  
mạn, viêm phổi bệnh viện, rối loạn nhịp tim đều  
dựa theo các tiêu chuẩn chẩn đoán mới nhất  
hiện nay.  
Biểu đồ 1: Phân bố theo giới tính  
Phân tích thống kê  
Nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên  
(NMCTCKSTCL) chiếm tỉ lệ cao nhất 41%, tiếp  
đến là nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên  
NMCTCSTCL 37%, cuối cùng đau thắt ngực  
không ổn định (ĐTNKOĐ) thấp nhất với 22%  
(Biểu đồ 2).  
Các số liệu được trình bày dưới dạng tỉ lệ  
đối với biến định tính và trung bình ± độ lệch  
chuẩn, nếu phân bố không chuẩn: trung vị, giá  
trị tương ứng với 25% và 75% đối với biến  
định lượng. Dùng phép kiểm định chi bình  
phương (có hiệu chỉnh Fisher) để kiểm định sự  
khác biệt tỷ lệ giữa 2 nhóm của biến số định  
tính. Đối với biến số định lượng, xác định có  
phân phối chuẩn bằng phép kiểm  
Kolmogorov–Smirnov. Phép kiểm định t-  
student (nếu phân phối chuẩn) cho 2 giá trị  
trung bình giữa 2 nhóm của biến số định  
lượng, sự khác biệt giữa hai nhóm được xem là  
có ý nghĩa thống kê khi p <0,05; hoặc phép  
kiểm Mann-Whitney nếu phân phổi không  
chuẩn. Phân tích hồi quy logistic đa biến để  
xác định yếu tố nguy cơ độc lập.  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ bệnh  
nhân HCVC cao tuổi khi nhập viện có phân độ  
Killip I là 72,2%, Killip II, III, IV lần lượt là 12,7%,  
8,6%, 6,5%.  
Tất cả các số liệu đều được xử lý bằng phần  
mềm thống kê SPSS 22.0 for Window.  
Biểu đồ 2: Phân loại hội chứng vành cấp  
Y đức nghiên cứu  
Điểm số suy yếu trung bình là 7,3 ± 2,9 điểm  
theo thang điểm báo cáo suy yếu Edmonton.  
Trong đó tỉ lệ bệnh nhân hội chứng vành cấp cao  
tuổi có điểm suy yếu ≥8 chiếm tỉ lệ là 47,5%, còn  
Đây là nghiên cứu quan sát, không can thiệp  
vào quá trình điều trị, tất cả thông tin của bệnh  
nhân được giữ kín chỉ để phục vụ cho mục đích  
191  
Chuyên Đề Nội Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ BảnTập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
lại nhóm không có suy yếu với điểm suy yếu <8  
chiếm 52,5%.  
chiếm tỉ lệ cao nhất (76,2%), hút thuốc lá (51,9%),  
đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 (30,2%), béo phì  
(15,12%) (Bảng 2).  
Dựa trên thang điểm báo cáo suy yếu  
Edmonton, chúng tôi phân loại suy yếu ở bệnh  
nhân hội chứng vành cấp cao tuổi trong nghiên  
cứu theo bảng dưới đây:  
Qua phân tích đa biến chúng tôi thấy tỉ lệ  
bệnh nhân ≥ 70 tuổi, giới tính nữ, bệnh thận  
mạn, tiền căn suy tim mạn, tai biến mạch máu  
não cũ là cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm  
bệnh nhân có suy yếu (p < 0,05), cụ thể: nhóm  
tuổi 70 – 79 có tỉ lệ suy yếu cao hơn 2,94 lần  
(KTC 95%, 1,6 – 5,41; p=0,001), nhóm tuổi ≥ 80  
có suy yếu cao hơn 10,04 lần (KTC 95%, 4,79–  
21,05; p<0,001) so với nhóm bệnh nhân 60 – 69  
tuổi. Tỉ lệ nữ giới có suy yếu cao hơn 3,14 lần  
(KTC 95%, 1,48 – 6,67; p=0,003) so với nam  
giới. Tiền căn bệnh thận mạn có suy yếu cao  
hơn 13,54 lần (KTC 95%, 1,59 – 115,08; p=0,02),  
tiền căn suy tim mạn có suy yếu cao hơn 3,48  
lần (KTC 95%, 1,49 – 8,15; p=0,004) và tai biến  
mạch máu não cũ có suy yếu cao hơn 4,56 lần  
(KTC 95%, 2 – 10,4; p<0,001).  
Bảng 1: Phân loại mức độ suy yếu theo thang điểm  
báo cáo suy yếu Edmonton  
Mức độ suy yếu  
Không suy yếu  
Tiền suy yếu  
n (%)  
89 (27,47)  
81 (25)  
Suy yếu nhẹ  
82 (25,31)  
46 (14,20)  
26 (8,02)  
Suy yếu trung bình  
Suy yếu nặng  
Trong nhóm bệnh nhân suy yếu, suy yếu  
nhẹ chiếm tỉ lệ cao nhất 25,31%, tiếp đến là suy  
yếu trung bình 14,2% và suy yếu nặng 8,02%.  
Mối liên quan giữa tiền căn bệnh lý nội khoa,  
yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành và suy yếu ở  
nhóm nghiên cứu được trình bày trong bảng 2.  
Các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp (THA)  
Bảng 2: Mối liên quan bệnh nội khoa, một số yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành và suy yếu  
Suy yếu n (%)  
Không suy yếu n (%)  
Nhóm tuổi  
p
OR (KTC 95%)  
60-69  
70-79  
≥ 80  
32 (27,35)  
64 (50,39)  
58 (72,50)  
85 (72,65)  
63 (49,61)  
0,001  
2,94 (1,6 – 5,41)  
22 (27,50)  
< 0,001  
10,04 (4,79–21,05)  
Giới tính (nữ so với nam)  
119 (60,41)  
51 (40,16)  
Nam  
Nữ  
78 (39,59)  
76 (59,84)  
70 (41,67)  
126 (51)  
3,14 (1,48 – 6,67)  
0,003  
Hút thuốc lá  
98 (58,33)  
0,1  
0,1  
1,88 (0,89 – 3,96)  
1,71 (0,9 – 3,25)  
1,55 (0,85 – 2,82)  
13,54 (1,59 – 115,08)  
3,48 (1,49 – 8,15)  
4,77 (0,73 - 31,44)  
4,56 (2 – 10,4)  
Tăng huyết áp  
121 (49)  
Đái tháo đường  
Bệnh thận mạn  
Tiền căn suy tim  
Bệnh động mạch ngoại biên  
Tai biến mạch máu não cũ  
Nhồi máu cơ tim cũ  
58 (59,18)  
12 (92,31)  
32 (72,73)  
6 (75)  
40 (40,82)  
0,15  
0,02  
0,004  
0,1  
1 (7,69)  
12 (27,27)  
2 (25)  
32 (74,42)  
16 (66,67)  
11 (25,58)  
< 0,001  
0,14  
8 (33,33)  
2,19 (0,78 – 6,16)  
cấu trúc tuổi thọ của dân số Việt Nam. Nhóm  
tuổi trung lão từ 70 – 79 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất  
39,19% (127 bệnh nhân), nhóm tuổi đại lão ≥ 80  
tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất 24,7% (80 bệnh nhân).  
BÀNLUẬN  
Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu  
Nghiên cứu của chúng tôi thu nhận 324 bệnh  
nhân từ 60 đến 99 tuổi nhập viện vì hội chứng  
vành cấp, tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là  
73,5 tuổi, tuổi trung vị (KTPV) là 74 (67 – 79).  
Trong đó, nữ giới có tuổi trung bình cao hơn  
nam giới (75,6 tuổi so với 72,8 tuổi) phù hợp với  
Tuổi trung bình trong nghiên cứu của  
chúng tôi tương tự như trong nghiên cứu của  
tác giả Phạm Xuân Thanh (2010)(12), thực hiện ở  
đối tượng bệnh nhân cao tuổi nhập điều trị nội  
Chuyên Đề Nội Khoa  
192  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
trú tại Viện Lão Khoa Trung Ương, tuổi trung  
bình là 76,15 ± 8,89 tuổi. Đồng thời cũng phù  
hợp với các nghiên cứu nước ngoài như của  
tác giả Gramham và cộng sự(5) tiến hành ở 183  
bệnh nhân hội chứng vành cấp ≥ 65 tuổi có  
tuổi trung bình là 75,4 tuổi và nghiên cứu của  
Juan Sanchis và cộng sự(14) là 77 ± 7 tuổi. Tuổi  
trung bình trong nghiên cứu chúng tôi thấp  
hơn so với các nghiên cứu chỉ thực hiện ở đối  
tượng ≥ 75 tuổi, bao gồm Niklas Ekerstad và  
cộng sự(4) là 83,7 tuổi, Gonzalo Luis Alonso  
Salinas và cộng sự(1) là 82,3 tuổi.  
Bảng 3: Phân bố tuổi trong một số nghiên cứu về suy yếu ở người cao tuổi  
Mẫu nghiên cứu  
Công cụ đánh giá suy yếu  
Phạm Xuân Thanh (2010) (12)  
461 ≥ 60 tuổi điều trị nội trú  
Tiêu chuẩn Fried  
Thang điểm báo cáo suy yếu Edmonton  
Thang điểm suy yếu Edmonton  
Graham và cs (2013)(5)  
183 ≥ 65 tuổi, ACS  
342 ≥ 65 tuổi, ACS  
Juan Sanchis và cs (2014)(14)  
Tiêu chuẩn Fried  
Tiêu chuẩn Green  
Niklas Ekerstad và cs (2014)(4)  
307 ≥75 tuổi, NMCTCKSTCL  
202 ≥ 75 tuổi, NMCT  
The Canadian Study of Health and  
Aging (CSHA)  
Gonzalo Luis Alonso Salinas và cs (2016)(1)  
Hilmer và cs (2009)(7)  
SHARE-Frailty Index.  
114 ≥ 70 tuổi, điều trị nội trú Thang điểm báo cáo suy yếu Edmonton  
khi nhập viện trong nghiên cứu chúng tôi có  
phân độ Killip I là 72,2%, Killip II, III, IV lần lượt  
là 12,7%, 8,6%, 6,5%. Kết quả này cũng gần  
tương tự như các nghiên cứu trong và ngoài  
nước của tác giả Trần Hòa (2010)(16) với Killip I là  
68%, Killip II, III, IV là 17%, 10%, 5%; tác giả Võ  
La Cường (2015)(17) với Killip I 66%, Killip II, III,  
IV lần lượt là 15%, 10%, 9%; tác giả Juan Sanchis  
vàcộngsự(14) vớiKillipIlà70%, KillipII,III, IVlà30%.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nam giới  
chiếm tỉ lệ cao 60,8% (197 bệnh nhân) so với nữ  
giới 39,2% (127 bệnh nhân), tỉ lệ nam/nữ = 1,6/1.  
Đặc điểm này phù hợp với nghiên cứu của  
Graham và cộng sự(5): nam giới chiếm 67,2% so  
với 32,8% nữ giới; Juan Sanchis và cộng sự(14):  
nam giới chiếm 57% so với nữ giới 43%, Gonzalo  
Luis Alonso Salinas và cộng sự(1): nam giới 60%,  
nữ giới 40%. Tuy nhiên đặc điểm này khác so  
với nghiên cứu của Niklas Ekerstad và cộng sự(4):  
nam giới chiếm 51%, nữ giới 49%, trong đó tỉ lệ  
nam/ nữ gần như nhau. Sự khác nhau này phù  
hợp với dịch tễ học bệnh mạch vành ở người cao  
tuổi. Nghiên cứu Framingham theo dõi trong 30  
năm cho thấy tần suất mắc bệnh mạch vành ở  
nam cao hơn nữ, tỉ lệ nam/nữ mắc bệnh mạch  
vành giảm đáng kể, xấp xỉ bằng nhau ở lứa tuổi  
rất cao, từ 85 – 94 tuổi.  
Tỉ lệ suy yếu ở bệnh nhân hội chứng vành  
cấp cao tuổi theo thang điểm báo cáo suy  
yếu Edmonton  
Tỉ lệ suy yếu theo thang điểm báo cáo suy  
yếu ở bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì HCVC  
trong nghiên cứu của chúng tôi là 47,53%. Tỉ lệ  
suy yếu ở bệnh nhân HCVC cao tuổi của chúng  
tôi phù hợp với y văn thế giới, ước tính tỉ lệ suy  
yếu ở bệnh nhân nội trú từ 15% đến 50%(11). So  
sánh với các nghiên cứu sử dụng thang điểm  
báo cáo suy yếu Edmonton để đánh giá suy yếu  
như tác giả Phạm Xuân Thanh(12), tỉ lệ suy yếu là  
31,9%; Hilmer và cộng sự(7), tỉ lệ suy yếu là 64%;  
Osborne C và cộng sự(10), tỉ lệ suy yếu là 38%. Tỉ  
lệ suy yếu trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn  
một số nghiên cứu ngoài nước như của tác giả  
Graham và cộng sự(5) có tỉ lệ là 30%, Gonzalo  
Luis Alonso Salinas và cộng sự(1) là 35,1%.  
Tỉ lệ NMCTCSTCL của chúng tôi tương tự  
như trong nghiên cứu của Gonzalo Luis Alonso  
Salinas và cộng sự(1), 37% so với 33%; cao hơn  
nhiều của Graham và cộng sự(5), 37% so với  
19,12%. Tỉ lệ NMCTCSTCL trong nghiên cứu  
của chúng tôi phù hợp với một nghiên cứu dịch  
tễ nhồi máu cơ tim cấp được thực hiện ở Hoa Kỳ  
từ 2001 đến 2010, trong đó tỉ lệ NMCTCSTCL  
chiếm 35,7%(8). Tỉ lệ bệnh nhân HCVC cao tuổi  
193  
Chuyên Đề Nội Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ BảnTập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Tóm lại, tỉ lệ suy yếu ở bệnh nhân hội  
chứng vành cấp cao tuổi ở nghiên cứu phù  
hợp với y văn thế giới, tương tự với tỉ lệ suy  
yếu trong một số nghiên cứu tiến hành trên  
bệnh nhân hội chứng vành cấp. Sự khác biệt  
với một số nghiên cứu ở trên có thể được lý  
giải do dân số chọn nghiên cứu khác nhau  
hoặc sử dụng công cụ đánh giá suy yếu cũng  
khác nhau. Có vẻ như tỉ lệ suy yếu khi sử  
dụng cộng cụ đánh giá suy yếu chủ yếu thiên  
về mặt thể chất như tiêu chuẩn Fried thì thấp  
hơn khi sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá suy  
yếu toàn diện nhiều mặt (tâm trạng, hỗ trợ về  
xã hội, dinh dưỡng, độc lập về chức năng, vấn  
đề sử dụng thuốc, nhận thức) như thang điểm  
báo cáo suy yếu Edmonton, thang điểm đánh  
giá suy yếu lâm sàng Canada The Canadian  
Study of Health and Aging (CSHA).  
và không suy yếu với mức ý nghĩa lần lượt là p=  
0,19 và p= 0,07.  
Nghiên cứu của Niklas Ekerstad và cộng  
sự(4) cũng cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có tiền căn  
suy tim mạn ở nhóm suy yếu cao hơn có ý nghĩa  
thống kê (p < 0,05) so với nhóm không suy yếu.  
Điều này được lý giải một cách hợp lý là suy tim  
mạn sẽ hạn chế khả năng gắng sức, vận động thể  
lực của bệnh nhân, ảnh hưởng đến tình trạng  
tâm thần, thậm chí còn tăng tỉ lệ trầm cảm; mà  
đây đều là những thành tố để đánh giá suy yếu  
ở bệnh nhân cao tuổi. Do đó suy tim mạn làm  
tăng tỉ lệ suy yếu là điều dễ hiểu.  
Nghiên cứu Graham và cộng sự(5), Niklas  
Ekerstad và cộng sự(4) cho thấy rõ tỉ lệ bệnh thận  
mạn ở nhóm suy yếu cao hơn có ý nghĩa thống  
kê (p <0,05) so với nhóm không suy yếu. Suy  
thận mạn, đặc biệt nhóm suy thận mạn giai đoạn  
cuối phải điều trị thay thế thận sẽ làm tăng tỉ lệ  
bị mệt mỏi mạn tính kéo dài trong ngày, làm giới  
hạn hoạt động thể lực, yếu tố tâm thần kinh và  
dẫn đến tăng tỉ lệ suy yếu.  
Mối liên quan giữa bệnh nội khoa, một số yếu  
tố nguy cơ bệnh mạch vành và suy yếu  
Tuổi càng cao tỉ lệ suy yếu càng cao. Kết quả  
này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Xuân  
Thanh(12), nhóm bệnh nhân ≥ 80 tuổi có tỉ lệ suy  
yếu cao nhất so với các nhóm tuổi còn lại; và  
cũng tương tự với một số nghiên cứu khác như  
của Niklas Ekerstad và cộng sự(4), Gonzalo Luis  
Alonso Salinas và cộng sự(1), Hilmer và cộng  
sự(7), Graham và cộng sự(5).  
Tai biến mạch máu não nếu bệnh nhân  
không được hỗ trợ phục hồi chức năng phù hợp  
hoặc tai biến mức độ nặng đều làm giảm khả  
năng hoạt động sinh hoạt xã hội hằng ngày,  
thậm chí là khả năng sinh hoạt cơ bản như tắm  
rửa, ăn uống. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi  
cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có tiền căn tai biến mạch  
máu não cũ ở nhóm suy yếu cao hơn nhóm  
không suy yếu cũng là điều dễ hiểu. Kết quả này  
cũng tương tự với nghiên cứu của tác giả  
Graham và cộng sự(5).  
Giới tính nữ là yếu tố làm tăng 3,14 lần suy  
yếu (KTC 95%, 1,48 – 6,67), kết quả này cũng  
thấy ở nghiên cứu của Phạm Xuân Thanh(12), tỉ lệ  
bệnh nhân nữ có suy yếu theo thang điểm báo  
cáo suy yếu Edmonton cao hơn so với bệnh  
nhân nam có suy yếu, sự khác biệt có có ý nghĩa  
thống kê (p < 0,05). Nghiên cứu của Gonzalo  
Luis Alonso Salinas và cộng sự(1) cũng cho thấy  
tỉ lệ nữ giới ở nhóm suy yếu cao hơn có ý nghĩa  
thống kê so với nhóm không suy yếu với p= 0,02.  
Tuy nhiên theo tác giả Graham và cộng sự(5), tỉ lệ  
nữ giới ở các nhóm bệnh nhân suy yếu và không  
suy yếu khác biệt không có ý nghĩa thống kê với  
p= 0,09; nghiên cứu của Hilmer và cộng sự(7),  
Niklas Ekerstad và cộng sự(4) cũng cho thấy  
không khác biệt về tỉ lệ nữ giới ở nhóm suy yếu  
KẾT LUẬN  
Tỉ lệ suy yếu ở bệnh nhân hội chứng vành  
cấp cao tuổi theo thang điểm báo cáo suy yếu  
Edmonton là 47,5%; trong đó suy yếu nhẹ chiếm  
tỉ lệ cao nhất 25,31%, suy yếu trung bình 14,2%  
và suy yếu nặng 8,02%. Tuổi ≥ 70, nữ giới, tiền  
căn bệnh thận mạn, suy tim mạn và tai biến  
mạch máu não cũ là những yếu tố nguy cơ làm  
Chuyên Đề Nội Khoa  
194  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
10. Osborne C, Charles A, Hare A et al (2015). "658 Frailty  
predicts length of hospital stay in urology patients". European  
Urology Supplements, 14 (2): pp. e658.  
gia tăng tình trạng suy yếu ở bệnh nhân hội  
chứng vành cấp cao tuổi.  
11. Parker SG, Fadayevatan R, Lee SD et al (2006). Acute hospital  
care for frail older people. Age and Ageing, 35(1): pp. 551–552.  
12. Phạm Xuân Thanh (2015). “Hội chứng dễ bị tổn thương  
(Frailty syndrome) và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao  
tuổi điều trị tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương”. Luận văn  
Thạc sĩ Y Học, ĐH Y Hà Nội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Alonso SGL, Sanmartin FM, Pascual IM et al (2016). "Frailty is  
a short-term prognostic marker in acute coronary syndrome  
of elderly patients". Eur Heart J Acute Cardiovasc Care, 5(5): pp.  
434-440.  
2.  
3.  
Bourdariaset JP, Jondeau G (2000). “Infarctus Myocardique  
aigu”. Chapitre IIIC, pp. 1-27.  
13. Roffi  
M et al (2016). "2015 ESC Guidelines for the  
management of acute coronary syndromes in patients  
presenting without persistent ST-segment elevation". Eur  
Heart J, 37: pp. 267.  
Christoffenson RD, Griffin BP, Topol EJ (2009). “Acute  
Myocardial Infarction”. Manual of cardiovascular medicine,  
Third Edition, Lippincott Williams et Wilkins, pp.1-25.  
Ekerstad N, Swahn E, Janzon M et al (2014). "Frailty is  
independently associated with 1-year mortality for elderly  
patients with non-ST-segment elevation myocardial  
infarction". Eur J Prev Cardiol, 21(10): pp. 1216-1224.  
Graham MM, Galbraith PD, O’Neill D et al (2013). "Frailty  
and outcome in elderly patients with acute coronary  
syndrome". Can J Cardiol, 29 (12): pp. 1610-1615.  
14. Sanchis J, Bonanad C, Ruiz V et al (2014). "Frailty and other  
geriatric conditions for risk stratification of older patients with  
acute coronary syndrome". American heart journal, 168 (5): pp.  
784-791.  
4.  
5.  
15. Thygesen K, Alpert JS, White HD et al (2012). "Third universal  
definition of myocardial infarction". Circulation, 126 (16): pp.  
2020-2035.  
16. Trần Hòa (2010). "Nghiên cứu giá trị của BNP trong tiên  
lương gần hội chứng vành cấp". Luận văn Thạc Sĩ Y Học, Đại  
Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.  
6.  
7.  
Hamerman D (1999). "Toward an understanding of frailty".  
Ann Intern Med, 130(11): pp. 945-950.  
Hilmer SN, Perera V, Mitchell S et al (2009). "The assessment  
of frailty in older people in acute care". Australas J Ageing, 28  
(4): pp. 182-188.  
17. Võ La Cường (2014). "Nghiên cứu giá trị tiên lượng ngắn hạn  
của nồng độ hs - CRP và sự thay đổi sau điều trị Atorvastatin  
ở bệnh nhân hội chứng vành cấp". Luận Án Chuyên Khoa cấp 2,  
Đại Học Y Dược Cần Thơ.  
8.  
9.  
Khera S, Kolte D, Palaniswamy C et al (2013). "ST-elevation  
myocardial infarction in the elderly--temporal trends in  
incidence, utilization of percutaneous coronary intervention  
and outcomes in the United States". Int J Cardiol, 168 (4): pp.  
3683-3690.  
18. Vũ Đình Huy, Richard CP (2000). “Nhồi máu cơ tim cấp - Các  
Nguyên Lý Y Học Nội Khoa Harrison tập 3”. NXB Y Học, tr.  
210-228.  
Nguyễn Lân Việt (2007). “Nhồi máu cơ tim cấp”- Thực hành  
bệnh tim mạch. NXB Y học Hà Nội, tr. 21-49.  
Ngày nhận bài báo:  
08/11/2018  
10/12/2018  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
10/03/2019  
195  
Chuyên Đề Nội Khoa  
pdf 7 trang yennguyen 9980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỉ lệ suy yếu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân hội chứng vành cấp cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ti_le_suy_yeu_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_benh_n.pdf