Nguy cơ té ngã ở người bệnh cao tuổi điều trị nội trú và các yếu tố liên quan

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
NGUY CƠ TÉ NGÃ Ở NGƯỜI BỆNH CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ  
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Vũ Ngô Thanh Huyền*, Trần Thụy Khánh Linh**, Faye Hummel***  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Té ngã ở người cao tuổi gây ra nhiều biến chứng, di chứng, làm tiêu tốn nhiều tiền của cho quá  
trình chăm sóc và điều trị. Té ngã là sự cố y khoa không mong muốn có thể phòng ngừa được. Việc sử dụng một  
công cụ cụ thể đã được xác định có giá trị lâm sàng để đánh giá nguy cơ té ngã và các yếu tố liên quan là một  
trong những bước quan trọng trong công tác phòng ngừa té ngã, bảo đảm an toàn cho người bệnh khi nằm viện.  
Mục tiêu: Đánh giá mức độ nguy cơ té ngã và các yếu tố liên quan ở người bệnh cao tuổi điều trị nội trú.  
Phương pháp: Thiết kế cắt ngang mô tả được tiến hành trên 81 người bệnh nội trú ≥60 tuổi tại các khoa lâm  
sàng của một bệnh viện khám chữa bệnh bằng Y dược cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 04 đến tháng  
05 năm 2019. Thang đo Morse được sử dụng để đánh giá mức độ nguy cơ té ngã.  
Kết quả: Tại điểm cắt 45 của thang đo Morse, 64,2% người bệnh có nguy cơ té ngã cao. Người bệnh  
cao tuổi sử dụng từ 4 loại thuốc trở lên có nguy cơ té ngã cao hơn so với người bệnh cao tuổi sử dụng ít hơn  
4 loại thuốc, với OR=3,36 (khoảng tin cậy 95%: 1,16-9,73), p=0,03; Người bệnh cao tuổi sử dụng thuốc điều  
trị tăng huyết áp có nguy cơ té ngã cao hơn so với người bệnh không sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp,  
với OR=7,818 (khoảng tin cậy 95%: 2,77-2,09), p <0,001; Người bệnh cao tuổi có chỉ định tập vật lý trị liệu  
có nguy cơ té ngã cao hơn so với người bệnh không có chỉ định tập vật lý trị liệu với OR = 6,05 (khoảng tin  
cậy 95%: 1,99–8,33), p=0,01.  
Kết luận: Việc sử dụng thang đo Morse xác định mức độ nguy cơ té ngã ở người cao tuổi và tìm các yếu tố  
liên quan giúp điều dưỡng định hướng hành động can thiệp phù hợp trong phòng ngừa té ngã, bảo đảm an toàn  
cho người bệnh khi nằm viện, cải thiện chất lượng chăm sóc dựa trên bằng chứng khoa học.  
Từ khóa: té ngã, người cao tuổi, công cụ đánh giá nguy cơ té ngã, an toàn người bệnh  
ABSTRACT  
RELEVANT FACTORS AND RISK OF FALLS IN ELDERLY INPATIENTS  
Vu Ngo Thanh Huyen, Tran Thuy Khanh Linh, Faye Humel  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 133 – 139  
Background: The issue of falling in the elderly cause complications and sequalae, which cost a lot in medical  
care and treatment. Falling issue is an unexpected medical problem that can be prevented. Using a specific tool  
identified with actual values in assessing the risk of falling and finding related factors is one important step in  
preventing falling and ensuring safety for inpatients.  
Objectives: Assessing the risky level of falling and related factors in elderly inpatients.  
Methods: Descriptive cross-sectional design. The study was conducted on 81 inpatients over 60 years old in  
Clinical Departments of the hospital applying traditional medicine method in Ho Chi Minh City from April to  
May, 2019. Using Morse Fall Scale to assess the risk of falling.  
Results: At the cut-off point 45 of the Morse scale, the proportion of the patients with a high risk of falling is  
*Viện Y Dược Học Dân Tộc TP. Hồ Chí Minh  
**Bộ môn Điều dưỡng, Khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật y học, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh  
***Đại học Bắc Colorado, Mỹ  
Tác giả liên lạc: CN. Vũ Ngô Thanh Huyền  
ĐT: 0934004054  
133  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 4 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
64.2%. Elderly patients who use 4 or more drugs are at a higher risk of falling than elderly patients who use less  
than 4 drugs, in which, OR = 3.36 (95% CI: 1.16- 9.73), p = 0.03; Elderly patients who use blood pressure drugs  
have a higher risk of falling than patients who do not use blood pressure drugs, in which, OR = 7.818 (95% CI:  
2.77 - 2.09), p <0.001; Elderly patients who are assigned to physical therapy are at a higher risk of falling than  
patients who do not practice physical therapy, in which, OR = 6.05 (95% CI: 1.99 – 8.33), p = 0.01.  
Conclusions: Using Morse Fall Scale to determine the risk of falling in the elderly and finding related  
factors will help nurses to be oriented with appropriate interventions in preventing falling, ensuring safety for  
inpatients and improving the quality of scientific evidence-based care.  
Key words: falls, elderly, tools for assessing risk of falling, patient safety  
môi trường bệnh viện. Trong nghiên cứu này,  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
chúng tôi áp dụng thang đo té ngã Morse- một  
Té ngã ở người cao tuổi là một vấn đề  
công cụ đã được sử dụng tại nhiều nước trên thế  
nghiêm trọng để lại hậu quả nặng nề cho các  
giới để đánh giá mức độ nguy cơ té ngã tại bệnh  
cá nhân, gia đình và hệ thống y tế. Trên thế  
viện một cách hiệu quả(15). Việc xác định mức độ  
giới, ước tính có 646.000 trường hợp té ngã tử  
nguy cơ té ngã và các yếu tố liên quan sẽ hỗ trợ  
vong xảy ra mỗi năm, khiến nó trở thành  
việc định hướng chăm sóc của điều dưỡng để  
nguyên nhân thứ hai gây tử vong do thương  
thực hiện các biện pháp can thiệp góp phần  
tích không chủ ý, sau chấn thương giao thông  
phòng ngừa hoặc giảm tỉ lệ té ngã trong bệnh  
đường bộ(14). Trong môi trường bệnh viện, té  
viện. Ngoài ra, việc sử dụng một công cụ cụ thể  
ngã là sự kiện bất lợi thường gặp thứ ba được  
sẽ bổ sung vào quy trình chăm sóc hỗ trợ điều  
báo cáo bởi Hệ thống Notivisa của Cơ quan  
dưỡng lập kế hoạch chăm sóc, hành động can  
Giám sát Y tế Quốc gia (ANVISA)(14). Điều trị  
thiệp phù hợp theo từng mức độ nguy cơ nhằm  
té ngã có thể kéo dài thời gian nằm viện, gây  
đáp ứng nhu cầu của người bệnh khi nằm viện.  
thêm gánh nặng kinh tế cho chi phí y tế và  
Đối tượng điều trị và chăm sóc tại Viện Y  
cũng như hậu quả pháp lý. Vì vậy vấn đề  
dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh là  
phòng ngừa té ngã, phòng ngừa những tổn  
người cao tuổi, đa bệnh lý mãn tính, có nhiều  
thương từ nhẹ đến nặng hoặc tử vong do té  
yếu tố nguy cơ té ngã nên chúng tôi thực hiện đề  
ngã gây ra là cần thiết trong các cơ sở y tế.  
tài nghiên cứu “Các yếu tố liên quan và nguy cơ  
Phòng ngừa té ngã là một trong những mục  
té ngã ở người bệnh cao tuổi điều trị nội trú”.  
tiêu quan trọng mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)  
Với mong muốn qua việc xác định các yếu tố  
muốn hướng tới. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban  
liên quan và đánh giá, dự đoán được nguy cơ té  
hành Thông tư 43 hướng dẫn phòng ngừa sự cố  
ngã sẽ giúp ích cho điều dưỡng phân loại, triển  
y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.  
khai chương trình phòng chống té ngã phù hợp  
Trong đó, người bệnh tử vong hoặc di chứng  
với người bệnh tại Viện Y dược học dân tộc  
nghiêm trọng do té ngã trong lúc được chăm sóc  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
y tế tại cơ sở y tế là sự cố y khoa nghiêm trọng  
Mục tiêu nghiên cứu  
cần báo cáo bắt buộc. Hơn nữa, đánh giá mức độ  
Xác định mức độ nguy cơ té ngã ở người  
bệnh cao tuổi điều trị nội trú tại Viện Y dược học  
dân tộc TP. Hồ Chí Minh.  
nguy cơ té ngã là một trong những chỉ số đánh  
giá chất lượng bệnh viện, liên quan đến an toàn  
của người bệnh, đặc biệt là đối với người cao  
tuổi(6). Vì vậy, các cơ sở y tế cần thiết sử dụng các  
công cụ cụ thể, được xác nhận hợp lệ, cho phép  
đánh giá chính xác về nguy cơ té ngã để họ có  
thể ngăn ngừa và giảm các nguy cơ này trong  
Xác định các yếu tố liên quan đến mức độ  
nguy cơ té ngã ở người bệnh cao tuổi điều trị nội  
trú tại Viện y dược học dân tộc TP. Hồ Chí Minh.  
134  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Fisher khi tần suất vọng trị của ít nhất một ô  
trong Crosstabs nhỏ hơn 5 để phân tích đơn biến  
các yếu tố nguy cơ. Các yếu tố có liên quan đến  
mức độ nguy cơ té ngã trong phân tích đơn biến  
gồm sử dụng từ 4 loại thuốc trở lên, sử dụng  
thuốc huyết áp, vật lý trị liệu được đưa vào phân  
tích hồi quy đa biến binary logistics.  
ĐỐTƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Người bệnh ≥ 60 tuổi đang điều trị nội trú  
các khoa lâm sàng của một bệnh viện khám chữa  
bệnh bằng Y, Dược cổ truyền Thành phố Hồ Chí  
Minh từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2019.  
Tiêu chuẩn chọn vào  
Nghiên cứu sử dụng mức ý nghĩa α= 0,05 và  
khoảng tin cậy 95%.  
Người bệnh Việt Nam ≥60 tuổi, điều trị nội  
trú, đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Y đức  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Y  
đức Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh số  
11/ĐHYD-HĐĐD.  
Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên  
cứu, người bệnh đã tham gia nghiên cứu này  
trước đó (người bệnh tái nhập viện trong thời  
gian nghiên cứu), người bệnh liệt hoàn toàn,  
không đứng được, người bệnh nặng, hôn mê,  
cấp cứu, có vấn đề về tâm thần, giao tiếp.  
KẾT QUẢ  
Trong 81 người bệnh tham gia nghiên cứu  
với độ tuổi từ 60 đến 92 tuổi, nữ chiếm 69,1%, độ  
tuổi từ 60-79 chiếm 84,0%, với tuổi trung bình là  
71,2 tuổi (± 7,6). Phần lớn (82,7%) báo cáo có học  
vấn từ tiểu học trở lên, nhưng vẫn còn số lượng  
17,3% người bệnh không biết chữ.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
Cỡ mẫu  
Bảng 1. Phân bố người bệnh theo tiêu chí đánh giá  
của thang đo Morse  
Có 81 người bệnh (NB).  
Kỹ thuật chọn mẫu  
Chọn mẫu thuận tiện.  
Phương pháp thu thập số liệu  
Thang đo Morse  
Số NB Tỷ lệ (%)  
Có  
Không  
Có  
14  
67  
63  
18  
7
17,3  
82,7  
77,8  
22,2  
8,6  
Tiền sử té  
ngã  
Chẩn đoán  
thứ phát  
Không  
Thu thập thông tin người bệnh theo phiếu  
thu thập thông tin soạn sẵn. Sử dụng thang đo  
Morse để đánh giá nguy cơ té ngã ở người  
bệnh. Thực hiện đo cân nặng, chiều cao, đo  
huyết áp xác định hạ huyết áp tư thế, đo thị  
lực cho người bệnh. Ghi nhận tình trạng thuốc  
đang sử dụng và chỉ định tập vật lý trị liệu qua  
hồ sơ bệnh án. Mức độ nguy cơ té ngã của  
người bệnh được thể hiện thông qua điểm số  
nguy cơ té ngã được đánh giá bằng thang đo  
Morse. Có 2 mức độ nguy cơ té ngã là nguy cơ  
té ngã cao khi tổng điểm thang đo Morse ≥ 45  
điểm và nguy cơ té ngã thấp khi tổng điểm  
thang đo Morse từ 0 – 44 điểm.  
Có  
Không  
Sự hiện diện  
truyền dịch  
74  
40  
29  
12  
4
91,4  
49,4  
35,8  
14,8  
Không sử dụng  
Có sự hỗ trợ  
Dụng cụ hỗ  
trợ  
Vịn nội thất  
Bình thường  
4,9  
Dáng đi  
Suy yếu  
31  
46  
53  
38,3  
56,8  
Suy yếu, không thăng bằng  
Định hướng được bản thân  
65,4  
Tình trạng  
tâm thần  
Quên có giới hạn/Không có  
khả năng nhận biết hiện  
thực/lơ mơ  
28  
34,6  
Trong tiền sử té ngã, 17,3% người bệnh cho  
biết đã từng bị té ngã trong vòng 12 tháng vừa  
qua. Về chẩn đoán thứ phát, hơn hai phần ba  
tổng số người bệnh (77,8%) được chẩn đoán mắc  
nhiều hơn một bệnh. Tỷ lệ thấp 8,6% người bệnh  
được ghi nhận có sự hiện diện của truyền dịch.  
Quản lý và phân tích số liệu  
Sử dụng phần mềm SPSS 22.0.  
Sử dụng phép kiểm Chi bình phương, hoặc  
135  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 4 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Liên quan đến dụng cụ hỗ trợ, một nửa người  
bệnh (49,4%) không sử dụng, một phần ba người  
bệnh (35,8%) có cần sự hỗ trợ của dụng cụ hoặc  
điều dưỡng, 14,8% người bệnh phải vịn nội thất  
như tường, bàn ghế khi đi lại. Về dáng đi, hơn  
một nửa người bệnh có dáng đi suy yếu, không  
thăng bằng (56,8%) 38,3% người bệnh có dáng đi  
suy yếu. Liên quan tình trạng tâm thần, phần lớn  
người bệnh định hướng được bản thân (65,4%)  
(Bảng 1). Mức độ nguy cơ té ngã của người bệnh:  
phần lớn người bệnh cao tuổi điều trị nội trú có  
mức độ nguy cơ té ngã cao (64,2%).  
Trong nghiên cứu, 43,2% nữ có mức độ nguy  
cơ té ngã cao, gấp đôi tỷ lệ mức độ nguy cơ té  
ngã cao ở nam. Hơn một nửa người bệnh trong  
độ tuổi từ 60-79 tuổi (53,1%) có mức độ nguy cơ  
té ngã cao. Sự khác biệt về mức độ nguy cơ té  
ngã theo giới tính và nhóm tuổi không có ý  
nghĩa thống kê (p >0,05) (Bảng 2).  
Người bệnh có chỉ định tập vật lý trị liệu  
có nguy cơ té ngã cao hơn so với người bệnh  
không tập vật lý trị liệu với OR=6,05 (KTC  
95%: 1,99–8,33), p=0,01. Người bệnh sử dụng  
từ 4 loại thuốc trở lên có nguy cơ té ngã cao  
hơn so với người bệnh sử dụng ít hơn 4 loại  
thuốc, với OR=3,36 (KTC 95%: 1,16-9,73),  
p=0,03. Người bệnh sử dụng thuốc huyết áp có  
nguy cơ té ngã cao hơn so với người bệnh  
không sử dụng thuốc huyết áp, với OR=7,818  
(KTC 95%: 2,77-2,09), p <0,001. Sự khác biệt về  
mức độ nguy cơ té ngã theo các yếu tố chỉ số  
khối cơ thể, giảm thị lực, hạ huyết áp tư thế, sử  
dụng thuốc thần kinh, thuốc kháng viêm,  
thuốc lợi tiểu không có ý nghĩa thống kê  
(p>0,05) (Bảng 3).  
Bảng 2. Mối liên quan giữa đặc điểm người bệnh đến  
mức độ nguy cơ té ngã theo thang đo Morse  
Nguy cơ té ngã  
Đặc điểm  
OR (KTC 95%)  
p
Thấp  
n (%)  
Cao  
n (%)  
Giới  
Nam  
Nữ  
8(9,9)  
17(21,0)  
1,28 (0,47- 3,47) 0,803  
1,30 (0,37- 4,70) 0,762  
21(25,9) 35(43,2)  
Nhóm tuổi  
60-79  
≥80  
25(30,9) 43(53,1)  
4(4,9)  
9(11,1)  
OR (Odds ratio): tỷ suất chênh; KTC: khoảng tin cậy,  
p: ý nghĩa thống kê  
Bảng 3. Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ đến mức độ nguy cơ té ngã theo thang đo Morse.  
Nguy cơ té ngã  
Yếu tố nguy cơ  
OR (KTC 95%)  
p
Thấp n (%)  
Cao n (%)  
BMI  
Thiếu cân  
Bình thường  
1 (1,2)  
6 (7,4)  
18 (22,2)  
10 (12,3)  
36 (44,4)  
10 (12,3)  
Vật lý trị liệu  
29 (35,8)  
23 (28,4)  
Giảm thị lực  
48 (59,3)  
4 (4,9)  
0,226a  
Thừa cân, béo phì  
Có  
5 (6,2)  
6,05  
(1,99 – 8,33)  
0,010  
0,291  
Không  
24 (29,6)  
Có  
29 (35,8)  
0 (0,0)  
1,60 (1,35 - 1,91)  
Không  
Hạ huyết áp tư thế  
24 (29,6)  
28 (34,6)  
≥ 4 thuốc  
44 (54,3)  
8(9,9)  
Có  
7(8,6)  
2,69  
0,06  
0,03  
(0,99 - 7,40)  
Không  
22 (27,2)  
Có  
18 (22,2)  
11 (13,6)  
3,36  
(1,16 - 9,73)  
Không  
Thuốc thần kinh  
12 (14,8)  
Có  
9 (11,1)  
0,67  
0,598  
136  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Nguy cơ té ngã  
Yếu tố nguy cơ  
OR (KTC 95%)  
p
Thấp n (%)  
Cao n (%)  
40 (49,4)  
(0,24 - 1,84)  
Không  
20 (24,7)  
Thuốc huyết áp  
43 (53,1)  
Có  
11 (13,6)  
18 (22,2)  
<0,001  
0,661  
0,451  
7,82  
(2,77 - 2,09)  
Không  
9 (11,1)  
Thuốc kháng viêm  
3(3,7)  
Có  
3(3,7)  
0,53  
(0,10 - 2,82)  
Không  
26 (32,1)  
49 (60,5)  
Thuốc lợi tiểu  
3 (3,7)  
Có  
3 (3,7)  
0,53  
(0,10 – 2,82)  
Không  
26 (32,1)  
49 (60,5)  
Kiểm định chi bình phương, OR (Odds ratio): tỉ suất chênh; KTC: khoảng tin cậy; p: ý nghĩa thống kê;  
a Fisher’s exact; BMI: chỉ số khối cơ thể  
Bảng 4. Kết quả phân tích đa biến về mối liên quan  
giữa các yếu tố sử dụng ≥4 loại thuốc, thuốc huyết áp  
và vật lý trị liệu đến mức độ nguy cơ té ngã theo  
thang đo Morse  
Tỷ lệ người bệnh cho biết đã té ngã trong 12  
tháng vừa qua là 17,3%. Một nghiên cứu đã  
chứng minh người cao tuổi bị té ngã trong 6  
tháng qua có nguy cơ té ngã cao hơn 1,675 lần so  
với người không tiền sử té ngã(6).  
Yếu tố nguy cơ  
Sử dụng ≥ 4 loại thuốc  
Sử dụng thuốc huyết áp  
Vật lý trị liệu  
OR  
0,92  
0,16  
0,22  
CI 95%  
p
0,23- 3,62 0,901  
0,05- 0,60 0,006  
0,07- 0,72 0,012  
Gần 80% người bệnh cao tuổi tham gia trong  
nghiên cứu này có chẩn đoán mắc nhiều hơn 1  
bệnh. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu  
của Falcao(6) có 80,3%. Tại Việt Nam trung bình 1  
người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh(12). Theo  
một nghiên cứu ở Canada, bệnh cao huyết áp  
làm tăng nguy cơ té ngã(14). Bệnh cơ xương khớp  
làm tăng nguy cơ té ngã 2,4 lần(1). Đái tháo  
đường làm tăng nguy cơ gấp đôi té ngã(12).  
Mô hình hồi quy đa biến; OR (Odds ratio): tỉ suất chênh;  
CI: khoảng tin cậy; p: ý nghĩa thống kê  
Sử dụng thuốc huyết áp là yếu tố ảnh  
hưởng đến mức độ nguy cơ té ngã ở người  
bệnh cao tuổi điều trị nội trú với OR=0,16  
(KTC 95%: 0,05-0,60), p=0,006. Vật lý trị liệu  
ảnh hưởng đến mức độ nguy cơ té ngã với  
OR=0,22 (KTC 95%: 0,07-0,72), p=0,012 (Bảng 4).  
Tỷ lệ người bệnh cao tuổi đang truyền dịch  
gần 9%. Kết quả này thấp hơn nhiều so với  
nghiên cứu tại Braxin của Falcao(6) gần 70%. Có  
sự khác biệt này là do đặc trưng của Viện Y dược  
học Dân tộc là áp dụng các phương pháp không  
dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt,  
vật lý trị liệu, cấy chỉ, ôn châm để điều trị cho  
người bệnh(2).  
BÀN LUẬN  
Nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan  
giữa tuổi đến mức độ nguy cơ té ngã. Tuy nhiên,  
té ngã liên quan đến vấn đề thể chất có nguồn  
gốc từ quá trình lão hóa. Sự thay đổi chức năng  
và cấu trúc trong giai đoạn lão hóa làm giảm sức  
mạnh cơ bắp. Sự suy giảm về sức mạnh cơ bắp  
và sự linh hoạt của khớp có thể làm thay đổi sự  
đi lại hoặc đứng lên, ngồi xuống ghế của người  
cao tuổi(3).  
Khoảng 49% người bệnh đi lại không cần sử  
dụng sự hỗ trợ từ dụng cụ hoặc điều dưỡng. Tỷ  
lệ này chỉ gần bằng một nửa so với nghiên cứu  
của Falcao(6) tại Braxin là 86%. Tỷ lệ người bệnh  
cần sự hỗ trợ từ dụng cụ hoặc điều dưỡng khi đi  
lại trong nghiên cứu là 36%, cao gấp ba lần so  
với kết quả của Falcao(6) là 9,5%. Tỷ lệ người  
bệnh phải vịn nội thất như bàn ghế, tường để đi  
lại khoảng 15%, cao gấp ba lần nghiên cứu của  
Chúng tôi không tìm thấy mối tương quan  
giữa giới tính đến mức độ nguy cơ té ngã. Tuy  
nhiên Painter(5) đã cho rằng phụ nữ té ngã  
thường xuyên hơn nam giới trong nhóm tuổi từ  
71 đến 80 tuổi.  
137  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 4 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Falcao(6) là 5,6%.  
nghiên cứu khác vì trong nghiên cứu có 40%  
người bệnh di chứng tai biến mạch máu não. Tại  
Viện y dược học dân tộc, người bệnh di chứng  
tai biến mạch máu não hầu hết đều có chỉ định  
tập vật lý trị liệu(7) (theo phác đồ điều trị khoa Y  
dược cổ truyền). Mà những đối tượng này đều  
có nhiều yếu tố nguy cơ gây té ngã như yếu cơ,  
yếu tay chân, đi lại khó khăn, mất thăng bằng  
khi đi lại, có các bệnh lý kết hợp, sử dụng nhiều  
loại thuốc nên họ có nguy cơ té ngã cao. Điều  
này dẫn đến kết quả người bệnh có chỉ định tập  
vật lý trị liệu có nguy cơ té ngã cao. Các nghiên  
cứu chứng minh biện pháp tập vật lý trị liệu như  
thủy trị liệu, tập tăng sức cơ tứ đầu đùi, cơ vai  
gây phòng ngừa hoặc giảm nguy cơ té ngã(15).  
Điều dưỡng cần phối hợp, trao đổi thống nhất  
với bác sĩ về những hướng dẫn chế độ vận động,  
tập luyện để tăng sức cơ, các bài tập phải phù  
hợp tình trạng bệnh lý và thể trạng người bệnh.  
Số người bệnh có dáng đi suy yếu, không  
thăng bằng chiếm tỉ lệ cao nhất gần 60%, cao hơn  
nhiều so với nghiên cứu tại Braxin của Falcao(6)  
là 11%. Người bệnh có dáng đi yếu ớt hoặc ngồi  
xe lăn khi đi lại có tỷ lệ 38,3%. Trong nghiên cứu,  
hơn một nửa người bệnh có bệnh lý di chứng tai  
biến mạch máu não, cơ xương khớp và ung thư  
với dáng đi suy yếu, không thăng bằng. Điều  
dưỡng cần chú trọng việc có thân nhân chăm sóc  
hỗ trợ đi lại khi cần.  
Liên quan đến tình trạng tâm thần, nghiên  
cứu ghi nhận được 65,4% người bệnh định  
hướng được bản thân. Kết quả này thấp hơn  
kết quả nghiên cứu của Falcao(6) có 95,1%. Tuổi  
tác và lão hóa là nguyên nhân chính gây nên  
tình trạng lú lẫn ở người cao tuổi. Bệnh lý đột  
quỵ, tai biến mạch máu não gây tổn thương tế  
bào não dẫn đến giảm trí nhớ. Việc sử dụng  
các thuốc huyết áp, thuốc an thần cũng gây  
giảm trí nhớ ở người cao tuổi(12). Điều dưỡng  
cần cảnh báo với người nhà người bệnh về  
tình trạng tâm thần. Điều dưỡng hướng dẫn  
chế độ ăn, quản lý thuốc chặt chẽ không để  
người bệnh tự uống thuốc. Mang vòng đeo  
tay, bảng có ghi thông tin người bệnh.  
Có mối liên quan giữa việc người bệnh sử  
dụng từ 4 loại thuốc trở lên đến mức độ nguy cơ  
té ngã. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu  
của Milbrandt B, việc sử dụng từ 4 loại thuốc trở  
lên, uống thuốc theo toa hoặc không theo toa  
làm tăng nguy cơ té ngã ở người cao tuổi(9). Tác  
giả đã lý giải rằng việc sử dụng càng nhiều  
thuốc càng làm tăng xuất hiện các tác dụng  
phụ(9). Việc giảm tổng số thuốc mà người bệnh  
đang sử dụng xuống còn bốn hoặc ít hơn nếu có  
thể, cũng đã được chứng minh là làm giảm nguy  
cơ té ngã(15).  
Người bệnh có mức độ nguy cơ té ngã cao  
chiếm tỷ lệ cao nhất gần 60%. Nghiên cứu của  
Falcao và Sarges cũng có mức độ nguy cơ té ngã  
cao chiếm tỷ lệ trên 40%(6,9). Nghiên cứu của  
Mata có mức độ nguy cơ té ngã cao chiếm tỷ lệ  
thấp nhất khoảng 35%(8). Các nghiên cứu trên đã  
chứng minh ít nhất một phần ba số người bệnh  
nhập viện có nguy cơ té ngã cao. Do đó, nhân  
viên y tế cần thực hiện các khuyến cáo phòng  
ngừa, các giải pháp tác động đến yếu tố nguy cơ  
cũng như nguyên nhân gây té ngã để giảm tần  
suất xuất hiện tình huống suýt xảy ra té ngã dẫn  
đến giảm sự cố té ngã.  
Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan  
giữa việc sử dụng thuốc huyết áp và mức độ  
nguy cơ té ngã. Kết quả này giống với nghiên  
cứu của Woolcott C, thuốc điều trị huyết áp có  
liên quan đến té ngã(17). Người bệnh sử dụng  
thuốc hạ áp có nguy cơ té ngã, và trong một vài  
trường hợp nguy cơ này cao hơn gấp tám lần khi  
so sánh với các loại thuốc khác(8). Điều dưỡng  
cần theo dõi huyết áp, ghi nhận triệu chứng  
không mong muốn như chóng mặt, mệt mỏi,  
buồn ngủ, lập kế hoạch và thực hiện các can  
thiệp trên các triệu chứng đó. Đồng thời hướng  
dẫn chế độ ăn ít natri và kiểm soát cân nặng. Cần  
Có mối liên quan giữa người bệnh có chỉ  
định tập vật lý trị liệu với nguy cơ té ngã. Người  
bệnh có chỉ định tập vật lý trị liệu có nguy cơ té  
ngã cao hơn so với người bệnh không có chỉ  
định tập vật lý trị liệu. Điều này khác biệt với các  
138  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
lựa chọn thuốc, điều chỉnh liều tối ưu cho từng  
người bệnh sao cho hạn chế tối đa các tác dụng  
không mong muốn của thuốc hạ áp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. American Geriatrics Society, British Geriatrics Society, American  
Academy of Orthopaedic Surgeons Panel on Falls Prevention  
(2001). "Guideline for the Prevention of Falls in Older Persons". J  
Am Geriatr Soc, 49(5):664–72.  
Không tìm thấy mối tương quan giữa giảm  
thị lực và mức độ nguy cơ té ngã. Nghiên cứu  
ghi nhận đến 95% người bệnh giảm thị lực trong  
đó có tới 59% người bệnh có nguy cơ té ngã cao.  
Giảm thị lực là một trong những thay đổi do quá  
trình lão hóa gây ra sự giảm ổn định tư thế, tạo  
điều kiện cho sự té ngã. Nghiên cứu của Remor  
ghi nhận trong số những người đã té ngã có đến  
88,6% bị giảm thị lực(7). Điều dưỡng cần xem thị  
lực như là một yếu tố để đánh giá nguy cơ té ngã  
cho người bệnh khi nhập viện. Khi xác định  
người bệnh có giảm thị lực, hướng dẫn người  
bệnh khám chuyên khoa mắt để có biện pháp  
can thiệp phù hợp với nguyên nhân gây giảm thị  
lực ở từng người bệnh.  
2. Bộ y tế (2008). "94 quy trình kỹ thuật y học cổ truyền". Cục xuất  
bản- Văn hóa thông tin, 1:28-98.  
3. Chu JJ, Chen XJ, Shen SS, et al (2015). "A poor performance in  
comprehensive geriatric assessment is associated with increased  
fall risk in elders with hypertension: a cross-sectional study". J  
Geriatr Cardiol, 12(2):113-8.  
4. Đặng Trọng Thanh (2016). Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế  
năm 2016- Hướng tới mục tiêu già hoá khoẻ mạnh ở Việt Nam.  
Bộ Y tế Việt Nam, pp 66-94.  
5. Dionyssiotis Y (2012). "Analyzing the problem of falls among  
older people". Int J Gen Med, 5:805-13.  
6. Falcao RMM, Costa K, Fernandes M, et al (2019). "Risk of falls in  
hospitalized elderly people". Rev Gaucha Enferm, 40:e20180266.  
7. Huỳnh Thị Cúc (2014). "Phác đồ điều trị khoa Y dược cổ  
truyền". Bệnh viện Đa khoa An Phú, pp. 5-9.  
8. Mata L, Azevedo C, Policarpo AG, et al (2017). "Factors  
associated with the risk of fall in adults in the postoperative  
period: a cross-sectional study". Rev Lat Am Enfermagem,  
25:e2904.  
Như một hạn chế của nghiên cứu, các kết  
quả không thể đại diện cho tất cả các bối cảnh  
bệnh viện do cỡ mẫu nhỏ, thời gian nghiên cứu  
ngắn, đặc điểm người bệnh chưa mang tính đại  
diện cao.  
9. Milbrandt EB, Angus DC (2009). "Chapter 19. Critical Care".  
Hazzard's Geriatric Medicine and Gerontology, 340(9):669–676.  
10. Painter JA, Elliott SJ (2009). "Influence of Gender on Falls".  
Physical & Occupational Therapy In Geriatrics, 27(6):387-404.  
11. Remor CP, Cruz CB, Urbanetto JS (2014). "Analysis of fall risk  
factors in adults within the first 48 hours of hospitalization". Rev  
Gaucha Enferm, 35(4):28-34.  
KẾT LUẬN  
12. Roman de Mettelinge T, Cambier D, Calders P, et al (2013).  
"Understanding the Relationship between Type 2 Diabetes  
Mellitus and Falls in Older Adults: A Prospective Cohort  
Study". PLoS One, 8(6):e67055  
Ứng dụng thang đo Morse trong lâm sàng  
giúp điều dưỡng định hướng, xác định mức độ  
nguy cơ té ngã. Ba yếu tố liên quan đến mức độ  
nguy cơ té ngã ở người bệnh cao tuổi điều trị nội  
trú là sử dụng từ 4 loại thuốc trở lên, thuốc  
huyết áp và vật lý trị liệu.  
13. Sarges NA, Santos M, Chaves EC (2017). "Evaluation of the  
safety of hospitalized older adults as for the risk of falls". Rev  
Bras Enferm, 70(4):860-867.  
14. Sibley KM, Voth J, Munce SE, et al. (2014). "Chronic disease and  
falls in community-dwelling Canadians over 65 years old: A  
population-based study exploring associations with number  
and pattern of chronic conditions". BMC Geriatr, 14:22  
Trước những nguy cơ mà người cao tuổi gặp  
phải trong thời gian nằm viện, điều dưỡng cần  
nhấn mạnh tầm quan trọng của người thân bên  
cạnh người bệnh như là một biện pháp tốt trong  
việc ngăn ngừa té ngã, đặc biệt là ở những người  
có nguy cơ cao. Bệnh viện cần xem xét và áp  
dụng một thang đo để đánh giá nguy cơ té ngã ở  
người bệnh khi nhập viện. Lập kế hoạch đào tạo  
cho điều dưỡng về thực hành sử dụng thang đo  
này. Thiết lập các hướng dẫn can thiệp điều  
dưỡng phù hợp với từng mức độ nguy cơ té ngã  
và với các yếu tố liên quan đã xác định.  
15. Urbanetto de JS, Creutzberg M, Franz F, et al (2013). "Morse Fall  
Scale: translation and transcultural adaptation for the  
Portuguese language". Rev Esc Enferm USP, 47(3):569-75.  
16. Who (2007). "WHO Global Report on Falls Prevention in Older  
Age". Ageing and Life Course, Family and Community Health, pp.53.  
17. Woolcott JC, Richardson KJ, Wiens MO, et al (2009). "Meta-  
analysis of the impact of 9 medication classes on falls in elderly  
persons". Arch Intern Med, 169(21):1952–60.  
Ngày nhận bài báo:  
30/07/2019  
30/08/2019  
10/10/2019  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
139  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
pdf 7 trang yennguyen 22260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nguy cơ té ngã ở người bệnh cao tuổi điều trị nội trú và các yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnguy_co_te_nga_o_nguoi_benh_cao_tuoi_dieu_tri_noi_tru_va_cac.pdf