Nghiên cứu đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU  
Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT  
Trương Văn Trị*, Nguyễn Đức Công*  
TÓM TẮT  
Cơ sở: Rối loạn lipid máu (RLLM) là một yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh lý tim mạch ở người cao tuổi.  
Tuy nhiên còn ít nghiên cứu về đặc điểm RLLM ở đối tượng này.  
Mục tiêu: Tìm hiểu về đặc điểm RLLM ở người cao tuổi.  
Phương pháp: nghiên cứu tiến cứu, mô tả, cắt ngang.  
Kết quả: Trong nghiên cứu này, 412 bệnh nhân (nam 271, nữ 140) ở độ tuổi ≥ 60 có RLLM được chia  
thành 2 nhóm: 223 bệnh nhân 60 - 69 tuổi và 189 bệnh nhân ≥ 70 tuổi, được xét nghiệm lipid máu. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy: tăng cholesterol toàn phần (CT) 66,26%, tăng triglycerid (TG) 58,88%, tăng lipoprotein tỷ  
trọng thấp (LDL-c) 56,48% và giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-c) 33,09%; Nồng độ trung bình TG ở nhóm  
60 - 69 tuổi cao hơn nhóm ≥ 70 tuổi (2,43 ± 1,57 so với 2,16 ± 1,16 mmol/l) và nồng độ trung bình HDL-c ở  
nhóm 60 - 69 tuổi thấp hơn nhóm ≥ 70 tuổi (1,16 ± 0,33 so với 1,25 ± 0,36 mmol/l) với p < 0,05. Tỷ lệ rối loạn  
chung của 4 thành phần lipid máu giữa hai nhóm tuổi (60 - 69) và ≥ 70 là tương đương nhau (p > 0,05). Tỷ lệ  
bệnh nhân tăng CT và tăng TG mức cao ở nhóm tuổi 60 - 69 cao hơn nhóm tuổi ≥ 70 (p < 0,05). Tỷ lệ bệnh nhân  
tăng CT mức cao ở nữ cao hơn nam và tỷ lệ bệnh nhân HDL-c thấp ở nam cao hơn nữ (p < 0,05).  
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi có RLLM khá cao. Có sự khác biệt về tỷ lệ rối loạn theo mức độ của CT,  
TG và HDL-c giữa 2 nhóm tuổi 60 - 69 và nhóm tuổi ≥ 70; nhưng không có sự khác biệt về tỷ lệ rối loạn chung  
của 4 thành phần lipid máu giữa 2 nhóm tuổi trên.  
Từ khóa: rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch  
ABSTRACT  
STUDYING CHARACTERISTICS OF THE ELDERLY DYSLIPIDEMIA IN THONG NHAT HOSPITAL  
Truong Van Tri, Nguyen Đuc Cong  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 18 - 24  
Background: Dyslipidemia has been essential cardiovascular in the elderly patient but there was few data of  
the elderly dyslipidemia.  
Objective: Studying characteristics of the elderly dyslipidemia  
Method: Cross- sectional, prospective, descriptive study.  
Results: The data was reported 412 patients over 60 years old, divided two groups: 60-69 years old and over  
70 years old. They were examined lipid blood. The results showed that 66.26% increased CT, 58.88% increased  
TG, 56.48% increased LDL-c and 33.09% decreased HDL-c. The TG level in group 60-69 years old was higher  
than that group ≥ 70 years old and HDL-c level in group 60-69 years old was lower than that group ≥ 70 years  
old. The ratio of increased CT and increased TG in group 60-69 years old was higher than that group ≥ 70 years.  
The ratio of increased CT in women is higher than in men, and the ratio of decreased HDL-c in men is higher  
than women. The ratio of component dyslipidemia in two groups is the same.  
* Bệnh viện Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: ThS. BS. Trương Văn Trị  
ĐT: 0903018537  
18  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Conclusion: The frequency of elderly patients being component dyslipidemia is relatively high. It is different  
in ratio of dyslipidemia between in men and women. The ratio and degree of component dyslipidemia in two  
group of ages is relatively similar.  
Keywords: Dyslipidemia, atherosclerosis  
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Có RLLM theo Khuyến cáo của Hội Tim  
mạch Quốc gia Việt Nam giai đoạn (2006 –  
2010).  
Rối loạn lipid máu (RLLM) là một trong  
những yếu tố nguy cơ (YTNC) chính của bệnh  
tim mạch do vữa xơ động mạch (VXĐM), rất  
phổ biến ở người cao tuổi. Đó là sự biến đổi  
nồng độ các thành phần lipid máu như: tăng  
cholesterol toàn phần (CT), tăng triglycerid (TG),  
tăng lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-c) và giảm  
lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-c)(3).  
Nhiều nghiên cứu trong nước và thế giới đã  
chứng minh vai trò của RLLM trong bệnh lý  
VXĐM và mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ tử  
vong với tần suất xuất hiện các YTNC ở bệnh  
nhân bệnh tim mạch; trong đó RLLM gây  
VXĐM là một trong những YTNC hàng đầu. Tỷ  
lệ tử vong và tần suất xuất hiện các YTNC cũng  
tăng dần theo độ tuổi của người bệnh(4).  
LDL-c: ≥ 3,34 mmol/l (130 mg%).  
CT: ≥ 5,20 mmol/l (200 mg%).  
HDL-c: ≤ 1,03 mmol/ l (40 mg%).  
TG: ≥ 1,73 mmol/l (150 mg%).  
Có RLLM đã ngừng thuốc điều trị RLLM  
trên 4 tuần.  
Tuổi từ 60 trở lên.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Hội chứng thận hư.  
Bệnh gan mật cấp và mạn tính.  
Suy thận mạn tính và cấp tính.  
Đang sử dụng các thuốc làm ảnh hưởng đến  
các thành phần lipid máu như: progestin,  
anabolic steroid, ức chế thụ thể β, hypothiazide,  
các thuốc ức chế miễn dịch, heparin,  
erythromycin và ketoconazol và các chất chống  
trầm cảm 3 vòng.  
Bệnh nhân đang dùng hoặc ngừng thuốc  
điều trị RLLM dưới 4 tuần.  
Bệnh nhân đang có bệnh lý cấp tính hoặc các  
bệnh mạn tính nặng, giai đoạn cuối.  
Ở đối tượng bệnh nhân cao tuổi, do đặc  
điểm đa bệnh lý, sự lão hóa chung toàn cơ thể  
kèm suy giảm chức năng hầu hết các cơ quan  
nên vấn đề phát hiện sớm RLLM để kiểm soát  
lipid máu đạt mục tiêu, giảm thiểu biến cố tim  
mạch và tỷ lệ tử vong càng có ý nghĩa quan  
trọng và cấp thiết.  
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành  
nghiên cứu đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân  
cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất, từ đó có hướng  
dự phòng và điều trị phù hợp, tích cực hơn cho  
bệnh nhân cao tuổi bị RLLM.  
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên  
cứu.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, cắt ngang.  
Nội dung nghiên cứu  
Bao gồm 412 bệnh nhân (nam 272, nữ 140),  
độ tuổi từ 60 tuổi trở lên, có RLLM đến khám và  
điều trị tại Khoa khám bệnh A - Bệnh viện  
Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả  
bệnh nhân được đều xét nghiệm lipd máu ngay  
lần khám đầu tiên vào buổi sáng sớm lúc đói.  
Lập bệnh án theo mẫu cho từng bệnh nhân.  
Thiết kế câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp bệnh  
nhân.  
Ghi kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng.  
Thông tin trong bệnh án được ghi chép đầy  
19  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Nam (n =  
đủ, chính xác để tiến hành nghiên cứu từng đối  
tượng và bảo đảm yếu tố khách quan.  
Chỉ số  
TB (cm)  
Nữ (n = 140)  
p
272)  
86,7 ± 7,2  
81,7 ± 8,9  
69 (49,3)  
< 0,05  
< 0,05  
VB  
Xét nghiệm máu: lấy máu buổi sáng trước  
khi ăn sáng, bao gồm cholesterol toàn phần  
(CT), triglycerid (TG), lipoprotein tỷ trọng thấp  
(LDL-c) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-c) và  
một số xét nghiệm sinh hóa, huyết học cần thiết  
khác.  
Tăng, n (%) 81 (29,8)  
TB  
Tăng, n (%) 81 (29,8)  
0,93 ± 0,06 0,89 ± 0,07 < 0,05  
93 (66,4) < 0,05  
VB/VM  
Nhận xét: Giá trị trung bình của VB và chỉ số  
VB/VM của nam cao hơn nữ, nhưng tỷ lệ tăng  
hai giá trị này ở nữ cao hơn nam (p < 0,05). Giá  
trị trung bình và tỷ lệ tăng BMI ở hai giới tương  
đương nhau.  
Đánh giá cơ cấu RLLM  
Có ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau  
LDL-c ≥ 3,34 mol/l (130 mg%)  
CT ≥ 5,20 mol/l (200 mg%)  
HDL-c ≤ 1,03 mol/l (40 mg%)  
TG ≥ 1,73 mol/l (150 mg%)  
Đặc điểm rối loạn lipid máu của đối tượng  
nghiên cứu  
Bảng 3: Rối loạn các thành phần lipid máu theo  
nhóm tuổi  
Nhó m tuổi  
60 - 69  
(n = 223)  
Chung  
(n = 412)  
Thành  
phần  
Đánh giá mức độ RLLM  
Theo tiêu chuẩn Hội Tim mạch Quốc gia  
Việt Nam (2006-2010)  
p
≥ 70  
(n = 189)  
CT  
TB  
(mmol/L)  
Tăng, n  
(%)  
TG  
TB  
(mmol/l)  
Tăng, n  
(%)  
LDL-c  
5,62 ± 1,08 5,68 ± 1,09 5,54 ± 1,07 > 0,05  
273 (66,26) 150 (67,26) 123 (65,08) > 0,05  
Xử lý số liệu  
Các số liệu được xử lý theo các thuật toán sử  
dụng trong y sinh học bằng phần mềm chương  
trình thống kê Stata 10.0  
2,31 ± 1,40 2,43 ± 1,57 2,16 ± 1,16 < 0,05  
242 (58,88) 132 (59,19) 110 (58,51) > 0,05  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1: Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên  
TB  
(mmol/l)  
Tăng, n  
(%)  
3,47 ± 0,95 3,50 ± 0,96 3,44 ± 0,93 > 0,05  
231 (56,48) 129 (58,37) 102 (54,26) > 0,05  
cứu  
Tổng số BN Nam (n Nữ (n  
Tuổi  
p
(n = 412) = 272)  
=140)  
HDL-c  
TB  
(mmol/l)  
Giảm, n  
(%)  
Trung bì nh  
69,5 ±  
69,0 ± 5,8  
5,8  
137  
223 (54,13)  
(50,37)  
135  
189 (45,87)  
(49,63)  
68,0 ± 5,7 > 0,05  
(năm)*  
1,19 ± 0,35 1,16 ± 0,33 1,25 ± 0,36 < 0,05  
136 (33,09) 73 (32,74) 63 (33,51) > 0,05  
Theo lớp 60 - 69  
tuổi  
86 (61,43)  
< 0,05  
54 (38,57)  
≥ 70  
Nhận xét: Nồng độ trung bình TG ở nhóm  
60 - 69 tuổi cao hơn nhóm ≥ 70 tuổi (p < 0,05).  
Nồng độ trung bình HDL-c của nhóm 60 - 69  
tuổi thấp hơn nhóm ≥ 70 tuổi (p < 0,05). Tỷ lệ  
bệnh nhân có rối loạn 4 thành phần lipid máu ở  
nhóm tuổi 60 - 69 và ≥ 70 là tương đương nhau.  
Nhận xét: Tuổi trung bình của bệnh nhân nữ  
thấp hơn 1,5 tuổi so với bệnh nhân nam.Tỷ lệ  
bệnh nhân nữ trong nhóm tuổi 60 - 69 cao hơn  
nam và tỷ lệ bệnh nhân nam trong nhóm tuổi ≥  
70 cao hơn nữ.  
Bảng 2: Đặc điểm các chỉ số nhân trắc  
Bảng 4: Rối loạn các thành phần lipid máu theo giới  
Nam (n =  
Số ca  
Chung  
Nam  
Nữ  
Chỉ số  
Nữ (n = 140)  
p
p
272)  
(n = 412) (n = 272) (n = 140)  
Thành phần  
TB (kg/m2) 23,8 ± 2,7  
Tăng, n (%) 95 (34,9)  
23,8 ± 3,4  
43 (30,7)  
> 0,05  
> 0,05  
CT Trung bì nh  
(mmol/L)  
5,46 ± 5,92 ±  
BMI  
5,62 ± 1,08  
< 0,05  
1,07  
1,04  
20  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
Số ca  
Số ca  
Chung  
Nam  
Nữ  
Chung  
Nam  
Nữ  
p
p
(n = 412) (n = 272) (n = 140)  
(n = 412) (n = 272) (n = 140)  
Thành phần  
Thành phần  
Tăng, n  
(%)  
TG Trung bì nh  
(mmol/L)  
Tăng, n  
(%)  
LDL-c Trung bì nh  
(mmol/L)  
Tăng, n  
(%)  
HDL-c Trung bì nh  
(mmol/L)  
163  
110  
Giảm, n  
106  
273 (66,3)  
2,31 ± 1,36  
242 (58,9)  
3,47 ± 0,95  
231 (56,5)  
1,19 ± 0,35  
< 0,05  
> 0,05  
136 (33,1)  
30 (21,4) < 0,05  
(59,9)  
(78,6)  
(%)  
(39,1)  
2,32 ± 2,29 ±  
1,42  
161  
(59,4)  
3,37 ± 3,68 ±  
0,93  
139  
(51,7)  
Nhận xét: Nữ giới có nồng độ CT, LDL-c và  
HDL-c trung bình cao hơn nam giới và sự khác  
biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).Tỷ lệ bệnh  
nhân có rối loạn CT và LDL-c ở nữ cao hơn  
nam, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Tỷ  
lệ bệnh nhân có giảm HDL-c ở nam cao hơn nữ,  
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).  
1,38  
81 (57,9) > 0,05  
< 0,05  
0,95  
92 (65,7) < 0,05  
1,16 ± 1,27 ±  
0,39  
< 0,05  
0,29  
Bảng 5: Mức độ rối loạn các thành phần lipid máu theo nhóm tuổi  
Nhó m tuổi  
Thành phần lipid  
Chung (n = 412)  
p (1,2)  
60 - 69 (1) (n = 223)  
≥ 70 (2) (n = 189)  
66 (34,9)  
83 (43,9)  
40 (21,2)  
75 (39,7)  
57 (30,2)  
53 (28,0)  
4 (2,1)  
CT  
TG  
Bì nh thường, n (%)  
Giới hạn cao, n (%)  
Cao, n (%)  
Bì nh thường, n (%)  
Giới hạn cao, n (%)  
Cao, n (%)  
Rất cao, n (%)  
Bì nh thường, n (%)  
Giới hạn cao, n (%)  
Cao, n (%)  
139 (33,7)  
164 (39,8)  
109 (26,5)  
165 (40,1)  
101 (24,5)  
132 (32,0)  
14 (3,4)  
198 (48,1)  
110 (26,7)  
75 (18,2)  
29 (7,0)  
73 (32,7)  
81 (36,3)  
69 (30,9)  
90 (40,4)  
44 (19,7)  
79 (35,4)  
10 (4,4)  
105 (47,1)  
54 (24,2)  
45 (20,2)  
19 (8,5)  
> 0,05  
> 0,05  
< 0,05  
> 0,05  
< 0,05  
< 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
LDL-c  
HDL-c  
85 (49,7)  
56 (29,6)  
30 (15,9)  
10 (5,3)  
142 (75,1)  
47 (28,9)  
Rất cao, n (%)  
Bì nh thường, n (%)  
Thấp, n (%)  
299 (72,6)  
113 (27,4)  
157 (77,4)  
66 (29,6)  
Số người  
Thành phần  
Chung (n Nam (1) Nữ (2) (n  
Nhận xét: Mức độ rối loạn CT, TG, LDL-c,  
HDL-c ở hai nhóm tuổi là tương đương ngoại  
trừ tỷ lệ rối loạn CT và TG mức cao ở độ tuổi  
60 - 69 cao hơn độ tuổi ≥ 70 (p < 0,05).  
p (1,2)  
= 412) (n = 272) = 140)  
Rất cao, n (%)  
14 (3,4)  
9 (3,3)  
5 (3,6) > 0,05  
LDL-c  
Bảng 6: Mức độ rối loạn các thành phần lipid máu  
theo giới  
Bì nh thường, n (%)  
198  
145 (53,3) 53 (37,9) < 0,05  
(48,06)  
Giới hạn cao, n (%) 110 (26,7) 67 (24,6) 43 (30,7) > 0,05  
Số người  
Thành phần  
CT  
Chung (n Nam (1) Nữ (2) (n  
= 412) (n = 272) = 140)  
p (1,2)  
Cao, n (%)  
Rất cao, n (%)  
HDL-c  
75 (18,2) 45 (16,5) 30 (21,4) > 0,05  
29 (7,0) 15 (5,5) 14 (10,0) > 0,05  
Bì nh thường, n (%) 139 (33,7) 109 (40,1) 30 (21,4) < 0,05  
Giới hạn cao, n (%) 164 (39,8) 101 (37,1) 63 (45,0) > 0,05  
Bì nh thường, n (%)  
114  
299 (72,6) 185 (68,0)  
< 0,05  
(81,4)  
Cao, n (%)  
TG  
109 (26,5) 62 (22,8) 47 (33,6) < 0,05  
Thấp, n (%)  
113 (27,4) 87 (32,0) 26 (18,6) < 0,05  
Nhận xét: Nam giới có tỷ lệ CT và LDL-c  
bình thường cao hơn nữ giới (p<0,05); tỷ lệ bệnh  
nhân nữ có rối loạn CT, TG và LDL-c mức giới  
hạn cao và cao hoặc rất cao hầu hết đều cao hơn  
bệnh nhân nam, sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê ở CT mức cao (p < 0,05); tỷ lệ HDL-c thấp ở  
Bì nh thường, n (%)  
57  
165 (40,1) 108 (39,7)  
101 (24,5) 66 (24,3)  
> 0,05  
> 0,05  
(40,71)  
Giới hạn cao, n (%)  
35  
(25,00)  
Cao, n (%)  
132 (32,0) 89 (32,7) 43 (30,7) > 0,05  
21  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
tuổi(2,3,1)  
Nghiên cứu Y học  
nam giới cao hơn nữ giới (p < 0,05).  
BÀN LUẬN  
.
Đặc điểm rối loạn lipid máu của đối tượng  
nghiên cứu  
Đặc điểm rối loạn lipid máu theo nhóm tuổi  
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu tiến hành trên 412 bệnh nhân  
cao tuổi, có RLLM. Mẫu nghiên cứu này được  
chia thành 2 nhóm tuổi.  
Nhóm 1 (60 - 69 tuổi) gồm: 223 đối tượng  
chiếm 54,13%.  
Trong nghiên cứu này (Bảng 3) cho thấy tỷ  
lệ bệnh nhân cao tuổi bị rối loạn CT (66,26%) là  
chủ yếu, tỷ lệ rối loạn TG (58,88%) và LDL-c  
(56,48%) cũng khá cao, tỷ lệ rối loạn thấp nhất là  
HDL-c (33,09%). Nguyễn Trung Chính (1990)  
nghiên cứu rối loạn lipoprotein ở bệnh nhân  
THA trên 60 tuổi nhận thấy có rối loạn từ 3 đến  
5 chỉ số lipid máu (CT, TG, LDL-c, HDL-c,  
CT/HDL-c) chiếm tỷ lệ 73,1%(6). Nghiên cứu của  
Trương Thanh Hương (2002) trên 362 bệnh nhân  
tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ RLLM khá cao  
(78,5%), thường gặp rối loạn kiểu hỗn hợp  
(35,1%), rồi đến tăng CT đơn thuần (29,3%), ít  
gặp tăng TG đơn thuần(9).  
Nồng độ trung bình của các thành phần  
lipid của đối tượng cao tuổi được đánh giá ngay  
từ đầu nghiên cứu, lần lượt là: CT (5,62 ± 1,08)  
mmol/l, TG (2,31 ± 1,40) mmol/l, LDL-c (3,47 ±  
0,95) mmol/l và HDL-c (1,19 ± 0,35) mmol/l. Dựa  
trên kết quả nghiên cứu này cho thấy nồng độ  
trung bình của TG ở mức cao, nồng độ CT và  
LDL-c ở mức cao giới hạn theo phân chia mức  
độ RLLM của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt  
Nam. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan trong  
nhóm 100 bệnh nhân cao tuổi thì nồng độ trung  
bình của các thành phần lipid lần lượt là: CT  
(6,10 ± 1,17) mmol/l, TG (3,51 ± 2,26) mmol/l,  
LDL-c (3,36 ± 1,23) mmol/l và HDL-c (1,30± 0,33)  
mmol/l. Sự khác biệt này có thể giải thích là do  
độ tuổi, cỡ mẫu và đặc điểm chung của đối  
tượng bệnh nhân trong hai nghiên cứu không  
đồng nhất; nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan có  
độ tuổi và cỡ mẫu nhỏ hơn nghiên cứu của  
chúng tôi(5).  
Nhóm 2 (≥ 70 tuổi) gồm: 189 đối tượng  
chiếm 45,87%.  
Trong đó, có 140 đối tượng nữ chiếm 33,98%  
và 272 đối tượng nam chiếm 66,02%. Tuổi trung  
bình của mẫu nghiên cứu là: 69,0 ± 5,8; trong đó  
tuổi trung bình của nữ thấp hơn nam khoảng 1,5  
tuổi. Như vậy lứa tuổi này phù hợp với tiêu  
chuẩn người cao tuổi của Liên Hiệp Quốc và là  
lứa tuổi có tần suất mắc các YTNC tim mạch khá  
cao, trong đó RLLM là một trong những YTNC  
quan trọng nhất(1).  
Trong mẫu nghiên cứu này, đối tượng nữ  
chỉ chiếm khoảng một nửa đối tượng nam.  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giá trị trung  
bình và tỷ lệ tăng chỉ số khối cơ thể (BMI) của  
hai giới gần tương đương nhau. Nguyễn Thị  
Loan (2008), nghiên cứu trên 225 bệnh nhân có  
độ tuổi từ 20 đến 79 cũng có kết quả tương tự(5).  
Nghiên cứu cũng có đo chu vi vòng bụng và tỷ  
số vòng bụng/vòng mông (VB/VM) để đánh giá  
mức độ béo bụng vì nó liên quan chặt chẽ với  
bệnh mạch vành, tăng huyết áp, RLLM, rối loạn  
chuyển hóa khác. Trong nghiên cứu này cho  
thấy giá trị trung bình chu vi vòng bụng và tỷ số  
VB/VM của nam cao hơn nữ và ngược lại bệnh  
nhân nữ có tỷ lệ tăng chu vi vòng bụng và tỷ số  
VB/VM cao hơn nam. Kết quả này cũng phù  
hợp với nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng: nam  
giới thường béo bụng, nữ giới thường béo  
hông(7). Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân  
béo phì chiếm tỷ lệ 34,9% ở nam và 30,7% ở nữ,  
béo bụng chiếm tỷ lệ 29,8% ở nam và 66,4% ở nữ  
. Đây là một con số báo động vì là yếu tố thúc  
đẩy làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành, hội  
chứng chuyển hóa, thường gặp ở bệnh nhân cao  
Bảng 3 cũng cho thấy nồng độ trung bình  
của TG ở nhóm 60 - 69 tuổi cao hơn nhóm ≥ 70  
tuổi; điều này có thể liên quan đến chế độ ăn,  
luyện tập, sinh hoạt khác nhau giữa 2 nhóm  
tuổi. Nồng độ trung bình của HDL-c ở nhóm 60  
- 69 tuổi thấp hơn nhóm ≥ 70 tuổi cũng phù hợp  
22  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
với nhiều nghiên cứu khác là HDL-c thường  
tăng sau tuổi 70(3).  
nghiên cứu của chúng tôi(5).  
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng  
minh nồng độ của các thành phần lipid máu  
thay đổi theo giới: từ nhỏ đến tuổi trung niên  
nồng độ CT nam và nữ như nhau, từ 55 -75 tuổi  
nồng độ CT nam thấp hơn nữ 20-30 mg/dL; từ  
65-74 tuổi có 39% nữ và 22% nam có nồng độ CT  
> 240 mg/dL. Ở nam giới, nồng độ HDL-c giảm  
ở tuổi dậy thì, ổn định ở tuổi trung niên kéo dài  
cho đến sau 60 - 70 tuổi thì tăng dần(3).  
Về tỷ lệ mức độ rối loạn các thành phần  
lipid máu theo giới, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ  
bệnh nhân nữ có rối loạn CT và LDL-c ở mức  
giới hạn cao và cao đều cao hơn bệnh nhân nam;  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức CT cao.  
Riêng tỷ lệ HDL-c thấp ở nam giới cao hơn nữ  
giới có ý nghĩa thống kê ((p < 0,05); còn tỷ lệ rối  
loạn TG ở hai giới tương đương nhau (Bảng 6).  
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan (2002) cũng  
cho kết quả tương tự, chỉ có sự khác biệt là các  
mức rối loạn CT ở nam và nữ tương đương  
nhau(5). Pongchaiyakul C và cộng sự (2005)  
nghiên cứu trên 325 đối tượng ở một vùng nông  
thôn Thái Lan bao, gồm 136 nam và 189 nữ, tuổi  
trung bình (53,8 ± 17,6) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân  
tăng CT, TG, LDL-c, HDL-c thứ tự là: 31%, 40%,  
20% và 14%; nữ giới có tỷ lệ tăng CT gấp 2 lần,  
tăng LDL-c gấp 3,5 lần so với nam giới trong khi  
tỷ lệ tăng TG là tương đương(8). Kết quả của  
chúng tôi có sự khác biệt là do đối tượng nghiên  
cứu có độ tuổi cao hơn.  
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng  
minh nồng độ của các thành phần lipid máu  
thay đổi theo tuổi: nồng độ CT, TG, LDL-c tăng  
dần theo tuổi và giảm dần từ tuổi 60; càng lớn  
tuổi thì nồng độ LDL-c nhỏ, đậm đặc càng tăng  
nên bệnh nhân cao tuổi có nguy cơ VXĐM cao  
hơn; nồng độ HDL-c giảm ở tuổi dậy thì, ổn  
định ở tuổi trung niên và tăng từ tuổi 70. Theo  
NHANES III (1988-1991), nồng độ trung bình CT  
ở nam giới các nhóm tuổi (20-34), (55-64) và (≥  
75) tuổi theo thứ tự là: 189, 221, 205 (mg/dL)(3).  
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có  
rối loạn 4 thành phần lipid máu và nồng độ  
trung bình LDL-c của nhóm tuổi 60 - 69 và  
nhóm tuổi ≥ 70 là tương đương.  
Về mức độ rối loạn các thành phần lipid  
máu theo nhóm tuổi, nghiên cứu cho thấy mức  
độ rối loạn CT, TG, LDL-c, HDL-c ở hai nhóm  
tuổi là tương đương, ngoại trừ tỷ lệ rối loạn CT  
và TG ở mức cao, của nhóm tuổi 60 - 69 cao hơn  
nhóm tuổi ≥ 70 (Bảng 5). Điều này có lẽ liên  
quan đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của nhóm  
bệnh nhân có độ tuổi nhỏ hơn. Sự phân chia  
mức độ rối loạn từng thành phần lipid máu sẽ  
giúp áp dụng vào từng trường hợp cụ thể giúp  
chẩn đoán đúng, điều trị đúng và có lời khuyên  
phù hợp để bệnh nhân hợp tác điều trị.  
Đặc điểm rối loạn lipid máu theo giới  
Nghiên cứu này ở Bảng 4 cho thấy nồng độ  
trung bình CT, LDL-c và HDL-c cũng như tỷ lệ  
rối loạn CT và LDL-c ở nữ cao hơn nam; tỷ lệ  
bệnh nhân có giảm HDL-c ở nam cao hơn nữ có  
ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả này cũng  
gần phù hợp với tác giả Nguyễn Thị Loan  
nghiên cứu trên 235 bệnh nhân độ tuổi từ 40  
tuổi trở lên; chỉ có điều khác biệt là trong nghiên  
cứu của tác giả này nồng độ trung bình HDL-c ở  
hai giới là tương đương. Sự khác biệt này có thể  
giải thích là do độ tuổi, cỡ mẫu và đặc điểm  
chung của đối tượng bệnh nhân trong hai  
nghiên cứu không đồng nhất; nghiên cứu của  
Nguyễn Thị Loan có độ tuổi và cỡ mẫu nhỏ hơn  
KẾT LUẬN  
Qua nghiên cứu 412 bệnh nhân người cao  
tuổi đến khám tại Khoa khám bệnh A - Bệnh  
viện Thống Nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy  
- Rối loạn lipid máu từng thành phần của  
đối tượng nghiên cứu như sau: tăng CT 66,26%;  
tăng TG 58,88%, tăng LDL-c 56,48% và giảm  
HDL-c 33,09%.  
- Tỷ lệ rối loạn chung của 4 thành phần lipid  
máu giữa hai nhóm tuổi 60 – 69 và ≥ 70 là tương  
đương nhau (p > 0,05).  
- Nồng độ trung bình TG ở nhóm tuổi 60 - 69  
23  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
TPHCM, tr.476-496.  
cao hơn nhóm tuổi ≥ 70 và nồng độ trung bình  
HDL-c ở nhóm tuổi 60 - 69 thấp hơn nhóm tuổi  
≥ 70 (p < 0,05).  
- Tỷ lệ bệnh nhân tăng CT và tăng TG mức  
cao ở nhóm tuổi 60 - 69 cao hơn nhóm tuổi ≥ 70  
(p < 0,05).  
- Tỷ lệ bệnh nhân tăng CT mức cao ở nữ cao  
hơn nam và tỷ lệ bệnh nhân HDL thấp ở nam  
cao hơn nữ (p < 0,05).  
3.  
4.  
5.  
6.  
Katzel LI et al (2009), “Dyslipoproteinemia”, Hazzard’s Geriatric  
Medicine and Gerontology, The Mc Graw Hill Compaines Inc, 110:  
pp.1235-42.  
Libby P (2010), “The Pathogenesis, Prevention and Treatment of  
Atherosclerosis”, In: Joseph Loscalzo, Harrison’s Cardiovascular  
Medicine, Mc GrawHill Medical ;pp. 322-334.  
Nguyễn Thị Loan (2008), “Nghiên cứu thực trạng kiểm soát  
lipid máu ở bệnh nhân điều trị tại khoa khám bệnh Bệnh viện  
Bạch Mai”, Luận văn Thạc sỹ Y học, Học viện Quân y.  
Nguyễn Trung Chính (1990), “Rối loạn Lipoprotein ở những  
người tăng huyết áp trên 60 tuổi”, Tạp chí y học thực hành, số 6,  
tr. 26-28.  
7.  
8.  
Phạm Mạnh Hùng (2005), “Béo phì và bệnh tim mạch”, Tạp chí  
Tim mạch học Việt Nam, số 41, tr.96-99.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Aronow WS (2010), “Diagnosis and management of coronary  
artery disease”, In: Howard M. Fillit, Kenneth Rockwood,  
Kenneth Woodhouse. Brocklehurst’s, Textbook of Geriatric  
Pongchaivakul C et al (2005), “Prevalence of dyslipidemia in  
rural Thai adults: an epidemiologic study in Khon Kaen  
province”, J Med Assoc Thai, 88(8), pp.1092-7.  
Trương Thanh Hương (2003), “Nghiên cứu sự biến đổi một số  
thành phần lipid máu ở bệnh nhân tăng huyết áp và bước đầu  
đánh giá hiệu quả điều trị của Fluvastatin”, Luận án Tiến sĩ Y học,  
Trường Đại học Y khoa Hà Nội.  
th  
Medicine and Gerontology, Saunders Elsevier, 7 edition, pp: 286-  
294.  
9.  
2.  
Đặng Vạn Phước và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của Hội  
Tim mạch Việt Nam về chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid  
máu”, Hội Tim mạch học Việt Nam, Khuyến cáo 2008 về các bệnh  
lý tim mạch và chuyển hóa, Nhà xuất bản Y học – Chi nhánh  
24  
Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất TP. HCM 2012  
pdf 7 trang yennguyen 17360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_roi_loan_lipid_mau_o_benh_nhan_cao_tuoi.pdf