Capacity of commune health stations to provide health care services for the elderly

Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 119-124  
INSTITUTE OF COMMUNITY HEALTH  
CAPACITY OF COMMUNE HEALTH STATIONS TO  
PROVIDE HEALTH CARE SERVICES FOR THE ELDERLY  
Nguyen Thi Thuy Nga1,*, Van Cong Man2  
1Hanoi University of Public Health  
2Health Centre at Can Duoc district, Long An province  
Received 22/03/2021  
Revised 29/03/2021; Accepted 03/04/2021  
ABSTRACT  
Increased life expectancy is one of the great achievements in socio-economic development in general  
and health care in particular. However, rapid aging of the population poses a great challenge to  
the health care system for the elderly, especially the grassroots level such as the commune health  
stations. This study aims to describe the capacity of commune health stations to provide Health care  
services for the elderly.  
The study applied the mixed method of quantitative and qualitative research. It conducted at 15  
medical stations and medical centers in Can Duoc district, Long An province, Vietnam.  
Study results show that the health stations are not ready to provide health care services for the  
elderly due to lack of health workers; Inadequate of drugs and equipment for screening, diagnosis  
and treatment of common chronic diseases in the elderly such as hypertension, diabetes, HPQ/  
COPD, cancer.  
Keyword: Commune Health Statioan, the elderly, health care service, capacity to provide.  
*Corressponding author  
Email address: [email protected]  
Phone number: (+84) 966 132 466  
119  
N.T.T. Nga et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 119-124  
SỰ SẴN SÀNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC  
KHOẺ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CÁC TRẠM Y TẾ  
Nguyễn Thị Thúy Nga1,*, Văn Công Mẫn2  
1Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội  
2Trung tâm Y tế huyện Cần Đước, tỉnh Long An  
Ngày nhận bài: 22 tháng 03 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày: 29 tháng 03 năm 2021; Ngày duyệt đăng: 03 tháng 04 năm 2021  
TÓM TẮT  
Tuổi thọ tăng là một trong những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chăm  
sóc sức khỏe nói riêng. Tuy nhiên, già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh đặt ra thách thức lớn hệ  
thống chăm sóc sức khỏe (CSSK) người cao tuổi (NCT), đặc biệt tuyến y tế cơ sở như các Trạm Y  
tế. Nghiên cứu này nhằm mô tả sự sẵn sàng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại  
trạm y tế.  
Nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính tại 15 trạm y tế và Trung tâm y tế huyện Cần Đước,  
tỉnh Long An, Việt Nam.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy các trạm y tế chưa sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK người cao tuổi do  
thiếu nhân lực y tế; chưa đảm bảo về thuốc, trang thiết bị (TTB) để khám sàng lọc, chẩn đoán và điều  
trị các bệnh bệnh mạn tính thường gặp ở người cao tuổi (NCT) như: Tăng huyết áp (THA), Đái tháo  
đường (ĐTĐ), Hen phế quả/Phổi tắc nghẽn mãn tính (HPQ/COPD) và ung thư.  
Từ khoá: Trạm Y tế, dịch vụ Y tế, người cao tuổi, sẵn sàng cung ứng.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
trở lên ở Việt Nam chiếm 11,9%, người từ 65 tuổi trở  
lên chiếm 7,9%. Dự báo khoảng 20 năm nữa, người  
trên 65 tuổi sẽ chiếm 14% dân số. Nhiều NCT đang  
phải đối diện với gánh nặng “bệnh tật kép”, trung bình  
mỗi NCT mắc 2,7 bệnh mãn tính [2]. NCT phải đối  
diện với nguy cơ tàn phế do quá trình lão hóa và chi phí  
điều trị lớn [3].  
Đại hội thế giới về NCT tại Viên (1982) đã thống nhất:  
công dân từ 60 tuổi trở lên được xếp vào nhóm NCT.  
Tại Việt Nam, Quốc hội ban hành Pháp lệnh Người cao  
tuổi (4/2000) và Luật Người cao tuổi (11/2009) quy  
định những người từ 60 tuổi trở lên (không phân biệt  
giới tính) là NCT [1].  
Để sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK NCT, Tổ chức  
Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng gói can thiệp thiết  
Kết quả tổng điều tra dân số năm 2019 cho thấy, tuổi  
thọ trung bình của người Việt Nam là 73,6 tuổi (nam là yếu phòng chống BKLN (WHO-PEN) [4] thường gặp ở  
71 tuổi; nữ là 76,3 tuổi). Hiện nay, số người từ 60 tuổi NCT như như: THA, ĐTĐ, HPQ/COPD, ung thư.  
*Tác giả liên hệ  
Điện thoại: (+84) 966 132 466  
120  
N.T.T. Nga et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 119-124  
Hiện tại, có rất ít tài liệu nghiên cứu về sự sẵn sàng Phương pháp kết hợp giữa định lượng (phát phiếu tự  
điền cho cán bộ y tế phiếu quan sát trực tiếp cơ sở vật  
chất, thuốc, trang thiết bị theo bảng kiểm) và định tính  
(PVS với 1 giám đốc TTYT; 15 trưởng TYT xã và TLN  
với 24 người cao tuổi và các bên liên quan tại 3 xã).  
cung cấp dịch vụ CSSK NCT trên thế giới cũng như ở  
Việt Nam. Sự sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK NCT  
là năng lực tổng thể của các CSYT có thể cung cấp  
các dịch vụ CSSK cho NCT. Mức độ sẵn sàng được đo  
lường bằng mức độ sẵn sàng của các cấu phần cơ bản  
để cung cấp dịch vụ như: Nhân lực, CSVC cơ bản, TTB  
cơ bản, các quy định về cung cấp dịch vụ CSSK, năng  
lực chẩn đoán và thuốc thiết yếu [4].  
2.3. Công cụ nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ SARA của Tổ chức Y  
tế thế giới, đã được điều chỉnh cho phù hợp với mục  
tiêu và bối cảnh nghiên cứu tại địa phương. Bộ công  
cụ bao gồm những nội dung chính sau: Sự sẵn có về  
nhân lực; truyền thông giáo dục CSSK NCT; dịch vụ  
chăm sóc sức khoẻ (sàng lọc, tư vấn, chẩn đoán, điều  
trị); thuốc thiết yếu và trang thiết bị tại 15 trạm y tế và  
1 TTYT.  
Do vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả sự  
sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK NCT của hệ thống  
YTCS từ đó đưa ra các khuyến nghị để cải thiện việc  
sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK NCT.  
2.4. Đạo đức của nghiên cứu  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của  
Trường Đại học Y tế Công cộng xem xét, phê chuẩn  
theo sự chấp thuận số 276/2020/YTCC-HD3, ngày  
01/87/2020 của Hội đồng đạo đức trong NCYSH.  
2.1. Thiết kế và địa điểm nghiên cứu:  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại 15 trạm y tế và Trung  
tâm y tế huyện Cần Đước, tỉnh Long An, Việt Nam.  
Tổng dân số tại huyện Cần Đước là 194 130, có 29 584  
người cao tuổi (tỷ lệ 15,23%).  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Nhân lực tại Trạm Y tế  
2.2. Phương pháp thu thập số liệu  
Bảng 1: Tình hình nhân lực tại 15 TYT xã  
Đặc điểm  
STT  
1
n
206  
88  
118  
88  
6
%
Tổng số cán bộ y tế  
CBYT tại TYT xã  
Y tế thôn bản  
100  
42,7  
57,3  
100  
6,8  
2
Trình độ chuyên môn  
Bác sĩ đa khoa  
Bác sĩ chuyên khoa I  
3
3,4  
Điều dưỡng đại học/cao đẳng  
Y sĩ đa khoa  
2
2,3  
10  
6
11,4  
6,8  
Y sĩ sản nhi  
Y sĩ y học cổ truyền  
Hộ sinh trung học  
KTV, điều dưỡng trung học  
Dược sĩ trung học  
Khác.........  
10  
11  
14  
14  
12  
11,4  
12,5  
15,9  
15,9  
13,6  
121  
N.T.T. Nga et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 119-124  
90% nhân viên y tế xã có trình độ trung cấp, trình độ cao các TYT xã phối hợp với TTYT huyện thực hiện sàng  
đẳng; trình độ đại học chiếm một tỷ lệ rất thấp (khoảng  
10%). Kết quả NC cho thấy nguồn nhân lực y tế xã còn  
thiếu so với chỉ tiêu biên chế quy định1 là 47 biên chế.  
lọc trong cộng đồng bệnh ĐTĐ qua khám sức khỏe  
định kỳ cho NCT mỗi năm một lần. Về chẩn đoán bệnh  
ĐTĐ thì tất cả các TYT xã chưa thực hiện được và chủ  
yếu tiếp tục điều trị theo chẩn đoán và hướng điều trị  
của tuyến trên.  
Các TYT đều có CBCT quản lý chung các bệnh mạn  
tính thường gặp của NCT. Tuy nhiên, tỷ lệ số CBYT  
xã đã tham gia tập huấn một số bệnh thường gặp của  
người cao tuổi khá thấp: THA và ĐTĐ là 22,7%;  
HPQ/ COPD (18,2%) và bệnh ung thư thấp nhất với  
tỷ lệ 9,1%. Cán bộ phụ trách chương trình TYT xã cho  
biết rằng: “...Việc tham gia tập huấn các bệnh mạn  
tính ꢀ NCT còn hạn chế do thiếu nguồn nhân lực...”  
(PVS 1,4,5,7, 8,15, TYT).  
Có 93,3% TYT xã thực hiện tư vấn bệnh nhân ĐTĐ  
đến khám định kỳ tại TYT xã, hướng dẫn về chế độ  
ăn uống, sinh hoạt, tuân thủ chế độ điều trị, theo dõi  
đường huyết, theo dõi biến chứng, tăng cường hoạt  
động thể lực.  
Trong 15 TYT xã có 11 TYT (chiếm tỷ lệ 73,3%) thực  
hiện báo cáo, theo dõi, quản lý bệnh ĐTĐ theo quy  
định. Cập nhật đầy đủ các thông tin liên quan vào hồ sơ  
quản lý bệnh nhân.  
3.2. Truyền thông giáo dục CSSK NCT  
Kết quả cho thấy các TYT xã đã triển khai hoạt động  
truyền thông, giáo dục sức khoẻ trong phòng, chống  
bệnh mạn tính thường gặp: 15 TYT xã thực hiện truyền  
thông phòng, chống bệnh THA (100%); 13 TYT xã  
thực hiện phòng, chống bệnh ĐTĐ (86,6%); 10 TYT xã  
thực hiện truyền thông phòng, chống bệnh HPQ/COPD  
(66,6%); 12 TYT xã thực hiện truyền thông phòng,  
chống bệnh ung thư CTC/vú có (80%). Tất cả các TYT  
xã đều không triển khai các mô hình nâng cao sức khỏe  
tại cộng đồng.  
Đối với bệnh HPQ/COPD thì có 100% các TYT xã chỉ  
khám và phát hiện đối với NCT trực tiếp đến TYT vì lý  
do sức khỏe, chưa thực hiện khám sàng lọc phát hiệm  
sớm tại cơ sở và trong cộng đồng. Về hoạt động chẩn  
đoán và điều trị bệnh HPQ/COPD thì 100% các TYT  
chẩn đoán HPQ/COPD dựa vào tiền sử bản thân, gia  
đình và triệu chứng lâm sàng.  
Đối với bệnh ung thư thì 100% TYT xã có khám sàng  
lọc phát hiện sớm ung thư CTC bằng kỹ thuật test Via  
nhưng đối tượng còn hạn chế vì chỉ thực hiện được ở  
những NCT trực tiếp đến CSYT vì vấn đề sức khỏe và  
hoặc có triệu chứng liên quan; TYT xã chưa đủ điều  
kiện trang thiết bị, thuốc và năng lực chuyên môn để  
chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư CTC/vú. Về quản  
lý NCT bệnh ung thư thì chỉ có 47% TYT xã có danh  
sách những người bệnh đến TYT xã khám vì một lý do  
sức khỏe nào đó.  
Hình thức TTGDSK chủ yếu mà các TYT xã thực hiện  
là tư vấn trực tiếp khi bệnh nhân đến khám tại TYT xã  
và truyền thông trên hệ thống loa đài.  
3.3. Sự sẵn có những dịch vụ CSSK NCT  
Dịch vụ khám sàng lọc, tư vấn, điều trị  
TTYT huyện thực hiện khám sàng lọc, tư vấn, điều trị  
bệnh THA và ĐTĐ đối với NCT; khám sàng lọc phát  
hiện sớm ung thư CTC bằng test Via. TTYT huyện có  
hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân đến khám và điều trị  
bằng hệ thống phần mềm quản lý chung của TTYT,  
chưa có phần mềm quản lý riêng cho NCT.  
3.4. Sẵn có về thuốc thiết yếu cho CSSK NCT  
Đối với thuốc điều trị THA, tất cả 15 TYT xã đều sẵn  
có thuốc thuộc nhóm ức chế calci (Amlodipin hoặc  
Nifedipin) và ức chế men chuyển (Captopril); nhóm lợi  
tiểu (Furosemid) có 73,3% TYT xã sẵn có.  
Hoạt động khám sàng lọc bệnh THA được thực hiện  
tại 15/15 TYT xã khi người bệnh trực tiếp đến TYT  
và phối hợp với TTYT huyện thực hiện khám sàng lọc  
THA trong cộng đồng mỗi năm một lần trong đợt khám  
sức khỏe định kỳ cho NCT.  
Thuốc điều trị ĐTĐ nhóm Biguanid (Metformin)  
có 73,3% TYT xã sẵn có; nhóm Sulfonylure  
(Glibenclamide, Gliclazide) có 47%-60% TYT sẵn có;  
thuốc Insulin không sẵn có tại tất cả các TYT xã do quy  
Sàng lọc ĐTĐ được thực hiện ở 15 TYT xã. Tất cả các  
TYT xã có cán bộ, có máy xét nghiệm đường máu mao định về phân tuyến kỹ thuật tại tuyến xã không điều trị  
mạch được hiệu chỉnh theo quy định. Ngoài ra, 100%  
bệnh đái tháo đường tip 1.  
1 Thông tư số 08/2007 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ  
122  
N.T.T. Nga et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 119-124  
Thuốc điều trị HPQ/COPD bao gồm một số thuốc dãn trách và CBYT thôn (hỗ trợ những việc đơn giản và  
hướng dẫn người bệnh đi khám tại TYT xã) hoạt động  
tích cực.  
phế quản thuộc nhóm kích thích beta 2: Salbutamol  
dạng uống có 80% TYT xã sẵn có, dạng khí dung  
66,66% TYT xã sẵn có, dạng xịt có 20% TYT xã sẵn  
có; thuốc kháng viêm dạng uống (prednisolon) có  
80% TYT xã sẵn có, dạng tiêm mạch Hydrocortison,  
Methyl prednisolon lần lược là 86,66 và 73,33% TYT  
xã sẵn có.  
Cũng chính vì TYT xã thiếu CBYT, năng lực chưa  
đáp ứng được nhu cầu KCB, khiến người dân vượt lên  
tuyến trên, gây quá tải bệnh viện tuyến trên. Trước sự  
gia tăng của các bệnh mạn tính đối với NCT như THA,  
ĐTĐ, HPQ/COPD gây quá tải cho tuyến trên trong khi  
hoàn toàn có thể quản lý và điều trị tại TYT xã.  
Tất cả các loại thuốc điều trị THA, ĐTĐ, HPQ/COPD  
tại TYT thì được BHYT chi trả: “Trong danh mục trên  
đa số thuốc đều được BHYT chi trả, tuy nhiên cũng  
như tại TTYT huyện thuốc BHYT ꢀ TYT xã đôi lúc cũng  
thiếu ꢀ giai đoạn cuối thầu cũ và đầu thầu mới. Chính  
vì thuốc tại bệnh viện huyện thiếu nên dẫn đến cấp  
thuốc cho TYT cũng thiếu” (PVS 4,7,9,12).  
4.2. Truyền thông giáo dục CSSK NCT  
Nhìn chung, hoạt động TTGDSK tại TTYT huyện và  
các TYT xã vẫn chưa đáp ứng được với nhu cầu thực  
tế. Các hoạt động truyền thông còn rất hạn chế, chủ yếu  
là tư vấn trực tiếp khi KCB, TTGDSK qua loa, đài. Do  
không có kinh phí riêng cho hoạt động TTGDSK nên  
việc tổ chức truyền thông lưu động, các buổi truyền  
thông họp nhóm cộng đồng, các sự kiện văn hóa/thể  
thao, câu lạc bộ sức khỏe NCT chưa được triển khai.  
Kết quả này tương tự nghiên cứu về công tác truyền  
thông GD CSSK tại huyện Chí Linh, Hải Dương [7].  
3.5. Trang thiết bị y tế của TYT  
Tại các TYT xã, 100% TYT được trang bị các trang  
thiết bị đơn giản như thước đo chiều cao, thước đo vòng  
bụng, cân, nhiệt kế, ống nghe, máy phun khí dung, dụng  
cụ khám CTC, sử dụng cho KCB thông thường.  
4.3. Sự sẵn có những dịch vụ CSSK NCT (sàng lọc,  
tư vấn, chẩn đoán, điều trị)  
15 TYT xã (tỷ lệ 100%) có máy đo huyết áp, có 14 TYT  
xã (tỷ lệ 93,33%) có máy đo đường huyết mao mạch,  
tất cả các TYT xã (tỷ lệ 100%) thực hiện test Via bằng  
axit acetic, tuy nhiên các TYT xã cũng không sử dụng  
thường xuyên các kỹ thuật này.  
TTYT huyện cung cấp các dịch vụ khám sàng lọc, chẩn  
đoán, điều trị cho bệnh THA, ĐTĐ. Tuy nhiên, tại các  
TYT xã chưa sẵn sàng cung ứng các dịch vụ khám sàng  
lọc, chẩn đoán và điều trị và quản lý các bệnh mạn tính  
thường gặp đối với NCT do còn thiếu về nhân lực và  
TTB. Về quản lý các bệnh mạn tính thường gặp đối với  
NCT, TYT xã chỉ có danh sách bệnh nhân đến khám,  
không có hồ sơ để khám và tư vấn định kỳ. Theo kết  
quả NC của tác gỉa Nguyễn Thị Thắng (2015), có tới  
95% NCT có nhu cầu chữa bệnh, nhưng tính sẵn có  
dịch vụ chưa hoàn toàn được đáp ứng [8].  
Có 100% TYT có Axit Acetic làm kỹ thuật test Via tầm  
soát ung thu CTC, chỉ có 12/15 (80%) TYT xã có que  
thử đường huyết.  
4. BÀN LUẬN  
4.1. Nhân lực tại trạm y tế  
Sự sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK cho NCT phụ  
thuộc rất nhiều vào sự sẵn có nguồn nhân lực y tế có  
đủ trình độ và năng lực chuyên môn. Tuy nhiên, nguồn  
nhân lực tại TTYT huyện và các TYT xã đều thiếu số  
lượng, yếu về chất lượng. Kết quả này tương tự với  
nhận định tại Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2014  
về thực trạng thiếu cán bộ chuyên trách chương trình  
phòng chống BKLN [6].  
4.4. Sẵn có về TTB và thuốc thiết yếu cho CSSK NCT  
Các TYT xã đều không có TTB như máy đo điện tâm  
đồ (ECG), phế dung kế, máy đo mỡ máu, máy đo lưu  
lượng đỉnh, máy đo dung tích khi thở, máy siêu âm,  
máy xét nghiệm nước tiểu. Đây là những trang thiết bị  
rất cần thiết sử dụng cho khám phát hiện các bệnh mạn  
tính thường gặp của NCT, nhưng hoàn toàn chưa được  
trang bị và cung cấp cho TYT tuyến xã; sự không sẵn  
có của TTB y tế làm hạn chế khả năng cung cấp các  
dịch vụ về khám sàng lọc, phát hiện và chẩn đoán các  
bệnh mạn tính NCT tại các TYT xã hiện nay. Trong  
Số lượng NCT mắc các bệnh mạn tính ngày một gia  
tăng, tuy nhiên chỉ có 01 CBCT tại TTYT huyện và 01  
cán bộ chuyên trách tại mỗi TYT xã và tất cả chỉ làm  
công tác kiêm nhiệm. Hiện chưa có chế độ ưu đãi đặc nghiên cứu của Hoàng Văn Minh tại Đồng Hỷ, Thái  
thù riêng, nên không khuyến khích được cán bộ chuyên Nguyên, cho thấy TYT xã chưa có đầy đủ các TTB cơ  
123  
N.T.T. Nga et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 119-124  
bản để cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN theo như  
khuyến cáo của TCYTTG [9].  
National Survey on Elderly Vietnam VNAS 2011 -  
Main findings", Women Publishing House, Hanoi,  
2012. (in Vietnamese)  
Thuốc điều trị cho NCT tại TTYT huyện và thuốc  
cung cấp cho các TYT xã thường là BHYT chi trả. Tuy  
nhiên, thuốc BHYT thường xuyên xảy ra tình trạng  
thiếu chủng loại hoặc thiếu về số lượng nhất là vào giai  
đoạn cuối thầu cũ và đầu thầu mới. Nguyên nhân chủ  
yếu do danh mục thuốc BHYT không đủ chủng loại  
tại TYT xã (ví dụ không có các thuốc giãn phế quản  
dạng khí dung để sử dụng trong các trường hợp cấp  
cứu) do dự trù thuốc không sát với thực tế, không cung  
cấp được thuốc kịp thời theo nhu cầu điều trị; kết quả  
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huy tại Quốc Oai,  
Hà Nội, cũng đưa ra kết quả tương tự [10].  
[3] Thanh TT, Report on the current situation of  
Asthma in Vietnam 2010-2011. Bach Mai Hospital  
Hanoi, 2011. (in Vietnamese)  
[4] World Health Organization, Package of  
Essential Noncommunicable (PEN) Disease  
Interventions for Primary Health Car in Low-  
Resource Setting, 2010.  
[5] Ministry of Health, Joint Annual Health Review  
(JAHR) on strengthening prevention and control of  
non-communicable diseases, Medical Publishing  
House, Hanoi, 2014. (in Vietnamese)  
[6] Nga NTT, Report on Availability and several  
factors affecting prevention and control services  
for a number of non-communicable diseases in  
the grassroots health system Chi Linh town, Hai  
Duong, 2016. (in Vietnamese)  
5. KẾT LUẬN  
Để đảm bảo khả năng sẵn sàng cung cấp dịch vụ CSSK  
NCT tại trạm y tế, Nhà nước cần có chính sách chế độ  
đãi ngộ, khuyến khích bác sĩ về công tác tại TYT xã và  
chế độ khuyến khích cho các cán bộ chuyên trách theo  
dõi, quản lý sức khỏe NCT; ngoài ra, NSNN nên đầu  
tư kinh phí cho cơ sở hạ tầng, TTB và các hoạt động  
thường xuyên của TYT xã.  
[7] Thang NT, Situation and factors affecting the  
difference in the use of medical services in some  
provinces in the socio-economic regions of  
Vietnam in 2015, Master thesis at Hanoi Medical  
University, 2017. (in Vietnamese)  
[8] Minh HV, Young KD, Mary ACB, Describing the  
primary care system capacity for the prevention  
and management of non-communicable diseases  
in rural Vietnam. The International of Health  
Planning and Management. 2013.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] General Department of Population and Family  
Planning (2006), Status of Healthcare for the  
Elderly, Journal of Population and Development,  
Nov 2020.  
[9] Huy VN, Xuan HTA, Operational status of the  
health system in Quoc Oai district, Hanoi, 2015.  
Journal of Medical Research, 2015; 101: 71-16.  
(in Vietnamese)  
[2] Vietnam Women's Union, Report on "Vietnam  
124  
pdf 6 trang yennguyen 9860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Capacity of commune health stations to provide health care services for the elderly", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcapacity_of_commune_health_stations_to_provide_health_care_s.pdf