Thực trạng rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở BỆNH NHÂN  
CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP  
Nguyễn Văn Thống1,2,, Nguyễn Văn Tuấn1, Nguyễn Thắng2,  
Lý Lan Chi3, Trần Tú Nguyệt2, Nguyễn Thị Kim Xuyến2,  
Dương Huỳnh Phương Nghi2, Nguyễn Xuân Long2.  
1Trường Đại học Y Hà Nội,  
2Trường Đại học Y Dược Cần Thơ,  
3Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.  
Trầm cảm và tăng huyết áp là hai nhóm bệnh lý mạn tính phổ biến và chúng thường liên quan chặt chẽ với  
nhau, đặc biệt trên đối tượng bệnh nhân cao tuổi. Khảo sát về tỷ lệ và những đặc điểm lâm sàng của rối loạn  
trầm cảm người cao tuổi có tăng huyết áp nhập viện sẽ đem lại bức tranh về thực trạng này. Nghiên cứu cắt  
ngang được thực hiện trên 65 bệnh nhân, chẩn đoán trầm cảm dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD - 10.  
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 74,9 ± 8,1, nữ giới chiếm 78,5%. Tỷ lệ mắc trầm cảm theo ICD - 10  
là 43,1%, với mức độ nặng (32,1%), vừa (32,1%) và nhẹ (35,7%). Về triệu chứng, 100% bệnh nhân trầm cảm  
có giảm năng lượng hoặc mệt mỏi, sau đó đến khí sắc trầm và rối loạn giấc ngủ (96,4%), mất quan tâm hoặc  
hứng thú (85,7%), và ý tưởng hoặc hành vi tự sát (28,6%). Chúng tôi khuyến khích cần có kế hoạch tầm soát  
trầm cảm để phát hiện sớm và lên kế hoạch điều trị đầy đủ về thể chất cũng như tinh thần cho bệnh nhân.  
Từ khoá: Rối loạn trầm cảm, tăng huyết áp, bệnh nhân trên 60 tuổi  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
cảm ở bệnh nhân tăng huyết áp là 46%, trong  
đó ở dân số trên 65 tuổi là 55,4%.4 Ashok và cs  
(2019) cũng khảo sát tương tự với kết quả thu  
được về tỷ lệ trầm cảm trên bệnh nhân tăng  
huyết áp là 41%, ở lứa tuổi trên 65 là 47,3%.5  
Các kết quả cho thấy tầm quan trọng của các  
bác sĩ trong việc xác định và phát hiện sớm  
trầm cảm, và điều trị kịp thời cho bệnh nhân.  
Các vấn đề nghiên cứu nhằm khảo sát tỷ lệ,  
các biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm  
ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp chưa được  
quan tâm nhiều tại các bệnh viện đa khoa, khoa  
lão khoa, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng sông  
Cửu Long. Thực hiện một khảo sát có thể hỗ  
trợ trong công tác đánh giá khía cạnh tâm thần  
trong lão khoa, cũng như đưa ra hướng điều trị  
thích hợp hơn cho bệnh nhân, góp phần vào  
công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại  
nước ta là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.  
Nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu:  
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến,  
đặc trưng bởi tâm trạng giảm sút kéo dài kèm  
theo mất hứng thú trong sinh hoạt, mệt mỏi và  
tự đánh giá thấp bản thân. Nó có liên quan đến  
giảm chất lượng cuộc sống, gánh nặng bệnh  
tật và tử vong, đặc biệt trên đối tượng bệnh  
nhân tim mạch.1 Tăng huyết áp và trầm cảm  
là những nhóm bệnh lý mạn tính phổ biến nhất  
trên toàn thế giới, và theo nhiều nghiên cứu,  
chúng thường liên quan chặt chẽ với nhau.2  
Các nghiên cứu gần đây về tỷ lệ trầm cảm ở  
bệnh nhân tăng huyết áp là rất cao và ít được  
phát hiện, đặc biệt trên đối tượng người cao  
tuổi.3 Stanetic và cs (2017) ghi nhận tỷ lệ trầm  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Thống,  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 12/09/2020  
Ngày được chấp nhận: 20/10/2020  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
233  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Mô tả tỷ lệ và mức độ trầm cảm ở bệnh nhân  
trên 60 tuổi tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa  
Trung ương Cần Thơ năm 2020.  
Bị rào cản bởi ngôn ngữ, giao tiếp và không  
hoàn thành hết cuộc phỏng vấn.  
Đang gặp phải sự cố cuộc sống nghiêm  
trọng trong vòng hai tuần.  
Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm  
cảm ở nhóm đối tượng này.  
2. Phương pháp  
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
ngang.  
1. Đối tượng  
Nghiên cứu được tiến hành thông qua khảo  
sát các bệnh nhân trên 60 tuổi có tăng huyết áp  
đang điều trị nội trú tại khoa Nội lão học, Bệnh  
viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong thời  
điểm nghiên cứu.  
Thời gian: 4/2020 đến 8/2020. Nghiên cứu  
lấy đủ số liệu theo cỡ mẫu đã tính thì có thể  
dừng lại.  
Địa điểm: Khoa Nội lão học, Bệnh viện Đa  
khoa Trung ương Cần Thơ.  
Tiêu chuẩn chọn mẫu  
Cỡ mẫu: 65 bệnh nhân cao tuổi.  
Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đang được  
điều trị nội trú tại khoa Nội lão học, Bệnh viện  
Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ 4/2020 đến  
8/2020.  
Phương pháp chọn mẫu  
Chọn tất cả bệnh nhân cao tuổi nhập viện  
tại khoa nội lão học thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu  
trong thời gian nghiên cứu.  
Được chẩn đoán tăng huyết áp theo Tổ  
chức Y tế Thế giới (Tăng huyết áp được chẩn  
đoán nếu, khi đo vào hai ngày khác nhau, số đo  
huyết áp tâm thu ở cả hai ngày là ≥ 140 mmHg  
và/hoặc số đo huyết áp tâm trương ở cả hai  
ngày là ≥ 90 mmHg).6  
Nội dung nghiên cứu  
Thông tin của đối tượng nghiên cứu: giới  
tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp trước  
đây, nghề nghiệp hiện tại, tình trạng hôn nhân,  
tình trạng kinh tế, nơi ở, dân tộc, chỉ số BMI, có  
người sống chung, sự tham gia hoạt động xã hội.  
Rối loạn trầm cảm: tỷ lệ trầm cảm, mức độ  
trầm cảm theo ICD - 10 và các triệu chứng trầm  
cảm.  
Đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Mắc các bệnh lý làm hạn chế khả năng tiếp  
xúc và trả lời chính xác các câu hỏi: như bệnh lý  
tim, phổi, thần kinh,… trong giai đoạn cấp tính.  
Qui trình tiến hành  
Bệnh nhân nhập viện tại  
Khoa Nội Lão học  
Lên danh sách những  
bệnh nhân trên 60 tuổi  
Phỏng vấn bệnh nhân thông qua bệnh án nghiên cứu  
trong vòng 3 đến 5 ngày sau nhập viện hoặc tình trạng bệnh chính nhập viện tạm ổn,  
bệnh nhân và người nhà đồng ý tham gia  
Sơ đồ 1. Qui trình nghiên cứu  
234  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
3. Xử lý số liệu  
được giải thích cặn kẽ, cụ thể về mục đích, nội  
dung nghiên cứu cũng như những lợi ích và  
nguy cơ có thể xảy ra khi tham gia nghiên cứu.  
Mọi sự từ chối trả lời đều được chấp nhận mà  
không ảnh hưởng tới đối tượng. Nghiên cứu  
được tiến hành sau khi được sự chấp thuận  
của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh  
học cấp cơ sở của Trường Đại học Y Hà Nội,  
số 72/GCN - HHĐĐNCYSH - ĐHYHN ngày 10  
tháng 4 năm 2020.  
Các số liệu thu thập và được xử lý trên phần  
mềm SPSS 16.0.  
Các biến định lượng được viết dưới dạng  
giá trị trung bình ±1 độ lệch chuẩn.  
Các biến phân loại được mô tả dưới dạng  
tần số, tỷ lệ %.  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu  
III. KẾT QUẢ  
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Khảo sát được thực hiện trên 65 bệnh nhân nhập viện với độ tuổi trung bình là 74,9 ± 8,1 tuổi, chủ  
yếu là nữ (78,5%), trình độ học vấn dưới trung học cơ sở (92,3%), nghề nghiệp trước đây là lao động  
chân tay (83,1%), hiện tại ngừng lao động (83,1%), có gia đình (76,9%), kinh tế khá, giàu (96,9%),  
ở nông thôn (70,8%), dân tộc kinh (92,3%), có người sống chung (89,2%), không tham gia các hoạt  
động xã hội (70,8%), và chỉ số BMI dưới 23 kg/m2 nhiều hơn so với ≥ 23 kg/m2 lần lượt là 56,9% và  
43,1%. Các đặc điểm chung của bệnh nhân được trình bày trong Bảng 1.  
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Đặc điểm  
Tần số (n)  
Tỉ lệ (%)  
Nam  
Nữ  
14  
51  
37  
28  
21,5  
78,5  
56,9  
43,1  
Giới tính  
≤ 75  
> 75  
Nhóm tuổi  
Tuổi trung bình  
74,9 ± 8,1  
≤ THCS  
60  
5
92,3  
7,7  
Trình độ học vấn  
Nghề nghiệp trước đây  
Nghề nghiệp hiện tại  
Tình trạng hôn nhân  
Tình trạng kinh tế  
Nơi ở  
≥ THPT  
Lao động trí óc  
Lao động chân tay  
Ngừng lao động  
Còn lao động  
Có gia đình  
Ly hôn/ly thân/góa  
Trung bình/ khá, giàu  
Nghèo  
14  
51  
54  
11  
50  
15  
63  
2
21,5  
78,5  
83,1  
16,9  
76,9  
23,1  
96,9  
3,1  
Thành thị  
19  
46  
60  
5
29,2  
70,8  
92,3  
7,7  
Nông thôn  
Kinh  
Dân tộc  
Hoa/Khmer  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
235  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Đặc điểm  
Tần số (n)  
Tỉ lệ (%)  
< 23 kg/m2  
37  
28  
58  
7
56,9  
43,1  
89,2  
10,8  
29,2  
70,8  
Chỉ số BMI  
≥ 23 kg/m²  
Có  
Người sống chung  
Tham gia hoạt động xã hội  
Không  
Có  
19  
46  
Không  
2. Tỷ lệ, mức độ và thời gian biểu hiện của rối loạn trầm cảm  
Có 28 trong 65 bệnh nhân thoải tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo ICD - 10, tỷ lệ là 43,1%,  
mức độ trầm cảm nhẹ cao nhất (35,7%), tỷ lệ trầm cảm vừa và nặng có tỷ lệ như nhau là 32,1%, thời  
gian mắc trầm cảm dưới 6 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (46,4%), thấp nhất là từ 6 tháng đến 12 tháng  
(25%). Tỷ lệ, mức độ và thời gian biểu hiện trầm cảm được trình bày trong Bảng 2.  
Bảng 2. Tỷ lệ, mức độ, thời gian biểu hiện trầm cảm theo ICD - 10  
Đặc điểm  
Không trầm cảm  
Trầm cảm  
Tổng  
Tần số (n)  
Tỉ lệ (%)  
56,9  
43,1  
100  
37  
28  
65  
10  
9
Tỷ lệ trầm cảm theo  
ICD - 10  
Trầm cảm nhẹ  
Trầm cảm vừa  
Trầm cảm nặng  
Tổng  
35,7  
32,1  
32,1  
100  
Mức độ trầm cảm  
theo ICD - 10  
9
28  
13  
7
< 6 tháng  
46,4  
25  
6 – 12 tháng  
> 12 tháng  
Tổng  
Thời gian biểu hiện  
trầm cảm  
8
28,6  
100  
28  
3. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm  
Đặc điểm của 10 triệu chứng (3 triệu chứng đặc trưng gồm khí sắc trầm, mất quan tâm hoặc  
hứng thú, giảm năng lượng hoặc mệt mỏi; 7 triệu chứng phổ biến khác gồm các triệu chứng còn lại)  
theo ICD - 10 trên 28 bệnh nhân trầm cảm được mô tả trong Biểu đồ 1. Trong đó, triệu chứng giảm  
năng lượng hoặc mệt mỏi có tỷ lệ bệnh nhân than phiền nhiều nhất (100%), sau đó đến khí sắc trầm  
và rối loạn giấc ngủ (96,4%), mất quan tâm hoặc hứng thú (85,7%), giảm tập trung chú ý (82,1%),  
nhìn tương lai ảm đạm và bi quan (71,4%), rối loạn ăn uống (57,1%), giảm tự trọng tự tin (50%), ý  
tưởng buộc tội và không xứng đáng (39,3%) và ý tưởng hoặc hành vi tự sát (28,6%).  
236  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Ý tưởng hoặc hành vi tự sát  
Ý tưởng buộc tội và không xứng đáng  
Giảm tự trọng tự tin  
28,6%  
39,3%  
50,0%  
57,1%  
Rối loạn ăn uống  
Tương lai ảm đạm và bi quan  
Giảm tập trung chú ý  
71,4%  
82,1%  
85,7%  
96,4%  
96,4%  
100%  
Mất quan tâm hoặc hứng thú  
Rối loạn giấc ngủ  
Khí sắc trầm  
Giảm năng lượng hoặc mệt mỏi  
0%  
20%  
40%  
60%  
80%  
100% 120%  
Biểu đồ 1. Ba triệu chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến theo ICD - 10  
Các triệu chứng cơ thể và triệu chứng khác của trầm cảm được trình bày trong Bảng 3. Trong các  
triệu chứng cơ thể, mất hứng thú hoặc hài lòng chiếm tỷ lệ cao nhất (75%) và thấp nhất là giảm cân  
(3,6%). Có 96,4% bệnh nhân trầm cảm có biểu hiện lo âu. Có triệu chứng đau là 92,9%.  
Bảng 3. Các triệu chứng cơ thể, triệu chứng khác của trầm cảm theo ICD - 10  
Triệu chứng  
Tần số (n)  
Tỉ lệ (%)  
75  
Mất hứng thú hoặc hài lòng  
Thiếu phản ứng cảm xúc  
Thức dậy sớm hơn ít nhất 2 giờ  
Trầm cảm nặng hơn vào buổi sáng  
21  
19  
16  
12  
67,9  
57,1  
42,9  
Triệu chứng cơ thể  
Chậm phát triển tâm thần hoặc kích  
động  
2
7,1  
Chán ăn rõ rệt  
10  
1
35,7  
3,6  
Giảm cân  
Mất ham muốn tình dục rõ rệt  
4
14,3  
96,4  
92,9  
Lo âu  
Đau  
27  
26  
Triệu chứng khác  
IV. BÀN LUẬN  
So với các nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân cao tuổi, dân số nghiên cứu trong khảo  
sát này có sự tương đồng. Khảo sát được thực hiện trên 65 bệnh nhân nhập viện với độ tuổi trung  
bình là 74,9 ± 8,1 tuổi, chủ yếu là nữ (78,5%). Nhóm tác giả Alicia Conde Martel và cs (2013) tiến  
hành một khảo sát những triệu chứng trầm cảm ở 115 bệnh nhân được nghiên cứu, với độ tuổi trung  
bình là 70,5 tuổi, 71 (61,7%) là nữ.3 Trong một nghiên cứu khác của Vishnu G Ashok và cộng sự về  
tỷ lệ trầm cảm ở ở 200 bệnh nhân lão khoa, tuổi trung bình của bệnh nhân là 66,16 ± 8,62, hầu hết  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
237  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
họ thuộc nhóm tuổi trên 65 với 130(65%) là nữ  
và 70(35%) là nam.5 Chúng tôi khảo sát trên  
đối tượng người cao tuổi (trên 60 tuổi) có tăng  
huyết áp, nhập viện điều trị tại Khoa Nội lão,  
Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ.  
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ  
lệ trầm cảm nặng ở người cao tuổi nhập viện có  
liên quan chặt chẽ đến các bệnh lý khác nhau.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trầm cảm  
ở người cao tuổi tăng huyết áp là 43,1%, với  
mức độ trầm cảm nhẹ chiếm (35,7%), trầm cảm  
vừa và nặng có tỷ là 32,1%, có thể so sánh  
với các nghiên cứu khác ở bệnh nhân cao tuổi  
tăng huyết áp. Theo Alicia Conde Martel và cs  
(2013), các triệu chứng trầm cảm được quan  
sát thấy ở 46 bệnh nhân (40%, KTC 95%: 34,8  
- 43,9). Các tác giả đã sử dụng phiên bản tiếng  
Tây Ban Nha của Thang trầm cảm người cao  
tuổi của Yesavage (phiên bản 15 mục) trong  
nghiên cứu. Bệnh nhân được coi là có các  
triệu chứng trầm cảm nếu đạt được ≥ 6 điểm.3  
Thang trầm cảm người cao tuổi rất phù hợp cho  
đối tượng nghiên cứu này, nó đã loại bỏ nhiều  
triệu chứng than phiền cơ thể trùng lắp với triệu  
chứng thực thể trên bệnh nhân. Tuy nhiên, cần  
phải được chẩn đoán lại theo tiêu chuẩn chẩn  
đoán ICD - 10 trước khi quyết định can thiệp  
điều trị cho bệnh nhân.  
có thể ngăn ngừa trầm cảm trong số các bệnh  
tăng huyết áp.5  
Năm 2017, tác giả Stanetic và cộng sự  
cũng có công trình nghiên cứu về rối loạn trầm  
cảm trên bệnh nhân tăng huyết áp. Kết quả  
đánh giá trầm cảm dựa trên Bộ câu hỏi sức  
khoẻ bệnh nhân 9 đề mục (PHQ - 9 - Patient  
Health Questionnaire), 108 (54,0%) không bị  
trầm cảm, trầm cảm nhẹ được tìm thấy ở 58  
(29,0%), trầm cảm trung bình ở 21 (10,5%) và  
trầm cảm nặng ở 13 (6,5%) bệnh nhân. Riêng  
số đối tượng bệnh nhân trên 65 tuổi tăng huyết  
áp mắc trầm cảm là 72 (55,4%). Cuộc khảo sát  
cho thấy rối loạn trầm cảm đã xuất hiện ở gần  
một nửa (46,0%) số bệnh nhân được điều trị  
tăng huyết áp. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
tầm quan trọng của các bác sĩ gia đình trong  
việc xác định và phát hiện sớm bệnh nhân bị  
trầm cảm, và điều trị kịp thời cho bệnh nhân.4  
Nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích  
gộp về tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân tăng huyết  
áp được thực hiện vào 2015. Li Zhanzhan và  
cộng sự phân tích được 41 nghiên cứu với tổng  
dân số nghiên cứu là 30 796. Tỷ lệ trầm cảm  
tổng hợp trong số các bệnh nhân tăng huyết  
áp trung bình là 26,8% (khoảng tin cậy 95%:  
21,7% - 32,3%).7  
Với tỷ lệ trầm cảm thu được trong khảo sát  
của chúng tôi là 43,1% có sự khác biệt không  
lớn so với các tác giả vì một vài lý do. Cuộc  
khảo sát của chúng tôi thực hiện ở bệnh nhân  
nhập viện tương tự như nhóm tác giả Alicia  
Conde Martel và cs (2013), nhưng chúng tôi chỉ  
khảo sát tại Khoa Lão, các nghiên cứu còn lại  
dựa trên cộng đồng và ngoại trú. Chúng tôi sử  
dụng công cụ chẩn đoán giai đoạn trầm cảm  
theo ICD - 10, trong khi các tác giả còn lại dựa  
trên các thang đánh giá. Đồng thời đối tượng  
nghiên cứu trong khảo sát này là bệnh nhân  
cao tuổi (> 60 tuổi, theo tiêu chí Việt Nam) có  
mắc tăng huyết áp, trong khi người cao tuổi thì  
Ashok và cộng sự (2019) công bố kết quả  
khảo sát tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân tăng huyết  
áp tại một trung tâm y tế nông thôn là 41%,  
trong đó 28,5% bị trầm cảm nhẹ, 7% bị trầm  
cảm vừa, 3% bị trầm cảm nặng và 2,5% bị trầm  
cảm rất nặng. Tỷ lệ trầm cảm ở đối tượng bệnh  
nhân cao tuổi trên 65 tuổi là 47,3%, cao hơn  
kết quả chúng tôi thu được. Tuy nhiên, nhóm  
tác giả này đã sử dụng công cụ đánh giá trầm  
cảm BECK (Beck Depression Inventory) có độ  
nhạy và phù hợp với vai trò tầm soát trong cộng  
đồng. Các tác giả đề nghị cần phát hiện sớm và  
nhắc nhở điều trị bằng cách điều chỉnh lối sống  
238  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
> 65 tuổi ở các nước. Tuy nhiên, kết quả khảo  
sát hiện tại và những khảo sát trước đều cho  
thấy tỷ lệ trầm cảm tương đối cao ở nhóm bệnh  
nhân cao tuổi tăng huyết áp, số liệu sẽ khuyến  
khích các bác sỹ chuyên ngành lão khoa, tim  
mạch chú ý nhiều hơn về trầm cảm và đưa ra  
hướng điều trị đầy đủ cho bệnh nhân.  
trong việc trải nghiệm niềm vui, hành vi có động  
cơ và liên kết giữa những mong muốn với môi  
trường.10 Một số bệnh nhân trầm cảm đôi khi  
dường như không biết về chứng trầm cảm của  
họ và không phàn nàn về sự xáo trộn tâm trạng  
mặc dù họ có biểu hiện rút lui khỏi gia đình, bạn  
bè và các hoạt động mà họ quan tâm trước đó.9  
Khi bệnh nhân có triệu chứng mất hứng thú, rất  
khó để thực hiện các biện pháp vận động và  
tham gia các hoạt động, ảnh hưởng nhiều đến  
công tác điều trị. Giảm năng lượng hoặc mệt  
mỏi, được mô tả là cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức  
và bơ phờ. Bệnh nhân có thể cảm thấy cần phải  
nghỉ ngơi trong ngày, cảm thấy chân tay nặng  
nề, hoặc cảm thấy khó bắt đầu hoặc hoàn thành  
các hoạt động. Triệu chứng này xuất hiện ở tất  
cả (100%) những bệnh nhân trầm cảm trong  
khảo sát của chúng tôi. Điều này cũng phù hợp  
với y văn, hầu hết tất cả bệnh nhân trầm cảm  
(97%) đều phàn nàn về việc giảm năng lượng;  
họ gặp khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm  
vụ, bị sa sút ở trường và nơi làm việc, và có ít  
động lực để thực hiện các dự án mới.9 Do bệnh  
nhân trong nghiên cứu này là người cao tuổi có  
nhiều bệnh nền nên có thể giải thích được hầu  
hết bệnh nhân đều than phiền triệu chứng này.  
Giảm tập trung chú ý xuất hiện ở 82,1% ở  
bệnh nhân trầm cảm trong nghiên cứu. Đây là  
một hình thức rối loạn chức năng nhận thức  
thần kinh, trong bệnh trầm cảm nói chung là  
nhẹ và được đánh dấu bằng nhiều phàn nàn  
chủ quan hơn là những phát hiện khách quan.  
Ở những bệnh nhân lớn tuổi, các vấn đề về trí  
nhớ có thể bị nhầm lẫn với chứng sa sút tâm  
thần (“chứng mất trí nhớ giả”); những vấn đề  
này thường giảm bớt khi điều trị thành công  
hội chứng trầm cảm.11 Theo y văn, các triệu  
chứng nhận thức bao gồm các tường thuật chủ  
quan về tình trạng không thể tập trung (84%  
bệnh nhân trong một nghiên cứu) và suy giảm  
khả năng suy nghĩ (67% bệnh nhân trong một  
Bên cạnh khảo sát tỷ lệ trầm cảm, chúng tôi  
còn phân chia mức độ trầm cảm và ghi nhận  
thời gian mắc trầm cảm trên đối tượng nghiên  
cứu. Có đến 32,1% bệnh nhân mắc trầm cảm  
ở mức độ nặng và 53,6% bệnh nhân mắc trầm  
cảm trên 6 tháng chưa được điều trị, mặc dù  
trầm cảm là một rối loạn ảnh hưởng rất lớn đến  
tinh thần và thể chất của bệnh nhân. Tuy nhiên,  
mẫu nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn nên  
chưa phân tích sâu về 2 khía cạnh này.  
Ba triệu chứng đặc trưng của trầm cảm theo  
ICD - 10. Khí sắc trầm là một đặc điểm cơ bản  
của rối loạn trầm cảm. Tỷ lệ bệnh nhân trầm  
cảm trong nghiên cứu có biểu hiện triệu chứng  
này là 96,4%. Đây là rối loạn cảm xúc có thể có  
nhiều dạng, chẳng hạn như cảm thấy buồn bã,  
tuyệt vọng, chán nản hoặc “suy sụp”. Những  
bệnh nhân có vẻ buồn bã (ví dụ: chảy nước  
mắt) ban đầu có thể phủ nhận nỗi buồn. Ngoài  
ra, sự khó chịu, bực bội, cáu kỉnh, tức giận hoặc  
thù địch gia tăng và dai dẳng xảy ra ở khoảng  
50 phần trăm bệnh nhân trầm cảm nặng.8 Đối  
với một bệnh nhân, tâm trạng buồn bã thường  
có một đặc điểm riêng biệt, phân biệt nó với  
cảm xúc bình thường của nỗi buồn. Bệnh nhân  
thường mô tả triệu chứng trầm cảm là một  
trong những cơn đau đớn về tinh thần và đôi  
khi phàn nàn về việc không thể khóc.9 Mất quan  
tâm hoặc hứng thú có ở 85,7% bệnh nhân trầm  
cảm trong nghiên cứu. Với triệu chứng này,  
bệnh nhân cảm thấy các sự việc, sở thích và  
hoạt động kém thú vị hoặc ít hứng thú hơn và  
có thể nói rằng “họ không còn quan tâm nữa”.  
Triệu chứng này có thể bao gồm sự thiếu hụt  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
239  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
nghiên cứu khác).9 Tuy nhiên, một số bệnh  
nhân bị sa sút tâm thần biểu hiện ban đầu với  
một giai đoạn trầm cảm nặng bao gồm khó  
khăn về trí nhớ. Rối loạn nhận thức thần kinh  
nhiều hơn ở những bệnh nhân ít học và lớn tuổi  
hơn, và những bệnh nhân có các triệu chứng  
trầm cảm nặng. Ngoài ra, suy giảm nhận thức  
có thể cản trở nhiều đến hoạt động chức năng  
ở bệnh nhân.12  
nghĩ muốn chết, và cho thấy bệnh nhân đang bị  
bệnh nặng. Theo Kaplan, khoảng 2/3 số bệnh  
nhân trầm cảm có ý định tự sát, và 10 đến 15%  
có hành vi tự sát. Những người nhập viện gần  
đây với ý định tự sát có nguy cơ tự sát thành  
công trong đời cao hơn những người chưa bao  
giờ nhập viện vì ý định tự sát.9 Theo các tác  
giả A.S. Srivastava và Rakesh Kumar, tỷ lệ có  
ý định tự sát là 16,6% ở bệnh nhân trầm cảm.  
Theo thống kê, nguy cơ có ý định tự tử cao hơn  
ở những người < 30 tuổi. Đàn ông độc thân,  
phụ nữ đã kết hôn và sinh viên có nhiều khả  
năng muốn tự tử hơn; giáo dục đại học cũng là  
một yếu tố dễ bị tổn thương.13  
Rối loạn ăn uống có ở 57,1% bệnh nhân.  
Cảm giác thèm ăn và cân nặng có thể giảm  
hoặc tăng trong rối loạn trầm cảm.11 Một số  
bệnh nhân phải ép mình ăn, trong khi những  
người khác ăn nhiều hơn và có thể thèm ăn  
các loại thực phẩm cụ thể (ví dụ: đồ ăn vặt và  
carbohydrate). Nhiều bệnh nhân giảm cảm giác  
thèm ăn và sụt cân, nhưng một số khác lại cảm  
thấy thèm ăn và tăng cân và ngủ lâu hơn bình  
thường. Những bệnh nhân này được phân loại  
là có các đặc điểm không điển hình.9  
Các triệu chứng cơ thể xuất hiện trên bệnh  
nhân trầm cảm với tỷ lệ là 75% đến 3,6%. Theo  
Hans - Peter Karpf Hammer, thách thức trong  
chẩn đoán trong việc phân biệt trầm cảm với  
các triệu chứng cơ thể phổ biến với lo lắng, rối  
loạn dạng cơ thể và các tình trạng y khoa khác.  
Khi các triệu chứng cơ thể, đặc biệt là các tình  
trạng đau đớn về thể chất, đi kèm với các triệu  
chứng tâm thần và hành vi đã làm nặng lên  
rối loạn trầm cảm, diễn biến của bệnh có thể  
nghiêm trọng hơn, dẫn đến nguy cơ tái phát,  
mạn tính, gánh nặng kinh tế tăng lên đáng kể,  
tình trạng chức năng có thể bị cản trở nặng nề,  
và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức  
khỏe có thể bị giảm sút nghiêm trọng.14  
Rối loạn giấc ngủ: Tỷ lệ bệnh nhân trầm  
cảm có rối loạn giấc ngủ (96,4%) trong nghiên  
cứu của chung tôi. Theo y văn, khoảng 80%  
bệnh nhân phàn nàn về tình trạng khó ngủ, đặc  
biệt là thức dậy vào sáng sớm (tức là mất ngủ  
giai đoạn cuối) và thức nhiều lần vào ban đêm,  
trong đó họ suy ngẫm về các vấn đề của mình.9  
Ý tưởng buộc tội và không xứng đáng: Triệu  
chứng này tìm thấy ở 39,3% bệnh nhân trong  
khảo sát. Nhận thức về bản thân của bệnh nhân  
trầm cảm có thể được đánh dấu bằng cảm giác  
kém cỏi, tự ti, thất bại, vô giá trị và mặc cảm  
không phù hợp.11  
Triệu chứng lo âu có ở 96,4% bệnh nhân  
trầm cảm trong nghiên cứu. Những triệu chứng  
này có thể ở dạng lo lắng, suy ngẫm, lo lắng về  
sức khỏe và các cơn hoảng sợ. Theo Kaplan,  
lo lắng một triệu chứng phổ biến của bệnh trầm  
cảm, ảnh hưởng đến 90% tổng số bệnh nhân  
trầm cảm. Lo lắng (bao gồm cả các cơn hoảng  
sợ), lạm dụng rượu và các than phiền về bệnh  
soma (ví dụ, táo bón và đau đầu) thường làm  
phức tạp việc điều trị trầm cảm.9 Theo Ionescu  
DF và cộng sự, việc xác định bệnh trầm cảm có  
lo âu là cách hữu ích nhất và phù hợp nhất về  
Ý tưởng hoặc hành vi tự sát có ở 28,6%  
bệnh nhân. Bệnh nhân trầm cảm có thể lặp  
đi lặp lại những suy nghĩ về cái chết hoặc tự  
sát và có thể cố gắng tự sát. Ý tưởng tự tử có  
thể là thụ động, với suy nghĩ rằng cuộc sống  
không đáng sống hoặc những người khác sẽ  
tốt hơn nếu bệnh nhân đã chết. Ngược lại, ý  
tưởng tự sát chủ động được thông qua bằng ý  
240  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
mặt lâm sàng để phân biệt nó với các dạng rối  
loạn khí sắc và lo âu khác, đồng thời nêu bật sự  
khác biệt đáng kể nhất về mặt lâm sàng giữa  
bệnh nhân trầm cảm có lo âu và trầm cảm hoặc  
lo lắng một mình.15  
Patient Experiences of Depression and Anxiety  
with Chronic Disease: ASystematic Review and  
Qualitative Meta - Synthesis. Ontario Health  
Technology Assessment Series. 2013;13(16):1  
- 33.  
Đau được tìm thấy ở 92,9% bệnh nhân trầm  
cảm trong nghiên cứu. Theo một phân tích tổng  
quan về trầm cảm và đau của Matthew và cộng  
sự tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm có triệu chứng đau  
dao động từ 15% đến 100%. Sự hiện diện của  
cơn đau ảnh hưởng tiêu cực đến việc nhận biết  
và điều trị bệnh trầm cảm. Khi cơn đau từ mức  
độ vừa đến nặng, làm suy giảm chức năng,  
nó có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm  
hơn và kết quả trầm cảm nặng hơn (ví dụ, chất  
lượng cuộc sống thấp hơn, giảm chức năng  
làm việc và tăng cường sử dụng dịch vụ chăm  
sóc sức khỏe).16  
3. Conde M. A, Hemmersbach - Miller M, L.  
B. J A. Prevalence of depressive symptoms in  
hospitalized elderly medical patients. Rev Esp  
Geriatr Gerontol. 2013;48(5):224 - 227.  
4. Kosana Stanetic, Mirko Stanetic, Sanja  
Jankovic. Prevalence of depression in patients  
with hypertension. International Journal of  
Medical and Health Research. 2017;3(2).  
5. Ashok V. G, S. S G. Prevalence of  
Depression among Hypertensive Patients  
AttendingaRuralHealthCentreinKanyakumari.  
National Journal of Community Medicine.  
2019;10(3):172 - 175.  
6. World Health Organization. The ICD –  
10 Classification of Mental and Behavioural  
Disorders: Clinical descriptions and diagnostic  
guidelines. Switzerland; 1992.  
V. KẾT LUẬN  
Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân trên 60 tuổi  
tăng huyết áp là 43,1%, mức độ trầm cảm nhẹ  
là 35,7%, tỷ lệ trầm cảm vừa và nặng cùng có tỷ  
lệ là 32,1%. Triệu chứng trầm cảm, giảm năng  
lượng hoặc mệt mỏi có tỷ lệ bệnh nhân than  
phiền nhiều nhất (100%), sau đó đến khí sắc  
trầm và rối loạn giấc ngủ (96,4%), mất quan  
tâm hoặc hứng thú (85,7%), giảm tập trung chú  
ý (82,1%) và và ý tưởng hoặc hành vi tự sát  
(28,6%). Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân trên  
60 tuổi tăng huyết áp có trầm cảm nhập viện  
gần 50%. Chúng tôi khuyến khích cần có kế  
hoạch tầm soát trầm cảm để phát hiện sớm và  
lên kế hoạch điều trị đầy đủ về thể chất cũng  
như tinh thần cho bệnh nhân.  
7. Li Z, LiY, Chen L, Chen P, HuY. Prevalence  
of Depression in Patients With Hypertension:  
A Systematic Review and Meta - Analysis.  
Medicine (Baltimore). 2015;94(31):e1317.  
8. Lewis L Judd, Pamela J Schettler, William  
Coryell, Hagop SAkiskal, Fiedorowicz JG. Overt  
irritability/anger in unipolar major depressive  
episodes: past and current characteristics  
and implications for long - term course. JAMA  
Psychiatry. 2013;70(11):1171 - 1180.  
9. Benjamin James Sadock, Virginia Alcott  
Sadock, Pedro Ruiz. Mood disorders. In:  
KAPLAN & SADOCK’S Synopsis of Psychiatry:  
Behavioral Sciences/Clinical Psychiatry. 11 ed.  
Philadelphia: Wolters Kluwer; 2015:327 - 387.  
10. Jessica A. Cooper, Amanda R.  
Arulpragasam, Michael T. Treadway. Anhedonia  
in depression: biological mechanisms and  
computational models. Current Opinion in  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hare DL, Toukhsati SR, Johansson P,  
Jaarsma T. Depression and cardiovascular  
disease: a clinical review. European Heart  
Journal. 2014;35(21):1365 - 1372.  
2. DeJean, M Giacomini, Vanstone M.  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
241  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Behavioral Sciences. 2018;22:128 - 135.  
11. Association AP. Depressive Disorder.  
In: Diagnostic and Statistical Manual of Mental  
Disorders. Arlington: American Psychiatric  
Association; 2013:155 - 188.  
variables. Indian J Psychiatry. 2005;47(4):225  
- 228.  
14. Hans - Peter Kapfhammer, Dipl Psych.  
Somatic symptoms in depression. Dialogues  
Clin Neurosci. 2006;8(2):227–239.  
15. Dawn F Ionescu, Mark J Niciu, Ioline  
12. Papakostas GI. Cognitive symptoms in  
patients with major depressive disorder and  
their implications for clinical practice. J Clin  
Psychiatry. 2014;75(1):8 - 14.  
D
Henter, Zarate CA. Defining anxious  
depression: a review of the literature. CNS  
Spectr. 2013;18(5):252 - 260.  
16. Matthew J Bair, Rebecca L Robinson,  
Wayne Katon, Kroenke K. Depression and pain  
comorbidity: a literature review. Arch Intern  
Med. 2003;163(20):2433 - 2445.  
13.A. S. Srivastava, Rakesh Kumar. Suicidal  
ideation and attempts in patients with major  
depression: Sociodemographic and clinical  
Summary  
THE PREVALENCE OF DEPRESSIVE DISORDER IN PATIENTS  
GREATER THAN 60 YEARS OLD WITH HYPERTENSION  
Depression and hypertension are two common chronic diseases and they are often closely  
related, especially in elderly patients. Survey of the prevalence and clinical features of depression  
disorder in the hypertensive elderly will provide a picture of this phenomenon. A cross-sectional  
study was performed on 65 patients diagnosed with depression based on ICD-10 diagnostic  
criteria. The average age of the study subjects is 74.9 ± 8.1, 78.5% are females. The prevalence  
of depression according to ICD-10 was 43.1%, with severe status (32.1%), moderate (32.1%) and  
mild (35.7%). In terms of symptoms, 100% of depressed patients experienced decreased energy or  
fatigue, followed by depressed mood and sleep disturbance (96.4%), loss of interest and enjoyment  
(85.7%), and suicidal ideas or behavior (28.6%). We encourage the need for a screening plan to  
detect depression early and to plan a complete physical and mental treatment for the patient group.  
Keywords: Depressive disorders, hypertension, patient over 60 years old.  
242  
TCNCYH 132 (8) - 2020  
pdf 10 trang yennguyen 20540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_roi_loan_tram_cam_o_benh_nhan_cao_tuoi_tang_huyet.pdf