Táo bón và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tại khoa Nội lão - Bệnh viện C Đà Nẵng

Táo bón và một số yếu tBốệlniêhnvqiệunanTrởunnggưườơinbgệnHhu.ế..  
Nghiên cứu  
TÁO BÓN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Ở NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA NỘI LÃO - BỆNH VIỆN C ĐÀ NẴNG  
Nguyễn Thị Hoàng Yến1,2, Trần Thị Hoàng Oanh1*  
DOI: 10.38103/jcmhch.2021.68.9  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Táo bón là một vấn đề thường gặp ở đối tượng người cao tuổi và ảnh hưởng rất lớn đến  
sức khỏe về thể chất và tinh thần của người cao tuổi, làm giảm chất lượng cuộc sống và tiêu tốn khá nhiều  
chi phí để chăm sóc và điều trị. Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu: khảo sát tỷ lệ táo bón và một số  
yếu tố liên quan ở người bệnh tại khoa Nội Lão - Bệnh viện C Đà Nẵng năm 2019.  
Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 90 người bệnh cao tuổi tại  
bệnh viện C Đà Nẵng từ tháng 12/2018 đến tháng 5/2019 bằng bộ câu hỏi tự phát triển và công cụ chẩn  
đoán táo bón theo tiêu chuẩn ROME IV. Thống kê mô tả và phép kiểm Chi square được sử dụng để phân  
tích số liệu.  
Kết quả: Tỷ lệ người bệnh cao tuổi đang điều trị tại khoa Nội lão - Bệnh viện C bị táo bón là 38,9%. Tỷ  
lệ mắc táo bón ở người bệnh có tiền sử táo bón là 51,8%, thỉnh thoảng ăn ít chất xơ là 52,4%, uống < 1 lít  
nước là 54,5%, hiếm khi hoạt động thể lực là 64,7%, người bệnh ăn qua sonde dạ dày là 100%. Các sự  
khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p<0,05).  
Kết luận: Tỷ lệ táo bón ở người bệnh cao tuổi là 38,9%. Các yếu tố liên quan đến táo bón bao gồm: Có  
tiền sử táo bón, chế độ ăn ít chất xơ, uống ít nước, hạn chế hoạt động thể lực, dinh dưỡng qua sonde dạ dày.  
Từ khoá: Người cao tuổi, táo bón, hạn chế vận động, ít nước, ít chất xơ  
ABSTRACT  
FACTORS RELATED TO CONSTIPATION AMONG PATIENTS IN GERIATRIC  
DEPARTMENT - DANANG C HOSPITAL  
Nguyen Thi Hoang Yen1,2, Tran Thi Hoang Oanh1*  
Background: Constipation is one of the most common health problem in older adults with a lot of  
negative effect on physical and psychosocial health status. It decreases the quality of life of older adults and  
increase health care expenditure. This study was conducted with two objectives: Determine the percentage  
of geriatric patients who had constipation and investigate the relationship between constipation with some  
factors among geriatric patients in Danang C hospital in 2019.  
Methods: This is a cross-sectional descriptive study. Nighty geriatric patients were recruited from  
Geriatric Department - Danang C hospital. Data was collected using two instruments: a demographic  
questionnaire and ROME IV criteria for constipation diagnosis. Data were analysed using descriptive  
statistics and Chi-square.  
1Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Kỹ  
thuật Y - Dược Đà Nẵng  
- Ngày nhận bài (Received): 05/3/2021; Ngày phản biện (Revised): 08/4/2021;  
- Ngày đăng bài (Accepted): 27/4/2021  
- Người phản hồi (Corresponding author): Trần Thị Hoàng Oanh  
- Email: [email protected]; SĐT: 0914660704  
2Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Đà Nẵng  
62  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
Bệnh viện Trung ương Huế  
Results: There was 38,9% of geriatric patients got constipation. The incidence of constipation in patients  
with occasionally eating less fibber was 52,4%, drinking <1 litter of water was 54,5%, rarely physical activity  
was 64,7%, patients with nasogastric intubation was 100%. These differences was significant (p<0,05).  
Conclusions: Constipation rate in the geriatric patients was 38,9%. There was some constipation’s  
related factors: a low-fibber diet, drinking less water, limited physical activity, having nasogastric intubation.  
Keywords: geriatric patient, constipation, limited physical activity, less water intake, low-fibber diet  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
táo bón ở người bệnh tại khoa Nội Lão - Bệnh viện  
C Đà Nẵng năm 2019.  
Táo bón là một trong những vấn đề sức khỏe phổ  
biến nhất. Táo bón có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ  
trẻ sơ sinh đến người cao tuổi. Tỷ lệ mắc táo bón  
tăng theo tuổi, với 76,47% của nhóm tuổi từ 61 tuổi  
đến 80 tuổi [2]. Táo bón là hiện tượng rối loạn cảm  
giác đại tiện, phân trở nên rắn, mỗi lần đại tiện cần  
có sự trợ giúp, số lần đi ngoài ít dưới 3 lần/tuần [1].  
Là một trong những triệu chứng rất phổ biến của  
bệnh lý hệ thống tiêu hóa và cũng là triệu chứng  
xuất hiện trong nhiều bệnh lý ở cơ quan khác.  
Táo bón không chỉ gây ra những các vấn đề sức  
khỏe liên quan khác mà còn có nhiều ảnh hưởng  
tiêu cực đến tinh thần ở người cao tuổi. Nếu xảy  
ra thường xuyên sẽ khiến người cao tuổi luôn  
cảm thấy khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân ảnh  
hưởng lớn tới sức khỏe. Táo bón kéo dài có thể gây  
ra các chứng bệnh khác như trĩ, sa trực tràng, ung  
thư trực tràng, chảy máu, rách hậu môn, tăng nguy  
cơ nhồi máu não hoặc xuất huyết não ở người cao  
tuổi có bệnh lý tim mạch….[7]. Từ đó, táo bón có  
ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống,  
chức năng xã hội và hoạt động sinh hoạt hàng ngày  
của người cao tuổi [13].  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng  
Người bệnh cao tuổi đang điều trị tại khoa Nội  
Lão - Bệnh viện C Đà Nẵng.  
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn  
- Người cao tuổi điều trị tại khoa Nội Lão – Bệnh  
viện C Đà Nẵng trong thời gian nghiên cứu.  
- Người bệnh tỉnh táo, giao tiếp được bằng  
tiếng Việt.  
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ  
- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu.  
- Người bệnh đang mắc các bệnh cấp tính, đang  
điều trị tích cực.  
- Người bệnh sa sút trí tuệ.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt  
ngang. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12 năm  
2018 đến tháng 5 năm 2019.  
2.2.2. Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu  
Lấy mẫu toàn bộ với phương pháp lấy mẫu thuận  
tiện. Cỡ mẫu thu được trong thời gian nghiên cứu  
là n=90.  
Hiện đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới  
nghiên cứu về nội dung này [6][11][14]. Tuy nhiên,  
ở Việt Nam số đề tài nghiên cứu về táo bón ở người  
cao tuổi đang còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực miền  
Trung hiện chưa tìm thấy đề tài liên quan. Nhằm  
bước đầu tạo cơ sở cho việc xây dựng bằng chứng  
để thực hành, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài  
“Nghiên cứu tỷ lệ táo bón và một số yếu tố liên quan  
ở người bệnh tại khoa Nội Lão - Bệnh viện C Đà  
Nẵng năm 2019” với hai mục tiêu sau:  
2.2.3. Công cụ thu thập số liệu  
Công cụ thu thập số liệu gồm 2 phần:  
Phần 1: Phiếu thu thập các thông tin hành chính và  
một số yếu tố liên quan do nhóm nghiên cứu phát triển.  
Phần 2: Phiếu thu thập được xây dựng dựa vào  
tiêu chuẩn đánh giá táo bón chức năng ROME IV.  
Theo tiêu chuẩn ROME IV, táo bón chức năng  
được xác định khi có ít nhất 2 trong 6 tiêu chuẩn  
sau, trong vòng 3 tháng trước khi có triệu chứng  
khởi phát trước đó 6 tháng [13]:  
- Xác định tỷ lệ táo bón ở người bệnh tại khoa  
Nội Lão - Bệnh viện C Đà Nẵng năm 2019.  
- Tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố với  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
63  
Táo bón và một số yếu tBốệlniêhnvqiuệnanTrởunnggưườơinbgệnHhu..ế.  
2.4. Vấn đề y đức  
- Đại tiện dưới 3 lần/tuần.  
- Rặn nhiều, lâu khi đại tiện.  
Nghiên cứu được thực hiện sau khi có sự chấp  
- Phân khô cứng, hay vón cục (Kiểu 1 hoặc 2  
theo thang hình dạng phân Bristol).  
- Đại tiện xong vẫn không thấy hết phân.  
- Cảm thấy như bị nghẽn tắc vùng hậu môn  
trực tràng.  
thuận của Trường Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà  
Nẵng và đã được thẩm định thông qua theo Quyết  
định số 346/QĐ-ĐHKTYDĐN ngày 30 tháng 5  
năm 2019.  
Tất cả các đối tượng tham gia đều được giải thích  
rõ ràng, cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên  
cứu. Đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu và  
được quyền dừng ở bất kỳ thời điểm nào trong quá  
trình phỏng vấn.  
- Các thao tác thủ công để tạo điều kiện thuận lợi  
cho đại tiện.  
2.3. Xử lý số liệu  
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học  
trên phần mền máy tính theo chương trình SPSS  
22.0, Exel 2016.  
Các thông tin thu được chỉ phục vụ cho mục đích  
nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ mục đích  
nào. Các thông tin thu được trong quá trình nghiên  
cứu được cam kết giữ bí mật tuyệt đối.  
Các phép thống kê mô tả (N, %) được sử dụng để  
mô tả các biến. Phép kiểm chi bình phương được sử  
dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm.  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng  
Đặc điểm  
Số lượng  
%
< 70 tuổi  
70 – 80 tuổi  
80 – 90 tuổi  
8
8,9  
30  
42  
33,3  
46,7  
Độ tuổi  
>90 tuổi  
10  
11,1  
Trung bình = 80,78  
Nam  
Nữ  
36  
54  
80  
6
40,0  
60,0  
88,9  
6,7  
Giới tính  
Hưu trí  
Nội Trợ  
Buôn bán  
Nông dân  
Có  
Nghề nghiệp  
3
3,3  
1
1,1  
55  
35  
25  
65  
30  
38  
18  
4
61,1  
38,9  
27,8  
72,2  
33,3  
42,2  
20  
Tiền sử táo bón  
Không  
Có  
Tiền sử phẫu thuật bụng, phụ khoa  
Không  
1 bệnh  
2 bệnh  
3 bệnh  
4 bệnh  
Số lượng bệnh kèm  
4,4  
64  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
Bệnh viện Trung ương Huế  
Độ tuổi của người tham gia nghiên cứu chủ yếu thuộc nhóm từ 80 – 90 tuổi (46,7%) và 11,1% người  
bệnh trên 90 tuổi. Nhóm nghiên cứu có 60% nữ, 40% nam. Phần lớn người tham gia nghiên cứu là cán  
bộ hưu trí (88,9%). Với 61,1% đối tượng có tiền sử táo bón và đa số có 2 bệnh lý kèm theo chiếm 42,2%.  
3.2. Tỷ lệ táo bón  
Biểu đồ 1: Tỷ lệ (%) táo bón  
Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ mắc chứng táo bón của nhóm nghiên cứu là 38,9%. Còn lại chiếm 61,1% nhóm  
nghiên cứu không mắc táo bón.  
3.3. Mối liên quan giữa táo bón và một số yếu tố  
Bảng 2: Mối liên quan giữa chế độ ăn, lượng nước uống hằng ngày,  
hoạt động thể lực, hình thức nuôi dưỡng với táo bón  
Táo bón  
Không táo bón  
Tổng  
Đặc điểm  
N
p
%
N
%
N
%
Hiếm khi  
3
22  
10  
0
50  
52,4  
23,8  
0
3
50  
47,6  
76,2  
100  
88,2  
58  
6
100  
Tần suất ăn  
Thỉnh thoảng  
Thường xuyên  
>2 lít  
20  
32  
1
42  
42  
1
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
<0,05  
rau và trái cây  
Lượng nước  
uống hằng  
ngày  
1,5-2 lít  
2
11,8  
42  
15  
29  
10  
6
17  
50  
22  
17  
48  
25  
86  
4
<0,05  
1-1,5 lít  
21  
12  
11  
18  
6
<1 lít  
54,5  
64,7  
37,5  
24  
45,5  
35,5  
62,5  
76  
Hiếm khi  
Thỉnh thoảng  
Thường xuyên  
Tự ăn  
Hoạt động thể  
lực  
30  
19  
55  
0
<0,05  
<0,05  
31  
4
36  
64  
Hình thức  
nuôi dưỡng  
Ăn qua sonde  
100  
38,9  
0
Tổng  
35  
55  
61,1  
90  
Tiền sử táo bón, chế độ ăn, lượng nước uống hằng ngày, hoạt động thể lực, hình thức nuôi dưỡng là  
các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ mắc táo bón với p<0,05.  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
65  
Táo bón và một số yếu tBốệlniêhnvqiuệnanTrởunnggưườơinbgệnHhu..ế.  
III. BÀN LUẬN  
bệnh không được thoải mái như ở nhà. Những điều  
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi khảo sát 90  
người bệnh là người cao tuổi đang điều trị nội trú tại  
khoa Nội Lão Bệnh viện C Đà Nẵng thì nhóm người  
bệnh từ 80 – 90 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 46,7%, có  
đến 10 người bệnh trên 90 tuổi chiếm 11,1%, tuổi  
trung bình là 80,78 tuổi. Kết quả này cao hơn nghiên  
cứu của Hồ Thị Kim Thanh với độ tuổi trung bình  
là 73,7 ± 11,5 tuổi [3]. Có sự khác biệt này là do hai  
nghiên cứu được tiến hành ở các vùng miền có điều  
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế khác nhau. Trong  
nghiên cứu, tỷ lệ 40% người bệnh là nam giới, 60%  
là nữ giới. Kết quả tương tự nghiên cứu 124 người  
bệnh của Hồ Thị Kim Thanh (2014) có 45,2% nam  
và 54,8% nữ [3]. Đa số người bệnh tham gia nghiên  
cứu là hưu trí 88,9%, một số nhỏ là nội trợ và nông  
dân. Điều này phù hợp với đặc thù của Bệnh viện C  
Đà Nẵng là nơi điều trị và chăm sóc phần lớn cán bộ  
công tác ở các cơ quan nhà nước đã về hưu.  
này có thể giải thích cho tỷ lệ mắc táo bón khá cao  
của nghiên cứu. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của  
ROME IV, nghiên cứu này xác định có 35 người  
bệnh (38,9%) mắc táo bón trong tổng số 90 người  
bệnh tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này  
cao hơn nghiên cứu của Meinds và cộng sự (2017)  
với tỷ lệ là 24,5% [8]. Nguyên nhân của sự khác  
nhau này là do có sự khác biệt về mặt địa lý, thời  
gian trong các nghiên cứu. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi, đối tượng là người bệnh điều trị nội trú  
tại khoa Nội Lão - Bệnh viện C Đà Nẵng có độ tuổi  
trung bình cao hơn (80,78 tuổi), mắc nhiều bệnh  
kèm theo (mỗi người bệnh mắc ít nhất một bệnh  
kèm) nên tỷ lệ táo bón cao hơn các nghiên cứu khác  
thực hiện ở người khỏe mạnh.  
3.3. Mối liên quan giữa một số yếu tố với táo bón  
3.3.1. Mối liên quan giữa táo bón và chế độ ăn  
Ở người cao tuổi không chỉ thay đổi chức năng  
của cơ quan theo tuổi tác mà thói quen ăn uống  
đóng một vai trò thiết yếu trong phòng ngừa và điều  
trị. Nhiều nghiên cứu đã gợi ý rằng lượng chất xơ  
ăn vào cao có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ và giảm  
các triệu chứng táo [15]. Người cao tuổi thường có  
xu hướng ăn ít chất xơ hơn do khả năng nhai nuốt  
và tiêu hóa kém.  
Trong nghiên cứu này người bệnh có tiền sử táo  
bón chiếm tỷ lệ cao 62,2%, tương tự với kết quả  
nghiên cứu của Hồ Thị Kim Thanh (2014) là 62,9  
% [3]. Phần lớn 64,5% người bệnh không bao giờ  
nhịn đi đại tiện nhưng vẫn còn 31 người bệnh chiếm  
34,4% thỉnh thoảng nhịn đi đại tiện. Đối tượng tham  
gia nghiên cứu này chủ yếu từ 80 – 90 tuổi (46,7%),  
trên 90 tuổi (11,1%). Với độ tuổi này thì chức năng  
vận động giảm ngoài ra còn mắc rất nhiều bệnh mạn  
tính khác làm cho người bệnh đau, ngại vận động  
nên thỉnh thoảng nhịn đi đại tiện.  
Trong nghiên cứu này, tần suất ăn rau và trái cây  
của người bệnh hiếm khi là 6,7%, 46,7% là tỷ lệ  
người bệnh thỉnh thoảng ăn. Kết quả cho thấy có sự  
liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tần suất ăn rau  
quả với táo bón (p<0,05). Những người bệnh có chế  
độ ăn ít chất xơ, hiếm khi hoặc thỉnh thoảng ăn rau,  
hoa quả thì nguy cơ mắc táo bón cao hơn những  
người ăn nhiều thực phẩm chất xơ hơn. Tương tự với  
kết quả nghiên cứu của Rao SS (2010), Mounsey A  
(2015) và nghiên cứu của Hồ Thị Kim Thanh (2014)  
[3],[9],[12].  
3.2. Tỷ lệ táo bón  
Kết quả từ Bảng 1 cho thấy đối tượng nghiên cứu  
có độ tuổi rất cao (trung bình 80,78 tuổi). Với độ  
tuổi này, nhu động ruột đã giảm khá nhiều kết hợp  
với tình trạng thừa cân (32,2%), thói quen nhịn đi  
đại tiện (34,4% thỉnh thoảng, 1,2% thường xuyên).  
Vì rất nhiều lý do như tình trạng sức khỏe không  
đảm bảo, thường mắc các bệnh mạn tính như thoái  
hóa, viêm khớp, loãng xương…dẫn đến người cao  
tuổi thường hạn chế vận động. Ngoài ra, việc sinh  
hoạt trong môi trường bệnh viện làm cho người  
3.3.2. Mối liên quan giữa táo bón và lượng  
nước uống hằng ngày  
Do cảm giác khát ở người cao tuổi bị suy giảm,  
ngưỡng khát cao nên uống không đủ lượng nước  
hàng ngày cũng là nguyên nhân gây táo bón.  
66  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
Bệnh viện Trung ương Huế  
Trong nghiên cứu này cho thấy có mối liên quan hoạt hằng ngày của người bệnh giảm dần theo thời  
giữa lượng nước uống hằng ngày và tình trạng táo  
bón. Những người bệnh uống ít nước (< 1,5 lít/  
ngày) thì khả năng bị táo bón cao những người  
uống ít nhất 1,5 lít/ngày, sự khác biệt này có ý nghĩa  
thống kê (p < 0,05). Kết quả tương đồng với nghiên  
cứu của Hồ Thị Kim Thanh (2014) có lượng nước  
uống trung bình của nhóm nghiên cứu là 936 ± 440  
ml/ngày, của nhóm táo bón là 757 ± 370 ml/ngày  
[3]. Càng uống ít nước thì nguy cơ táo bón càng  
cao. Bên cạnh giảm cảm giác khát, lượng nước uống  
còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố nhất là khi nằm viện  
điều kiện ăn uống không thuận lợi như ở nhà, do đó  
lượng nước uống hàng ngày cũng giảm.  
gian nằm viện: 53% người bệnh bị suy giảm các  
hoạt động sinh hoạt hằng ngày, 35% người bệnh có  
xu hướng tăng và 12% người bệnh giữ nguyên mức  
sinh hoạt [5]. Điều này làm tăng tỷ lệ táo bón.  
3.3.4. Mối liên quan giữa táo bón và hình thức  
nuôi dưỡng  
Ăn uống, dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng  
trong phác đồ điều trị. Để hỗ trợ, cung cấp chất  
dinh dưỡng có các biện pháp nuôi dưỡng qua đường  
miệng, đường ruột hay đường tĩnh mạch trong đó  
nuôi dưỡng bằng đường ruột qua sonde dạ dày là phổ  
biến nhất [10]. Nuôi dưỡng qua sonde dạ dày là biện  
pháp hỗ trợ cho người bệnh không tự ăn được, rối  
loạn nuốt. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên  
quan có ý nghĩa thống kê giữa hình thức nuôi dưỡng  
với táo bón (p < 0,05). Trong nghiên cứu này những  
người bệnh được nuôi dưỡng qua sonde dạ dày thì  
tỷ lệ táo bón là 100%, trong khi tỷ lệ này thấp hơn  
rất nhiều ở nhóm người bệnh ăn bằng đường miệng  
(36%). Như vậy người bệnh được nuôi dưỡng qua  
sonde dạ dày thì nguy cơ táo càng cao. Theo nghiên  
cứu của Hồ Thị Kim Thanh và Nguyễn Thị Thủy  
(2017), các biến chứng ghi nhận trong quá trình  
nuôi dưỡng qua sonde dạ dày cao nhất là táo bón  
chiếm 54,9%, trong đó có người bệnh phải sử dụng  
thuốc nhuận tràng trong suốt quá trình nằm viện [4].  
Trong nghiên cứu này, 4 người bệnh được cho ăn  
qua sonde dạ dày, do nhóm người bệnh này có nguy  
cơ sặc nên sonde dạ dày được lưu lại trong suốt quá  
trình nằm viện. Mặt khác, nhóm nghiên cứu này đều  
hạn chế vận động, chủ yếu nằm tại giường nên nhu  
động ruột kém. Do thời gian nằm viện cũng kéo dài  
nên tỷ lệ táo bón càng cao.  
3.3.3. Mối liên quan giữa táo bón và hoạt động  
thể lực  
Nghiên cứu của tôi cho thấy có mối liên quan  
giữa hoạt động thể lực và táo bón (p < 0,05). Người  
bệnh hoạt động thể lực thường xuyên thì ít có nguy  
cơ mắc táo bón hơn những người bệnh thỉnh thoảng  
hoặc hiếm khi hoạt động thể lực. Trong nghiên cứu  
này, tỷ lệ người bệnh có hoạt động thể lực thường  
xuyên mắc chứng táo bón là 24% thấp hơn so với  
nhóm người hiếm khi hoặc thỉnh thoảng hoạt động  
thể lực là (64,7%, 37,5%). Kết quả này tương đồng  
với nghiên cứu của Bùi Thị Mai Hương (2012) có  
58,8% người bệnh hoạt động thể lực không thường  
xuyên, 11,8 % người bệnh không hoạt động thể lực  
[2]. Điều đó cho thấy nếu giảm hoặc không hoạt  
động thể lực thì nguy cơ táo bón cao hơn. Thỉnh  
thoảng hoặc hiếm khi hoạt động thể lực sẽ làm  
giảm nhu động ruột, thời gian vận chuyển phân  
trong đại tràng kéo dài nên sẽ tăng cường hấp thu  
nước trở lại làm cho phân khô và giảm số lần đi  
đại tiện.  
Vì rất nhiều lý do như tình trạng sức khỏe không  
đảm bảo, thường mắc các bệnh mạn tính như thoái  
hóa, viêm khớp, loãng xương….Dẫn đến người cao  
tuổi thường hạn chế vận động và trong môi trường  
bệnh viện làm cho người bệnh không được sinh hoạt  
IV. KẾT LUẬN  
Tỷ lệ táo bón ở người bệnh cao tuổi tại khoa Lão  
- Bệnh viện C Đà Nẵng là 38,9%.  
Các yếu tố liên quan đến táo bón ở người bệnh  
thoải mái như ở nhà. Theo nghiên cứu của Hồ Thị cao tuổi là: chế độ ăn ít chất xơ, uống ít nước, hạn  
Kim Thanh và cộng sự (2016) cho thấy mức sinh  
chế hoạt động thể lực, ăn uống qua sonde dạ dày.  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
67  
Táo bón và một số yếu tBốệlniêhnvqiuệnanTrởunnggưườơinbgệnHhu..ế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
TIẾNG VIỆT  
and fecal incontinence, and their co-occurrence  
in the Netherlands. Int J Colorectal Dis 2017;  
32(4): 475-483.  
1. Ngô Quý Châu. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị  
táo bón. Trong: Bệnh học nội khoa tập 2. Hà Nội,  
Nhà xuất bản Y học; 2012, 91-97.  
9. Mounsey A, Raleigh M, Wilson A. Management  
of constipation in older adults. Am Fam  
Physician 2015; 92(6): 500-504.  
2. Bùi Thị Mai Hương. Nhận xét ảnh hưởng của một  
số yếu tố liên quan đến táo bón mạn tính. Tạp chí  
y học thực hành 2012; 834(5), 39-41.  
10. Nordin N, Chin AV. A descriptive study of  
nasogastric tube feeding among ge-riatric  
inpatients in Malaysia: Utilization, com-plications,  
and caregiver opinions, Joumal of Nutrition in  
Gerontology and Geriatrics 2005; 34 (1), 34 - 49.  
11. Peppas G, Alexiou VG, Mourtzoukou E,  
Falagas ME. Epidemiology of constipation in  
Europe and Oceania: A systematic review. BMC  
Gastroenterol 2008; 8:5.  
3. Hồ Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Lương. Điều tra  
tỷ lệ mắc táo bón và một số yếu tố liên quan ở  
bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa  
Trung ương. Tạp chí nghiên cứu khoa học 2014,  
91(5), 73-77.  
4. Hồ Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Thủy. Thực  
trạng nuôi dưỡng qua sonde dạ dày cho người  
bệnh cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão  
khoa Trung ương. Tạp chí nghiên cứu y học  
2017; 107(2), 143-149.  
12. Rao SS, Go JT. Update on the management  
of constipation in the elderly: new treatment  
options. Clin Interv Aging 2010; 5, 163-171.  
13. Simren M, Palsson OS, Whitehead WE. Update  
on Rome IV criteria for colorectal disorders:  
Implications for clinical practice. Current  
Gastroenterology Reports 2017; 19(4):15.  
14. Wald A, Sigurdsson L. Quality of life in children  
and adults with constipation. Best Pract Res Clin  
Gastroenterol 2011; 25(1): 19-27.  
5. Hồ Thị Kim Thanh, Phạm Thị Phương Thanh.  
Đánh giá ảnh hưởng của quá trình nằm viện đến  
hoạt động hằng ngày của người cao tuổi. Tạp chí  
nghiên cứu y học 2016; 100(2), 164-170.  
TIẾNG ANH  
6. Fosnes GS, Lydersen S Farup PG. Drugs and  
Constipation in Elderly in Nursing Homes: What  
Is the Relation?, Gastroenterol Res Pract 2012; 1-7.  
7. Jamshed N, Lee ZE, Olden KW. Diagnostic  
approach to choronic constipation in adults. Am  
Fam Physician 2011; 84(3): 299- 306.  
15. Yang XJ, Zhang M, Zhu HM, Tang Z, Zhao DD,  
Li BY et al. Epidemiological study: Corelation  
between diet habit and constipation among  
elderly in Beijing region. World J gastroenterol  
2016; 22 (39), 8806-8811.  
8. Meinds RJ, van Meegdenburg MM, Trzpis  
M, Broens PM. On the prevalence of constipation  
68  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 68/2021  
pdf 7 trang yennguyen 17980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Táo bón và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tại khoa Nội lão - Bệnh viện C Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftao_bon_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_nguoi_benh_tai_khoa_noi.pdf