Một số yếu tố liên quan với tình trạng sử dụng nhiều thuốc trên người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện lão khoa Trung ương

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG  
NHIỀU THUỐC TRÊN NGƯỜI CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ  
TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG  
Nguyễn Trung Anh1,2,, Nguyễn Xuân Thanh1,2, Vũ Thị Thanh Huyền1,2, Phạm Thắng²  
1Trường Đại học Y Hà Nội  
2Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương  
Sử dụng nhiều loại thuốc là tình trạng khá phổ biến trên người cao tuổi. Sử dụng nhiều thuốc có thể là cần  
thiết, nhưng cũng có thể liên quan đến gia tăng các biến cố bất lợi. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định một số yếu  
tố liên quan với tình trạng sử dụng nhiều thuốc trên người cao tuổi điều trị ngoại trú tại bệnh viện Lão khoa Trung  
ương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 475 bệnh nhân cao tuổi đến khám tại Khoa khám bệnh, bệnh viện Lão  
khoa Trung ương. Sử dụng nhiều thuốc được định nghĩa là sử dụng từ 5 loại thuốc trở lên trong 1 đơn thuốc. Tuổi  
trung bình của đối tượng nghiên cứu là 71,15 ± 7,09. Nữ chiếm 56,4%. Tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc là 59,2%. Các  
yếu tố nguy cơ gia tăng tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc bao gồm giới (nữ), trình độ chuyên môn của bác sĩ, tình trạng đa  
bệnh lý. Không có mối liên quan giữa các yếu tố tuổi, chỉ số khối cơ thể, chất lượng cuộc sống, hội chứng dễ bị tổn  
thương với tình trạng sử dụng nhiều thuốc. Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc là khá cao. Xây  
dựng các chương trình giáo dục liên quan đến việc kê đơn trên người cao tuổi cho các nhân viên y tế là cần thiết.  
Từ khóa: Sử dụng nhiều thuốc, bệnh nhân cao tuổi, yếu tố liên quan  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sử dụng nhiều loại thuốc (Polypharmacy-  
SDNT) được định nghĩa là việc sử dụng đồng  
thời nhiều loại thuốc khác nhau hoặc sử dụng  
thuốc vượt quá chỉ định, là một mối quan tâm  
ngày càng gia tăng ở người cao tuổi.¹ Định  
nghĩa này thường không bao gồm các loại  
thuốc sử dụng tại chỗ, thuốc thảo dược, các  
loại vitamin và khoáng chất.  
lệ dùng hơn năm loại thuốc kê đơn đã tăng lên  
35,8% trong hai năm 2010 và 2011. Sử dụng  
nhiều thuốc thường đi kèm với việc không  
tuân thủ điều trị. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ  
không tuân thủ điều trị tăng cùng với số lượng  
các loại thuốc được kê đơn.2,3 Bên cạnh đó là  
tăng nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ không  
mong muốn, cũng như các hội chứng lão khoa  
như suy giảm nhận thức, ngã, hội chứng dễ bị  
tổn thương2  
Theo khảo sát của Tiến sĩ Dima Qato và  
cộng sự tại Học viện Dược Chicago trong năm  
2005 và 2006, có 50% người Hoa Kỳ từ 57  
đến 85 tuổi dùng nhiều hơn năm loại thuốc. Tỷ  
Các nghiên cứu cho thấy các yếu tố gia tăng  
tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc trên người cao tuổi  
bao gồm có bệnh lý mạn tính như tăng huyết  
áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, thời gian  
nằm viện kéo dài, hay dùng vitamin tại nhà, hay  
dùng thảo dược tại nhà, nhập viện ít nhất một  
lần trong năm qua, giới tính nữ.⁴ Kết quả từ các  
nghiên cứu giúp thay đổi hành vi sử dụng nhiều  
thuốc, cũng như cải thiện chất lượng điều trị và  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Trung Anh,  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 29/06/2020  
Ngày được chấp nhận: 28/07/2020  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
237  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
hạn chế các tác dụng không mong muốn trên  
người cao tuổi  
Với p = 59,24 theo nghiên cứu về tỷ lệ sử  
dụng nhiều thuốc tại thời điểm xuất viện tại  
Bệnh viện Lão khoa Trung Ương⁵ cho cỡ mẫu  
ước tính là 371 bệnh nhân. Trên thực tế chúng  
tôi lấy 475 bệnh nhân.  
Tại Việt nam đã có nghiên cứu về một số yếu  
tố nguy cơ gia tăng tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc  
trên bệnh nhân xuất viện. Tuy nhiên nghiên  
cứu về các yếu tố liên quan đến sử dụng nhiều  
thuốc trên đối tượng bệnh nhân ngoại trú còn  
hạn chế. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu  
với mục tiêu xác định một số yếu tố liên quan  
với tình trạng sử dụng nhiều thuốc trên người  
cao tuổi điều trị tại bệnh viện Lão khoa Trung  
Ương.  
Các chỉ số nghiên cứu:  
Biến số về thông tin chung của đối tượng  
nghiên cứu: tuổi, giới, học vấn, tình trạng hôn  
nhân, tình trạng sống cùng, chỉ số BMI, bảo  
hiểm y tế, điều kiện kinh tế, khả năng tự chi trả  
tiền thuốc, nơi sống.  
Tiêu chuẩn xác định sử dụng nhiều thuốc:  
sử dụng đồng thời từ 5 thuốc trong một ngày1  
gồm cả thuốc theo đơn và thuốc không cần kê  
đơn trong 1 tháng trước khi đến khám. Khai  
thác toàn bộ thuốc điều trị ngoại trú: số lượng  
thuốc sử dụng đồng thời trong ngày (có đơn  
của bác sĩ; tự điều trị), các loại thuốc (liệt kê  
tên thuốc gồm cả thuốc theo đơn và thuốc bổ,  
vitamin, thực phẩm chức năng, thảo dược),  
thời gian sử dụng, liều lượng, dị ứng thuốc  
(phản ứng quá mức của cơ thể trước một loại  
thuốc, triệu chứng: mày đay, sẩn ngứa, phát  
ban, sốt...nặng nhất lá sốc phản vệ), tác dụng  
không mong muốn (tác dụng không định trước  
của một chế phẩm thuốc xảy ra ở liều thường  
dùng ở người và liên quan đến đặc tính dược lý  
của thuốc (Ví dụ: tác dụng không mong muốn  
khi dùng Coversyl là có thể gây ho khan), quên  
uống thuốc, tự ý bỏ thuốc, khả năng tự lập uống  
thuốc (bệnh nhân tự soạn thuốc theo đơn, uống  
thuốc hoàn toàn, hoặc cần hỗ trợ một phần hay  
phụ thuốc hoàn toàn vào người chăm sóc). Một  
số yếu tố liên quan đến sử dụng nhiều thuốc: số  
lần nhập viện trong 1 năm vừa qua, các bệnh  
kèm theo, đánh giá tình trạng đa bệnh lý bằng  
chỉ số đồng mắc của Charlson,⁶ hội chứng dễ bị  
tổn thương dựa theo năm tiêu chuẩn của Fried  
20017 (có từ 3 điểm trở lên là có hội chứng dễ  
bị tổn thương), chất lượng cuộc sống liên quan  
đến sức khỏe dựa trên bộ năm câu hỏi về chất  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Người cao tuổi từ tuổi 60 trở lên đến khám  
tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Lão khoa  
Trung Ương.  
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân từ 60 tuổi  
trở lên; có tình trạng tinh thần tỉnh táo và đủ  
năng lực để trả lời các câu hỏi trong phiếu điều  
tra; tự nguyện tham gia nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ: không có khả năng giao  
tiếp, người có vấn đề về tâm thần; không đồng  
ý tham gia nghiên cứu.  
2. Phương pháp  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt  
ngang.  
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2016  
đến tháng 9/2017  
Địa điểm nghiên cứu: Tại khoa Khám Bệnh  
- Bệnh viện Lão khoa Trung Ương.  
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Chọn  
mẫu theo công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ.  
Áp dụng công thức:  
-
p(1 p)  
2
a
-
n= z1  
2
2
d
Z1-α/2: Hệ số giới hạn tin cậy, với mức ý nghĩa  
thống kê α  
(α = 0,05 tương ứng với giá trị của Z1-α/2  
=
1,96 với độ tin cậy 95%).  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
238  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
số 1353 ngày 12/11/2017.  
lượng cuộc sống theo thang điểm EQ- 5D- 5L.⁸  
3. Xử lý số liệu  
III. KẾT QUẢ  
Các số liệu được xử lý và phân tích bằng  
phần mềm thống kê y học SPSS 19.0. Sử dụng  
các thuật toán: tính tỷ lệ phần trăm, tính giá trị  
trung bình. Sử dụng test χ² để phân tích sự  
khác biệt giữa các biến. Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê khi p < 0,05.  
1. Đặc điểm chung  
Tổng số có 475 bệnh nhân tham gia nghiên  
cứu, tuổi trung bình nhóm đối tượng nghiên  
cứu là 71,15 ± 7,09 tuổi, thấp nhất là 60 tuổi,  
cao nhất là 94 tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm  
56,4%. Tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc là 60%.  
4. Đạo đức nghiên cứu  
2. Một số yếu tố liên quan đền tình trạng sử  
dụng nhiều thuốc  
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng  
đạo đức tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương  
Bảng 1. Liên quan giữa sử dụng nhiều thuốc với giới và nhóm tuổi (n = 475)  
Có sử dụng nhiều thuốc Không sử dụng nhiều thuốc  
Biến số  
p
Số bệnh nhân Tỷ lệ %  
Số bệnh nhân  
Tỷ lệ %  
45,4  
35,8  
41  
Nam  
Nữ  
113  
172  
128  
113  
44  
54,6  
64,2  
59  
94  
96  
89  
78  
23  
1
0,03  
Giới  
60 - 69  
Nhóm tuổi 70 - 79  
≥ 80  
59,2  
65,7  
2,8  
40,8  
34,3  
0,5  
0,59  
0,17  
Nhẹ cân  
8
Chỉ số khối  
Bình thường  
Thừa cân  
267  
10  
93,7  
3,5  
184  
5
96,80  
2,60  
cơ thể  
Có sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc giữa bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ: 54,6% bệnh  
nhân nam có sử dụng nhiều thuốc, thấp hơn so với bệnh nhân nữ (64,2%). Sự khác biệt này có ý  
nghĩa thống kê (với p < 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi càng cao tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc  
càng tăng. Tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc trong nhóm từ 80 tuổi trở lên là cao nhất (65,7%). Sự khác biệt  
này không có ý nghĩa thống kê (với p > 0,05).  
Bảng 2. Liên quan giữa sử dụng nhiều thuốc và trình độ chuyên môn của bác sĩ (n = 475)  
Có sử dụng nhiều thuốc Không sử dụng nhiều thuốc  
Trình độ bác sĩ  
Bác sĩ đa khoa  
p
Số lượng  
24  
Tỷ lệ %  
8,40  
Số lượng  
33  
Tỷ lệ %  
17,40  
BSCKI/Thạc sĩ  
BSCKII/Tiến sĩ/ PGS/GS  
Tổng  
204  
71,60  
20,00  
100,00  
117  
61,60  
0,009  
57  
40  
21,00  
285  
190  
100,00  
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ chuyên môn của bác sĩ với việc sử dụng nhiều  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
239  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
thuốc của bệnh nhân. Trong nhóm có sử dụng nhiều thuốc, số có đơn được kê do các bác sĩ chuyên  
khoa cấp I/Thạc sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất (71,6%), đơn của nhóm các Tiến sĩ/bác sĩ chuyên khoa cấp  
II/Phó Giáo sư/Giáo sư chiếm 20%, số đơn được kê bởi các bác sĩ đa khoa có tỷ lệ thấp hơn (8,4%).  
Biểu đồ 1. Liên quan giữa chỉ số đồng bệnh lý Charlson và sử dụng nhiều thuốc  
Có mối liên quan tuyến tính giữa điểm chỉ số Charlson với xác suất tiên đoán sử dụng nhiều  
thuốc (p < 0,05). Cụ thể: cứ điểm chỉ số đồng bệnh lý Charlson tăng thêm 1 đơn vị thì nguy cơ sử  
dụng nhiều thuốc tăng lên 2,89 lần.  
Bảng 3. Liên quan giữa sử dụng nhiều thuốc và hội chứng dễ bị tổn thương, suy giảm  
chất lượng cuộc sống (n = 475)  
Có sử dụng  
nhiều thuốc  
(n = 285)  
Không sử dụng  
nhiều thuốc  
(n = 190)  
Yếu tố  
p
SL  
Tỷ lệ %  
SL  
9
Tỷ lệ %  
4,70  
Không có HCDBTT  
12  
259  
14  
4,20  
90,90  
4,90  
Hội chứng dễ  
bị tổn thương  
Tiền HCDBTT  
Có HCDBTT  
Có suy giảm  
176  
5
92,60  
2,60  
0,451  
0,294  
Suy giảm chất  
lượng cuộc  
sống  
83  
29,10  
70,90  
47  
143  
24,70  
75,30  
Không suy giảm  
202  
Trong nhóm bệnh nhân sử dụng nhiều thuốc:  
phần lớn gặp bệnh nhân có tiền hội chứng dễ  
bị tổn thương (90,9%); tỷ lệ bệnh nhân có hội  
chứng dễ bị tổn thương là 4,9%, và bệnh nhân  
không có hội chứng dễ bị tổn thương chiếm  
4,2%. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống  
kê (p > 0,05).Trong nhóm sử dụng nhiều thuốc  
có 29,1% bệnh nhân có suy giảm chất lượng  
cuộc sống, cao hơn tỷ lệ bệnh nhân có suy  
giảm chất lượng cuộc sống của nhóm không  
sử dụng nhiều thuốc, nhưng sự khác biệt này  
không có ý nghĩa thống kê với (p > 0,05).  
IV. BÀN LUẬN  
Xem xét tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc giữa hai  
giới, kết quả trong nghiên cứu cho thấy: Có  
sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc giữa  
bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ (p < 0,05).  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
240  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Trong nhóm tuổi (60 - 69), tỷ lệ sử dụng nhiều  
thuốc ở nữ là 66,7%, cao hơn nam (47,7%),  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).  
Một số nghiên cứu đã xác định giới là yếu tố  
nguy cơ của sử dụng nhiều thuốc.² Kết quả này  
cũng tương đồng với một nghiên cứu tại Thụy  
Điển: Nghiên cứu trên toàn bộ dân số toàn  
quốc, nguy cơ tương đối sử dụng nhiều thuốc  
của nữ so với nam là 3,1 ở nhóm 20 - 29 tuổi,  
tiếp đó giảm xuống còn 1,1 ở nhóm từ 70 tuổi  
trở lên.⁹ Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ sử  
dụng nhiều thuốc cao hơn ở nữ giới.²  
năm loại thuốc trở lên là thấp nhất (p < 0,05).  
Theo nghiên cứu tại Iran, bác sĩ có thể là một  
nhân tố có ảnh hưởng trong việc sử dụng nhiều  
thuốc thông qua chẩn đoán, kê đơn, giáo dục  
bệnh nhân và theo dõi sử dụng thuốc.11 Tình  
trạng sử dụng nhiều thuốc của bệnh nhân còn  
bị ảnh hưởng bởi số bệnh lý đồng mắc, tuổi  
của bệnh nhân. Do vậy cần tiến hành thêm các  
nghiên cứu theo dõi dọc và trên đối tượng đồng  
nhất để xác định mối liên quan giữa sử dụng  
nhiều thuốc và trình độ của bác sĩ.  
Có mối liên quan tuyến tính giữa điểm chí  
số Charlson với xác suất tiên đoán sử dụng  
nhiều thuốc. Cụ thể: Cứ điểm chỉ số đồng bệnh  
lý Charlson tăng thêm 1 đơn vị thì nguy cơ sử  
dụng nhiều thuốc tăng lên 2,89 lần (p < 0,05).  
Chỉ số đồng bệnh lý của Charlson được xác  
định bằng cách phân chia các tình trạng bệnh lý  
thành từng nhóm, theo mức độ trầm trọng của  
bệnh; đã được áp dụng rộng rãi để tiên lượng  
tử vong, gánh nặng bệnh tật trong các trường  
hợp đa bệnh lý. Kết quả trong nghiên cứu của  
chúng tôi có sự tương đồng với kết quả nghiên  
cứu của các tác giả khác: Nghiên cứu Justin  
PT và cộng sự cho thấy tăng chỉ số đồng bệnh  
lý Charlson làm tăng nguy cơ sử dụng nhiều  
thuốc (OR 1,58, 95%CI 1,29 - 1,94).  
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi càng cao  
tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc càng cao. Nhiều  
nghiên cứu trên thế giới cũng đã cho thấy số  
lượng trung bình các loại thuốc tăng lên cùng  
với tuổi, vì tuổi là một trong những yếu tố nguy  
cơ phổ biến nhất cho tình trạng sử dụng nhiều  
thuốc. Tuổi càng cao, tỷ lệ mắc các bệnh càng  
tăng, dẫn đến một tỷ lệ lớn các loại thuốc được  
chỉ định điều trị. Một nghiên cứu ở Thụy Điển  
cũng cho thấy tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc tăng từ  
18,4% trong độ tuổi 40 đến 49; 30,2% ở nhóm  
50 - 59 tuổi; 42,3% ở nhóm 60 - 69 tuổi; 62,4%  
ở nhóm 70-79 tuổi; 75,1% ở nhóm 80 - 89 tuổi,  
và cao nhất 77,7% ở nhóm trên 90 tuổi.⁹  
Trong số những bệnh nhân sử dụng nhiều  
thuốc, có 93,7% thuộc nhóm có chỉ số khối cơ  
thể bình thường, 3,5% thuộc nhóm thừa cân,  
2,8% thuộc nhóm nhẹ cân. Tuy nhiên sự khác  
biệt về tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc giữa các nhóm  
bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể khác nhau  
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi khác với kết quả một  
số nghiên cứu khác chỉ ra rằng sử dụng nhiều  
thuốc tăng cùng với chỉ số khối cơ thể tuổi.10  
Có mối liên quan giữa trình độ của bác sĩ kê  
đơn và tình trạng sử dụng nhiều thuốc. Cụ thể:  
Tỷ lệ đơn kê từ năm loại thuốc trở lên tập trung  
cao nhất ở nhóm bác sĩ có trình độ chuyên khoa  
I hoặc thạc sĩ. Nhóm bác sĩ mới tỷ lệ kê đơn từ  
Hội chứng dễ bị tổn thương là một hội  
chứng lâm sàng thường gặp ở người cao tuổi,  
dự báo nguy cơ cao những bất lợi về sức khỏe  
như tình trạng té ngã, khuyết tật, tăng số lần  
nhập viện và thậm chí là tử vong12.Trong nhóm  
bệnh nhân sử dụng nhiều thuốc, tỷ lệ có tiền hội  
chứng dễ bị tổn thương là 90,9%; có hội chứng  
dễ bị tổn thương là 4,9%. Sự khác biệt về tỷ  
lệ mức độ hội chứng dễ bị tổn thương trong  
nhóm sử dụng nhiều thuốc và nhóm không sử  
dụng nhiều thuốc không có ý nghĩa thống kê (p  
> 0,05). Trên thế giới, có nhiều tác giả cho kết  
luận hội chứng dễ bị tổn thương làm tăng nguy  
cơ sử dụng nhiều thuốc ở người cao tuổi.⁵ Có  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
241  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
thể do hạn chế của nghiên cứu của chúng tôi là  
mô tả cắt ngang, cỡ mẫu chưa đủ lớn, đặc điểm  
thể chất người Việt Nam và thói quen sử dụng  
thuốc, kê đơn trong nghiên cứu của chúng tôi  
có sự khác biệt, nên kết quả cũng khác với  
nhiều tác giả khác.  
Older Adults in the United States, 2005 vs 2011.  
JAMA Intern Med. 2016; 176(4): 473 - 482  
5. Nguyen TX, Nguyen TN, Nguyen AT, et al.  
Polypharmacy at discharge in older hospitalised  
patients in Vietnam and its association with  
frailty. Australas J Ageing. 2019  
6. Charlson ME, Peter P, Ales KL et al. A new  
method of classifying prognostic comorbidity  
in longitudinal studies: Development and  
validation. Journal of Chronic Diseases. 1987,  
40(5): 373 – 383.  
V. KẾT LUẬN  
Các yếu tố nguy cơ gia tăng tỷ lệ sử dụng  
nhiều thuốc bao gồm giới (nữ), trình độ chuyên  
môn của bác sĩ, tình trạng đa bệnh lý. Các thầy  
thuốc nên cân nhắc giảm thiểu tối đa các thuốc  
trong đơn mà vẫn đạt hiệu quả điều trị. Bên  
cạnh đó cần có biện pháp giáo dục bệnh nhân  
về tác dụng bất lợi của sử dụng nhiều thuốc  
trên người cao tuổi.  
7. Fried LP, Tangen CM, Walston J et al.  
Frailty in older adults: evidence for a phenotype.  
The Journals of Gerontology, Series A,  
Biological Sciences and Medical Sciences.  
2001, 56: 146 – 156.  
8. EuroQOL Group. EQ-5D-5L Use Guide:  
Basic information on how to use the EQ-5D5L  
instrument. 2013  
Lời cảm ơn  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ,  
giúp đỡ của lãnh đạo UBND xã Thọ An, Huyện  
Đan Phượng Thành phố Hà Nội và những  
người cao tuổi đã tham gia nghiên cứu này.  
9. Hovstadius B, Astrand B, Petersson G.  
Dispensed drugs and multiple medications in  
the Swedish population: an individual-based  
register study. BMC Clin Pharmacol. 2009, 9:11.  
10.Assari S, Wisseh C, Bazargan M. Obesity  
and Polypharmacy among African American  
Older Adults: Gender as the Moderator and  
Multimorbidity as the Mediator. Int J Environ  
Res Public Health. 2019; 16(12): 2181  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Masnoon N, Shakib S, Kalisch-Ellett L.  
What is polypharmacy? A systematic review of  
definitions. BMC Geriatr. 2017; 17(1): 230.  
2. Shah BM, Hajjar ER. Polypharmacy,  
adverse drug reactions, and geriatric  
syndromes. Clin Geriatr Med. 2012; 28(2): 173  
- 186.  
11. Mortazavi SS, Shati M, Malakouti  
SK. Physicians' role in the development of  
inappropriate polypharmacy among older  
adults in Iran: a qualitative study. BMJ Open.  
2019; 9(5)  
3. Bjerrum L, Rosholm JU, Hallas J. Methods  
for estimating the occurrence of polypharmacy  
by means of a prescription database. Eur J Clin  
Pharmacol. 1997; 53(1): 7 - 11  
12. Nguyen A.T, Nguyen L.H, Nguyen T.X.  
Frailty Prevalence and Association with Health-  
Related Quality of Life Impairment among Rural  
Community-Dwelling Older Adults in Vietnam.  
Int. J. Environ. Res. Public Health. 2019; 16  
4. Qato DM, Wilder J, Schumm LP.  
Changes in Prescription and Over-the-Counter  
Medication and Dietary Supplement UseAmong  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
242  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Summary  
FACTORS RELATED TO THE POLYPHARMACY CONDITION  
IN ELDERLY PATIENTS AT NATIONAL GERIATRIC HOSPITAL  
Polypharmacy is common in elderly patients. Polypharmacy is sometimes necessary, but may  
be associated with an increased risk of adverse outcomes. The objective was to identify factors  
related to the polypharmacy situation in elderly patients at the outpatient Clinics of the National  
Geriatric Hospital in 2017. A cross-sectional study included 475 elderly patients of the outpatient  
department at National Geriatric Hospital. Polypharmacy is defined as the use at least five types  
of medication a day. The average age of subjects was 71.25 ± 7.09. Female accounted for  
56.4%. The prevalence of polypharmacy was 59.2%. Risk factors for increased polypharmacy  
include gender (female), physician qualifications, and comorbidity. There is no correlation  
between age, body mass index, quality of life, frailty syndrome and polypharmacy. According  
to the results, the prevalence of polypharmacy was quite high. It is necessary to establish an  
educational program for healthcare practitioners concerning over-prescription for older individuals.  
Key words: Polypharmacy, elderly patient, related factors.  
TCNCYH 130 (6) - 2020  
243  
pdf 7 trang yennguyen 19080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố liên quan với tình trạng sử dụng nhiều thuốc trên người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện lão khoa Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_lien_quan_voi_tinh_trang_su_dung_nhieu_thuoc_t.pdf