Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi tại vùng nông thôn khu vực phía Nam

Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE  
BAN ĐẦU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VÙNG NÔNG THÔN  
KHU VỰC PHÍA NAM  
Nguyễn Thúy Ngọc*, Nguyễn Ngọc Duy*  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Dân số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng trong những  
thập niên sắp tới. Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu các  
gánh nặng bệnh tật cho NCT. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về khả năng tiếp cận dịch vụ  
CSSKBĐ của NCT tại khu vực phía Nam.  
Mục tiêu: Xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT tại vùng nông thôn khu vực phía Nam.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến  
Tre vào năm 2013. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 520 NCT dựa trên bộ câu hỏi thiết kế  
sẵn và phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng là trưởng trạm và nhân viên trạm y tế xã. Số liệu được nhập bằng  
phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16; p <0,05 được chọn làm mức ý nghĩa thống kê.  
Kết quả: Có 27% NCT trên 80 tuổi và gần 70% là phụ nữ; 12,2% NCT mù chữ; 14,7% sống một mình;  
73,4% mắc ít nhất một bệnh mạn tính; 15,8% có hạn chế vận động và 79% gặp vấn đề về sức khỏe trong 4 tuần  
qua. Đối với việc sử dụng các dịch vụ CSSK, 34,3% NCT có đi khám sức khỏe tổng quát; 77,6% có khám theo dõi  
bệnh mạn tính, trong đó gần một nửa có theo dõi định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ; 30,7% đi khám khi có vấn  
đề về sức khỏe. Các yếu tố bao gồm trình độ học vấn, kiến thức về chăm sóc sức khỏe, thu nhập, bảo hiểm y tế, tự  
đánh giá tình trạng sức khỏe bản thân của NCT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc sử dụng các loại  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Kết quả khảo sát trạm y tế cho thấy các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT còn thiếu, chất  
lượng của các dịch vụ hiện có cũng không đáp ứng được một cách có hiệu quả do sự hạn chế về nguồn nhân lực,  
kinh phí, trang thiết bị và sự xuống cấp của một số cơ sở.  
Kết luận: Dịch vụ CSSKBĐ cho NCT thiếu cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng không nhỏ đến khả  
năng tiếp cận của NCT. Một số yếu tố trong đó trình độ học vấn và tình trạng bảo hiểm y tế có mối liên quan  
mạnh với việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT.  
Từ khóa: tiếp cận, dịch vụ CSSKBĐ, người cao tuổi, vùng nông thôn  
ABSTRACT  
ACCESS TO PRIMARY HEALTH CARE SERVICES BY OLDER PEOPLE IN RURAL AREAS  
OF SOUTHERN VIETNAM  
Nguyen Thuy Ngoc, Nguyen Ngoc Duy  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 500 – 506  
Background: The older population in Vietnam is projected to rapidly increase in the next decades. Primary  
health care (PHC) plays an important role in reducing disease burdens among older people. However, there have  
been few studies related on access to PHC services, especially by older people in southern Vietnam.  
Objectives: To measure the access to PHC services by older people and associated factors in rural areas of  
southern Vietnam.  
* Viện Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: Ths.Bs. Nguyễn Thúy Ngọc  
ĐT: 0989876176  
Email: nguyenthuyngoc@ihph.org.vn  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
500  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
Methods: A cross‐sectional study was conducted at Giong Trom district, Ben Tre province in 2013. The  
study included a quantitative survey with structured questionnaire on 520 elderly and a qualitative interview on  
the heads and healthcare staff of four commune health stations. Epidata 3.1 software was used for data entry and  
SPSS16 was applied for data analysis. p <0.05 was considered as a statistical significance.  
Result: The propotion of older people in the age of 80 and above was 27%. Nearly 70% of older people were  
female, 12.2% were illiteracy, 14.7% were living alone, 73.4% had suffered from at least one chronic disease,  
15.8% had somelimitations in their daily activities,and 79% had health troubles within the last four weeks.In  
terms of the utilisation of health care services, 34.3% of older people had general examination, 77.6% had chronic  
disease follow‐up examination of those nearly half used the examination regularly, and 30.7%used health  
examination services when having health troubles. Factors including educational levels, knowledge on health care,  
income, health insurance, self‐evaluated health status of older people were significantly associated with the  
utilisation of health care services. Results from commune health station surveys showed that PHC services for  
older peole were inadequate and the quality of available services were low as a result of limitations of personnel,  
infrastructure and financial resources at several commune health stations.  
Conclusion: PHC services for older peole were inadequate in terms of both quantity and quality. That might  
influence the access to health care services by older people. Some associated factors were found in which  
educational levels and health insurance status had strongly significant associations with the use of health care  
services by older peole.  
Keywords: access, primary health care, older people, rural areas  
16/2009‐L‐CTN quy định CSSKBĐ là một trong  
những chiến lược chăm sóc hàng đầu để nâng  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Dân số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam  
ngày càng gia tăng nhanh chóng trong những  
thập niên gần đây. Tỷ lệ NCT (từ 60 tuổi trở  
lên) chỉ vào khoảng 7,3% vào năm 1990 đã  
tăng lên 8,4% vào năm 2010 và ước tính lên  
(
)
cao sức khỏe NCT 7 . Luật này đã quy định rõ  
trách nhiệm của trạm y tế xã trong việc cung cấp  
các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT bao gồm truyền  
thông, giáo dục sức khỏe; quản lý hồ sơ sức  
khỏe; khám sức khỏe định kỳ (phối hợp với  
bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện); chăm sóc  
sức khỏe tại nhà cho NCT già yếu, tàn tật; và  
được ưu tiên khi khám bệnh tại trạm.  
(
)
đến 18,3% vào năm 2030 6 . Việc di chuyển số  
người trong độ tuổi lao động từ nông thôn ra  
thành thị đã làm tăng tỷ lệ NCT sống ở vùng  
nông thôn và NCT sống neo đơn. Bên cạnh đó,  
trên 2/3 số NCT sống tại các khu vực nông  
thôn có trình độ học vấn thấp, điều kiện sống  
còn nhiều thiếu thốn, và mắc các bệnh mạn  
tính như tim mạch, tăng huyết áp, các bệnh về  
mắt, cơ xương khớp cũng như các bệnh phổi  
Cho đến nay, một số nghiên cứu về khả  
năng tiếp cận với dịch vụ CSSKBĐ được thực  
hiện tại Việt Nam trên nhóm dân số nói chung  
đã cho thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ CSSKBĐ còn  
thấp. Nguyên nhân chủ yếu cản trở người dân  
tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ chính là chất lượng  
(1,3)  
mạn tính . Điều này làm cho nhóm dân số  
(
, )  
dịch vụ còn thấp 56 . Trước thực trạng trên và  
trong bối cảnh Luật người cao tuổi được ban  
hành và có hiệu lực từ năm 2010, chúng tôi tiến  
hành nghiên cứu này.  
NCT ở nông thôn trở nên dễ tổn thương hơn  
so với các nhóm dân số khác.  
Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng  
vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu  
gánh nặng bệnh tật của NCT. CSSKBĐ ước tính  
có thể giảm tới 70% gánh nặng bệnh tật toàn  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ  
của NCT tại vùng nông thôn và các yếu tố liên  
(
)
cầu 8 .Nhận thức được điều này, chính phủ Việt  
Nam đã ban hành Luật Người Cao Tuổi số  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
501  
Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
2
quan. Mục tiêu cụ thể: (1) Xác định các đặc điểm  
dân số học, tình trạng sức khỏe và kiến thức về  
chăm sóc sức khỏe của NCT; (2) Xác định khả  
năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT trên ba  
khía cạnh: khả năng sẵn có, khả năng chi trả và  
khả năng chấp nhận; và (3) Xác định các yếu tố  
liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ  
CSSKBĐ của NCT.  
điểm của NCT, sử dụng phép kiểm χ hoặc  
Fisher’s exact test. P <0,05 được chọn làm mức  
ý nghĩa thống kê.  
KẾT QUẢ‐BÀN LUẬN  
Đặc điểm dân số xã hội học của đối tượng  
tham gia nghiên cứu  
Bảng 1:Đặc điểm dân số xã hội học của NCT  
Kết quả  
ĐỐITƯỢNG‐PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đặc điểm của đối tượng  
n
%
Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến hành tại  
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào tháng 1  
năm 2013. Nghiên cứu sử dụng phương pháp  
khảo sát định lượng trên 520 NCT được lựa chọn  
theo phương pháp lấy mẫu phân tầng hai bậc tại  
bốn xã trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, phương  
pháp khảo sát định tính cũng được sử dụng  
trong nghiên cứu để tìm hiểu về sự sẵn có của  
các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT tại trạm y tế xã  
cũng như những thuận lợi/khó khăn khi triển  
khai/không triển khai các dịch vụ này.  
Tuổi (N=520)  
60-69  
218  
156  
146  
42,3  
30,7  
27,0  
70-79  
80+  
Giới (N=520)  
Nam  
156  
364  
30,7  
69,3  
Nữ  
Trình độ học vấn (N=518)  
Mù chũ  
63  
229  
138  
88  
12.2  
44.2  
26,6  
17,0  
Có học  
Tiểu học  
≥ THCS  
Dân tộc (N=516)  
Kinh  
Khảo sát định lượng sử dụng bộ câu hỏi  
thiết kế sẵn bao gồm các câu hỏi về đặc điểm  
dân số xã hội học, kiến thức về chăm sóc sức  
khỏe, tình trạng sức khỏe (có bệnh mạn tính, hạn  
chế vận động, có các vấn đề sức khỏe trong 4  
tuần qua), tình trạng sử dụng các dịch vụ chăm  
sóc sức khỏe (khám sức khỏe tổng quát, khám  
theo dõi bệnh mạn tính, khám theo dõi bệnh  
mạn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ  
và khám khi có các vấn đề về sức khỏe) và tình  
trạng bảo hiểm y tế. Khảo sát định tính sử dụng  
bộ câu hỏi mở để phỏng vấn sâu các nhóm đối  
tượng là trưởng trạm y tế và nhân viên của trạm.  
Ngoài ra, một bảng kiểm được sử dụng để khảo  
sát về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trạm y  
tế trong nghiên cứu.  
510  
6
99  
1
Khác  
Tôn giáo (N=518)  
Không  
241  
221  
44  
46,5  
42,7  
8,5  
Đạo Phật  
Hoà Hảo  
Khác  
12  
2,3  
Tình trạng hôn nhân (N=516)  
Độc thân  
24  
241  
3
4,7  
46,7  
0,6  
Lập gia đình  
Ly dị/ly thân  
Goá chồng/goá vợ  
Tình trạng sống (N=518)  
Một mình  
248  
48,0  
76  
69  
14,7  
13,3  
3,5  
Với vợ/chồng  
Với cháu  
18  
Khác  
355  
68,5  
Số liệu sau khi được thu thập được nhập  
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng  
phần mềm SPSS16. Thống kê mô tả bao gồm  
bảng phân phối tần suất đối với biến định tính  
và trung bình và độ lệch chuẩn đối với biến  
định lượng. Để kiểm tra mối liên quan giữa  
khả năng sử dụng dịch vụ CSSKBĐ và các đặc  
Tình trạng lao động (N=518)  
Không làm gì  
Nội trợ  
257  
62  
49,6  
12,0  
22,2  
16,2  
Làm nghề nông  
Làm việc khác  
Thu nhập/trợ cấp(N=518)  
Có  
115  
84  
372  
72,0  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
502  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
Kết quả  
bản thân tốt hoặc rất tốt; 46% là trung bình và  
31% là kém hoặc rất kém.  
Bảng 2: Tình trạng sức khỏe của NCT  
Đặc điểm của đối tượng  
n
139  
7
%
Không  
Không trả lời  
26,8  
1,2  
Kết quả  
Nguồn thu nhập/trợ cấp (N=373)  
Lương hưu  
Biến số  
n
%
21  
148  
96  
5,6  
39,7  
25,7  
44,5  
0,2  
Bệnh mạn tính (N=518)  
Thu nhập từ công việc đang làm  
Tiền con/cháu cho  
Tiền bảo trợ xã hội  
Khác  
Có ít nhất một bệnh  
Không có/không biết  
380  
138  
73,4  
26,6  
166  
1
Loại bệnh mạn tính (N=380)  
CHA  
194  
167  
109  
55  
51,1  
43,9  
28,7  
14,5  
7,9  
Tổng thu nhập/trợ cấp mỗi tháng  
Xương khớp  
Tim mạch  
(N=362)  
< 500.000 đồng  
500.000 - < 1.000.000 đồng  
1.000.000 - < 2.000.000 đồng  
2.000.000 VND- <3.000.000 đồng  
≥ 3.000.000 đồng  
113  
76  
31,2  
21,0  
30,1  
12,4  
5,2  
Hô hấp mạn tính/suyễn  
Đái tháo đường  
Thần kinh  
30  
109  
45  
27  
7,1  
Khác  
95  
25,0  
19  
Thời gian mắc bệnh (N=380)  
Có thẻ bảo hiểm y tế (N=518)  
Loại thẻ bảo hiểm y tế (N=432)  
Được cấp miễn phí  
435  
84  
< 1 năm  
46  
166  
167  
1
12,1  
43,7  
43,9  
0,3  
1 -5 năm  
> 5 năm  
269  
163  
62,3  
37,7  
Tự mua  
Không trả lời  
Trong 520 NCT tham gia nghiên cứu, có 27%  
NCT trên 80 tuổi và gần 70% là phụ nữ. Nhóm  
đối tượng này chính là những nhóm dễ bị tổn  
thương hơn so với các nhóm tuổi khác. Theo số  
liệu của Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bến Tre, sự phân  
bố tuổi và giới của NCT trong nghiên cứu này  
đại diện cho dân số NCT chung của tỉnh. Ngoài  
hai yếu tố tuổi và giới, một số đặc điểm khác của  
NCT trong nghiên cứu được phân bố như sau:  
83% NCT có trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống;  
gần 100% là người Kinh; 48% đã mất vợ/chồng;  
khoảng 32% sống một mình hoặc sống với  
vợ/chồng hoặc sống với cháu. Hơn 50% NCT  
vẫn đang làm việc và gần 40% có thu nhập từ  
công việc đang làm. Tỷ lệ NCT có thẻ bảo hiểm y  
tế là 84% trong đó 2/3 là thẻ bảo hiểm y tế miễn  
phí được cấp cho NCT.  
Hạn chế vận động (N=518)  
Có  
Không  
82  
15,8  
84,2  
436  
Các loại vận động bị hạn chế (N=82)  
Đi lại  
Tắm rửa  
75  
45  
35  
27  
23  
91,5  
54,9  
42,7  
32,9  
28,0  
Đi vệ sinh  
Mặc/cởi quần áo  
Ăn uống  
Mức độ hạn chế (N=81)  
Nhẹ  
20  
51  
10  
24,4  
62,2  
12,2  
Vừa  
Nặng  
Vấn đề sức khỏe trong 4 tuần qua (N=518)  
Có  
409  
109  
79,0  
21,0  
Không  
Các triệu chứng gặp phải (N=409)  
Nhức đầu  
Đau lưng/đau khớp  
Mệt mỏi  
Ho  
255  
193  
185  
121  
66  
62,3  
47,2  
45,2  
29,6  
16,1  
13,7  
23,9  
Tình trạng sức khỏe của đối tượng tham  
gia nghiên cứu  
Tỷ lệ NCT mắc ít nhất một bệnh mạn tính là  
73%, bị hạn chế trong một số hoạt động là 16%  
và có các vấn đề về sức khỏe trong 4 tuần qua là  
gần 80%. Khi được hỏi về tình trạng sức khỏe  
của bản thân, 23% NCT tự đánh giá sức khỏe  
Sốt  
Khó thở  
56  
Khác  
98  
Mức độ triệu chứng (N=407)  
Nhẹ  
Vừa  
201  
155  
49,1  
37,9  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
503  
Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
Kết quả  
các hoạt động CSSKBĐ cho NCT; một số thậm  
chí còn không biết về Luật Người cao tuổi.  
Bảng 4:Tình hình sử dụng dịch vụ CSSKBĐ của  
Biến số  
Nặng  
n
%
52  
12,7  
Kiến thức về chăm sóc sức khỏe của đối  
tượng tham gia nghiên cứu  
Bảng 3:Kiến thức về chăm sóc sức khỏe của NCT  
NCT  
Kết quả  
Biến số  
n
%
Khám sức khỏe định kỳ (N=516)  
Kết quả  
Có  
177  
339  
34,3  
65,7  
số  
Biến  
n
%
Không  
Có kiến thức  
Không có kiến thức  
Tổng  
179  
339  
518  
34,6  
65,4  
100  
Khám theo dõi bệnh mạn tính (N=379)  
Có  
294  
85  
77,6  
22,4  
Không  
Khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ (N=380)  
Trong nghiên cứu này, NCT có kiến thức  
được định nghĩa là khi biết ít nhất một phương  
pháp nâng cao sức khỏe hoặc phòng ngừa bệnh  
mạn tính. Chỉ có 1/3 NCT biết một số loại thực  
phẩm tốt cho việc phòng ngừa bệnh mạn tính  
như cao huyết áp, đái tháo đường hoặc biết cách  
nâng cao sức khỏe như tập dưỡng sinh.  
Có  
187  
193  
49,2  
50,8  
Không  
Khám khi có vấn đề về sức khỏe (N=409)  
Có  
159  
250  
30,7  
48,3  
Không  
Khi phỏng vấn NCT về tình hình sử dụng  
dịch vụ CSSKBĐ, kết quả cho thấy có khoảng  
1/3 số NCT đi khám sức khỏe ít nhất 1 lần  
trong vòng 1 năm qua. Trong số NCT mắc  
bệnh mạn tính có 77,6% sử dụng dịch vụ khám  
theo dõi bệnh mạn tính và gần một nửa trong  
số này sử dụng dịch vụ khám theo dõi bệnh  
mạn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sĩ.  
Trong số NCT có vấn đề về sức khỏe như nhức  
đầu, chóng mặt, đau lưng…trong vòng 4 tuần  
qua thì chỉ có 30,7% đến cơ sở y tế để khám  
bệnh. Cơ sở y tế họ đến khám chủ yếu là bệnh  
viện đa khoa tỉnh và huyện.  
Thực trạng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của  
NCT  
Kết quả khảo sát trạm y tế cho thấy các dịch  
vụ CSSKBĐ dành cho NCT theo như quy định  
tại Luật Người cao tuổi còn thiếu cả về số lượng  
và chất lượng. Khám chữa bệnh là hoạt động  
chủ yếu của các trạm y tế. Tuy nhiên, không có  
hoạt động khám chữa bệnh nào dành riêng cho  
NCT và chỉ có một trong số bốn trạm y tế có  
dành ưu tiên cho NCT khi khám chữa bệnh tại  
trạm. Vấn đề truyền thông và giáo dục sức khỏe  
cũng như hướng dẫn các kỹ năng chăm sóc sức  
khỏe, phòng ngừa bệnh tật có được tiến hành tại  
các trạm y tế nhưng không thường xuyên. Các  
hoạt động khác như chăm sóc sức khỏe tại nhà,  
quản lý và theo dõi hồ sơ sức khỏe và khám sức  
khỏe định kỳ không được triển khai thực hiện.  
Nguyên nhân chính của việc thiếu về số lượng  
và kém về chất lượng của các dịch vụ này là do  
các trạm y tế bị hạn chế về nguồn nhân lực cũng  
như kinh phí hoạt động; họ không có nhân viên  
chuyên trách, không đủ thuốc, trang thiết bị,  
không được cấp kinh phí để triển khai hoạt  
động. Ngoài ra, nhiều nhân viên y tế không thấy  
được trách nhiệm của họ trong việc tiến hành  
Các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận  
dịch vụ CSSKBĐ của NCT  
Việc thiếu các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT cả  
về số lượng và chất lượng của trạm y tế xã được  
xem như là rào cản chính cho NCT tiếp cận với  
các dịch vụ. Khi được hỏi về mong muốn của  
bản thân trong việc chăm sóc sức khỏe, nhiều  
NCT đã trả lời rằng họ muốn được khám sức  
khỏe định kỳ ít nhất một lần trong một năm; một  
số người mong được nhân viên y tế hướng dẫn,  
tư vấn về cách chăm sóc sức khỏe; môt số muốn  
được khám chữa bệnh tại nhà; một số muốn  
được khám và phát thuốc miễn phí…Bên cạnh  
đó, một số NCT nói rằng họ sẽ không sử dụng  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
504  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế mà sẽ tới  
các cơ sở y tế khác vì họ không tin tưởng vào  
chất lượng dịch vụ.  
việc khám theo dõi các bệnh mãn tính định kỳ  
hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ. Trên 40% NCT tự  
đánh giá sức khỏe của mình kém có sử dụng hai  
loại dịch vụ nêu trên, cao hơn hơn 10% so với  
nhóm tự đánh giá sức khỏe bình thường hoặc tốt  
(p <0,01). Sự khác biệt này có thể là do nhóm tự  
đánh giá sức khỏe của mình kém là nhóm đang  
có bệnh mạn tính nên họ sẽ thường xuyên đi  
khám và theo dõi tình hình bệnh tật hơn là các  
nhóm còn lại.  
Trong nghiên cứu này, các yếu tố có mối liên  
quan đến việc sử dụng dịch vụ khám theo dõi  
bệnh mạn tính định kỳ là yếu tố có kiến thức về  
nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và có  
thẻ bảo hiểm y tế. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ này là  
59,5% ở nhóm NCT có kiến thức so với 39,5% ở  
nhóm không có kiến thức (p <0,05); gần 81% ở  
nhóm có thẻ bảo hiểm y tế so với khoảng 56% ở  
nhóm không có (p <0,001). Yếu tố có kiến thức  
và có thẻ bảo hiểm y tế có thể được xem như là  
một yếu tố thúc đẩy NCT sử dụng dịch vụ khám  
theo dõi bệnh mãn tính định kỳ.  
Các yếu tố trình độ học vấn và thu nhập của  
NCT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với  
việc sử dụng các dịch vụ khám sức khỏe tổng  
quát và khám khi có các vấn đề về sức khỏe.  
Nhóm NCT không đi học có tỷ lệ sử dụng các  
dịch vụ khám sức khỏe tổng quát thấp hơn hẳn  
(26,2%) so với nhóm đã học xong cấp 1 (44,2%)  
và nhóm có trình độ từ cấp 2 trở lên (45.5%) (p  
<0,001). Tương tự, nhóm NCT không đi học đi  
khám khi có vấn đề về sức khỏe cũng thấp hơn  
so với 2 nhóm còn lại (p <0,05). Đối với yếu tố  
thu nhập, khi xét 2 nhóm có thu nhập và không  
có thu nhập nói chung thì tỷ lệ NCT có thu nhập  
sử dụng các dịch vụ nêu trên thấp hơn so với  
nhóm không có thu nhập. Tuy nhiên, khi xét  
theo nguồn thu nhập thì tỷ lệ NCT có thu nhập  
từ lương hưu sử dụng dịch vụ khám sức khỏe  
tổng quát cao gần gấp đôi nhóm không có thu  
nhập và ngược lại tỷ lệ NCT có thu nhập từ công  
việc đang làm ít sử dụng dịch vụ hơn nhóm còn  
lại. Điều này có thể lý giải rằng đối tượng NCT  
có thu nhập từ lương hưu là những người đã  
từng làm việc cho các đơn vị nhà nước, thường  
có nhận thức về tầm quan trọng của việc khám  
sức khỏe tổng quát cao hơn các đối tượng khác;  
NCT có thu nhập từ công việc đang làm ít đi  
khám bệnh hơn có thể do họ cảm thấy sức khỏe  
tốt hơn hoặc họ không có thời gian để đi kiểm  
tra sức khỏe. Tổng thu nhập hàng tháng cũng có  
mối liên quan với sử dụng dịch vụ trong đó  
NCT có thu nhập ≥ 3 triệu đồng sử dụng dịch vụ  
cao hơn so với các nhóm có thu nhập khác. Điều  
này dễ lý giải khi người giàu có hoặc khá giả sẽ  
có nhiều cơ hội để sử dụng dịch vụ sức khỏe  
hơn so với người nghèo, và họ cũng thường có  
trình độ học vấn và nhận thức về chăm sóc sức  
khỏe tốt hơn.  
Khi có các vấn đề về sức khỏe, yếu tố tự  
đánh giá mức độ của triệu chứng (nặng, vừa,  
nhẹ) có mối liên quan mạnh với việc đi khám  
bệnh hay để các triệu chứng tự qua đi. Tỷ lệ đi  
khám khi có các vấn đề về sức khỏe ở nhóm tự  
đánh giá mức độ của vấn đề là nhẹ là 24,4%; vừa  
là 50,3% và nặng là 61,5%. Sự khác biệt này có ý  
nghĩa thống kê với p <0,001.  
KẾT LUẬN  
Các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT tại trạm y tế  
thiếu cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng  
tới khả năng tiếp cận của NCT; trình độ học vấn  
và kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa  
bệnh tật có mối liên quan với việc sử dụng các  
dịch vụ khám sức khỏe tổng quát và khám theo  
dõi bệnh mạn tính định kỳ; nhóm NCT có lương  
hưu hoặc thu nhập trên 3 triệu/tháng có khả  
năng sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tổng quát  
cao hơn các nhóm khác; nhóm NCT tự đánh giá  
sức khỏe bản thân kém có khả năng đi khám sức  
khỏe tổng quát và khám theo dõi bệnh mạn tính  
Bên cạnh các yếu tố về trình độ học vấn và  
thu nhập, yếu tố tự đánh giá tình trạng sức khỏe  
của bản thân cũng có mối liên quan có ý nghĩa  
thống kê với việc khám sức khỏe tổng quát và  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
505  
Nghiên cứu Y học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  
định kỳ cao hơn các nhóm khác; tỷ lệ nhóm NCT  
đi khám bệnh khi có vấn đề về sức khỏe ở nhóm  
tự đánh giá mức độ của vấn đề là vừa và nặng  
cao hơn ở nhóm chỉ cảm thấy ở mức độ nhẹ; tình  
trạng có kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng  
ngừa bệnh tật và tình trạng có bảo hiểm y tế có  
mối liên quan chặt chẽ với việc sử dụng dịch vụ  
khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hoi LV, Chuc NTK, Lindholm L (2010). Health‐related quality  
of life and its determinants, among older people in rural  
Vietnam. BMC Public Health, 10.354‐367.  
2. IFA (2008). Vietnam summary report: Looking after and  
Accessed on 3 November 2012  
3. Ninh HT, Nhat PD, et al. (2010). Health and nutritional status  
and related factors of elderly people in urban and rural areas in  
Southern provinces in 2010. Bulletin on Social Determinants of  
Health, 2, 48‐56.  
KIẾN NGHỊ  
4. Tam DTM, Nhat PD, et al. (2010). Utilization of healthcare  
services in urban and rural areas in Can Tho city and Hau  
Giang provinces, 2010. Bulletin on Social Determinants of  
Health. 2, 48‐56  
Chính phủ nên xem xét và đưa hoạt động  
CSSKBĐ cho NCT trở thành một chương trình  
mục tiêu y tế quốc gia. Chính quyền địa phương  
cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể để  
tạo điều kiện cho các trạm y tế triển khai các dịch  
vụ CSSKBĐ cho NCT, đồng thời dành ngân sách  
riêng cho các hoạt động này hàng năm. Ngoài ra,  
việc nâng cao nhận thức cho nhà quản lý và  
nhân viên y tế về trách nhiệm thực hiện các hoạt  
động CSSKBĐ cho NCT cần được thực hiện  
sớm. Trong các nghiên cứu tiếp theo, cần tập  
trung hơn vào nhóm NCT thuộc các dân tộc  
thiểu số vì đây là nhóm có trình độ học vấn thấp  
nhất và nghèo nhất ở Việt Nam. Bên cạnh đó,  
những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa khiến  
cho các nhóm dân tộc thiểu số trở thành nhóm  
dễ bị tổn thương và cần được quan tâm hơn  
trong việc chăm sóc sức khỏe.  
5. Thuan, NTB, Lofgren C, Lindholm L, Chuc NTK (2008). Choice  
of healthcare provider following reform in Vietnam. BMC  
Health  
Services  
Research,  
8.  
162.pdf. Accessed on April 15, 2012.  
6. UN  
(2010). On‐line database:  
Detailed indicators.  
Apil 15, 2012.  
7. VEA  
(2009).  
Elderly  
Law.  
Elderly  
Journal.  
zone=4&ID=3845. Accessed on April 21, 2012.  
8. WHO (2008). World Health Report 2008: Primary Health Care:  
Now More Than Ever. Geneve. Pp 56‐78.  
Ngày nhận bài báo:  
15/5/2014  
21/6/2014  
14/11/2014  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
506  
pdf 7 trang yennguyen 14400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi tại vùng nông thôn khu vực phía Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkha_nang_tiep_can_dich_vu_cham_soc_suc_khoe_ban_dau_cua_nguo.pdf