Mô hình dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng ở Việt Nam hiện nay

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
MÔ HÌNH DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC  
SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG  
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
TS. Đoàn Văn Trường1  
ThS. Hoàng Thị Thu Hoa2  
Tóm tắt: Già hóa dân số đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, bên cạnh những tác  
động tích cực, già hóa dân số đặt ra nhiều thách thức đối với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã  
hội, nhất là trong công tác chăm sóc sức khỏe. Trong xu hướng phát triển chung về các dịch vụ  
công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế, nhiều mô hình công tác xã hội trợ giúp cho  
người cao tuổi (NCT) đã hình thành và phát triển trên cả nước. Bài viết phân tích khái quát về  
mô hình chăm sóc sức khỏe cho NCT dựa vào cộng đồng, xem đó như là cơ sở để các cơ chế,  
chính sách cần hướng đến nhằm triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT đạt hiệu  
quả tích cực.  
Từ khóa: Chăm sóc sức khỏe; mô hình; người cao tuổi; công tác xã hội; dịch vụ.  
1. Đặt vấn đề  
Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên năm 2010  
là 9,8%. Hiện nước ta có khoảng 10 triệu người cao tuổi, tương đương khoảng 11% dân số cả  
nước, chúng ta cũng chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và nước ta  
cũng là nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Do đời sống ngày một nâng lên, tuổi thọ  
ngày càng cao, công tác xã hội với NCT với nhiều mô hình tại gia đình, cộng đồng ngày  
càng được đầu tư, quan tâm và nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT. Theo như khuyến  
cáo của tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe của NCT không chỉ về trí tuệ, thể chất và còn cả về  
mặt xã hội, tinh thần. Đối với NCT việc chăm sóc sức khỏe là một điều rất quan trọng, hiện  
nay đang được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm. Vì đặc điểm của NCT  
thường gặp nhiều bệnh tật, thu nhập không nhiều, NCT dễ rơi nhóm yếu thế trong xã hội. Vì  
vậy việc chăm sóc sức khỏe NCT đòi hỏi ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, vai  
trò của việc xây dựng các mô hình chăm sóc sức khỏe cho NCT, đặc biệt là mô hình chăm  
sóc dựa vào cộng đồng được xem là xu hướng cần được đẩy mạnh nhân rộng và phát huy  
tích cực trong thời gian tới.  
Qua các nghiên cứu thực tế cũng như phong tục, tập quán của người Việt Nam, các  
chuyên gia trong lĩnh vực này đều cho rằng, công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần  
dựa vào cộng đồng. Để làm được điều đó cần phát triển mô hình y học gia đình; củng cố các  
hệ thống bệnh viện chuyên về lão khoa và nhân lực trong chăm sóc người cao tuổi. Việt Nam  
cũng cần phát triển nhiều mô hình như nhà dưỡng lão phù hợp với truyền thống văn hóa; đẩy  
mạnh phát triển y tế cơ sở để không chỉ phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu mà còn giúp  
1,2 Khoa Văn hóa - Thông tin, Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa  
2
104  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
chăm sóc người cao tuổi tập trung vào các bệnh mãn tính; cần có chính sách phát huy vai trò  
của người cao tuổi trong xã hội, đây là một trong những phương pháp chăm sóc tốt nhất  
(Minh Hoàng, 2017). Phát huy vai trò và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng là một  
trong những giải pháp hữu hiệu, quan trọng và chủ yếu trong bối cảnh già hóa dân số đang  
tăng nhanh.  
2. Nội dung  
2.1. Một số khái niệm  
2.1.1. Công tác xã hội  
“Công tác xã hội là nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia  
đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng  
thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia  
đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội thông qua đó đảm bảo nền an  
sinh xã hội” [5]  
2.1.2. Cộng đồng  
Cộng đồng là một nhóm dân cư, cụm dân cư có chung quyền lợi về chăm sóc sức khỏe,  
cùng hoạt động để cải thiện sức khỏe trong mối quan hệ mật thiết với các nhân viên y tế cộng  
đồng nhằm mục tiêu cuối cùng là cải thiện chất lượng cuộc sống. [4]  
2.1.3. Chăm sóc sức khỏe  
Chăm sóc sức khỏe là sự quan tâm để cải thiện sức khỏe cộng đồng và được tạo bởi các  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. [4]  
2.1.4. Người cao tuổi  
Theo Điều 2, Luật Người cao tuổi Việt Nam, Luật số 39/2009/QH12, được Quốc hội  
khóa 12 thông qua năm 2009: “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt  
Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. [6]  
2.1.5. Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe  
Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe là sự thúc đẩy quá trình phòng bệnh, khám,  
chữa bệnh, giúp người bệnh ý thức được bệnh tật, thực hiện quá trình khám, chữa bệnh, thích  
ứng với bệnh tật và hòa nhập cộng đồng. [4]  
2.1.6. Dựa vào cộng đồng  
Là tìm kiếm sự hỗ trợ những nguồn lực sẵn có bao gồm chính quyền địa phương, y tế  
cộng đồng, hàng xóm, gia đình. [7]  
Dựa vào cộng đồng là nhân viên công tác xã hội lấy cộng đồng làm trung tâm, tức là áp  
dụng triệt để các nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng, giúp cộng đồng nhìn nhận và sử dụng  
nguồn lực của chính mình một cách có hiệu quả để giải quyết vấn đề chung. [8]  
2.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi  
2.2.1. Nhập cuộc với nhân viên chăm sóc người già  
Tiến hành những liên lạc ban đầu với người chăm sóc. Công việc liên lạc ban đầu với  
người chăm sóc thường khá khó khăn. Người chăm sóc thường tỏ ra miễn cưỡng yêu cầu giúp  
đỡ. Một số người tin rằng đó là trách nhiệm của họ phải chăm sóc và việc yêu cầu sự giúp đỡ  
từ bên ngoài thường bị cho là giống như việc bỏ mặc người thân. Điều này đặc biệt đúng đối  
105  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
với người dân Việt Nam. Ở đó, sợi dây ràng buộc gia đình thường mạnh mẽ và có những  
mong đợi mang tính chất cố hữu cho rằng, công tác chăm sóc trong gia đình là một nghĩa vụ  
và người chăm sóc có lẽ không bao giờ dám yêu cầu giúp đỡ. Và niềm tự hào về trách nhiệm  
chăm sóc người thân có thể trở thành một trở ngại. Trong một số trường hợp khác, thì chính  
người già đang cần được chăm sóc khăng khăng từ chối và những nguồn hỗ trợ từ bên ngoài.  
Vì tất cả những lý do này, điều quan trọng đối với nhân viên công tác xã hội là phải  
tham gia vào công tác tìm kiếm trường hợp cần sự giúp đỡ từ bên ngoài, nắm vững hầu hết  
những nguồn hỗ trợ bên ngoài và có thể cung cấp cho người chăm sóc những thông tin và các  
dịch vụ trong khu vực sinh sống của gia đình.  
2.2.2. Thiết lập mối quan hệ  
Khi những liên lạc ban đầu đã được tiến hành thì công việc đầu tiên của nhân viên công  
tác xã hội là phải phát triển được một mối quan hệ hỗ trợ đáng tin cậy với với người chăm  
sóc. Nghiên cứu đã chỉ ra, rất nhiều người chăm sóc miễn cưỡng thừa nhận những khó khăn  
trong việc chăm sóc, thậm chí cả khi bị tràn ngập bởi những nhiệm vụ chăm sóc. Đã có những  
người chăm sóc được phỏng vấn đã bức xúc và nói rằng, chỉ được ngủ rất ít trong suốt nhiều  
tuần liền. Tuy nhiên, khi được hỏi về mức căng thẳng đang phải chịu đựng, những người  
chăm sóc lại nói rằng không bị căng thẳng nhiều. Rất nhiều người chăm sóc thà âm thầm gánh  
chịu những nhọc nhằn của công việc chăm sóc, còn hơn là công khai những khó khăn để  
người khác nhận xét là đang phàn nàn về trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc. Để giúp người  
chăm sóc nhận biết, chấp nhận những suy nghĩ và cảm giác về tình huống chăm sóc, nhân  
viên công tác xã hội nên thật chú ý quan tâm và lắng nghe có cảm thông với người chăm sóc.  
Người chăm sóc thường có khuynh hướng tin tưởng, những ai không ở trong tình huống  
của họ thì không bao giờ có thể hiểu được những gì họ đang phải trải qua. Nếu nhân viên  
công tác xã hội đã thực sự trải nghiệm công tác chăm sóc với người già, hãy giành thời gian  
bộc lộ kinh nghiệm của mình một cách thích hợp. Điều đó có thể giúp cho việc chia sẻ trải  
nghiệm và làm tăng niềm tin, cũng như thúc đẩy người chăm sóc bộc lộ bản thân mình.  
Nhân viên công tác xã hội nên là người hỗ trợ và người tạo khả năng để tạo cơ hội giúp  
người chăm sóc thông thoáng các suy nghĩ và cảm nhận của bản thân. Với tư cách là người hỗ  
trợ, nhân viên công tác xã hội khuyến khích và khẳng định khả năng của người chăm sóc.  
Nhiều người chăm sóc rất hay phê phán bản thân và cho rằng chưa làm được hết khả năng  
trong việc chăm sóc. Người chăm sóc cũng có khuynh hướng không chăm sóc bản thân tốt.  
Như việc họ cho rằng những nhu cầu của cá nhân chính là nhu cầu của người được chăm sóc  
và nhu cầu của người khác. Với tư cách là người hỗ trợ, nhân viên công tác xã hội cần cỗ vũ  
người chăm sóc, khi có biểu hiện chứng tỏ đang làm tốt công việc và những cảm giác của họ,  
thể hiện các trải nghiệm để nhận thấy những phản ứng như tức giận, cáu gắt với người được  
chăm sóc.  
2.2.3. Người tạo khả năng  
Nhân viên công tác xã hội khuyến khích sự thay đổi, bằng cách động viên người chăm  
sóc huy động các nguồn lực giúp đỡ khác để cải thiện công việc chăm sóc. Để có thể tạo khả  
năng có hiệu quả, nhân viên công tác xã hội cần nhận thức được những dịch vụ cộng đồng  
106  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
hiện có phù hợp với nhu cầu của người chăm sóc và người được chăm sóc. Nhân viên công  
tác xã hội cần biết các yêu cầu về thủ tục giấy tờ và những yêu cầu khác mà người chăm sóc  
và người được chăm sóc. Nhân viên công tác xã hội cần biết các yêu cầu về thủ tục giấy tờ và  
những yêu cầu khác mà người chăm sóc và người được chăm sóc có thể phải đáp ứng, để tiếp  
cận được các dịch vụ xã hội. Nhân viên công tác xã hội có thể giúp người bệnh hoàn thành  
những giấy tờ cần thiết để người bệnh nộp cho những cơ sở hỗ trợ. Nhân viên công tác xã hội  
cũng có thể phải đi cùng người chăm sóc đến những cơ sở hỗ trợ để có thể giúp đỡ người  
chăm sóc trong quá trình nộp đơn và các giấy tờ xin được hỗ trợ. Trong một số trường hợp,  
nhân viên công tác xã hội có thể đóng vai trò biện hộ, để giúp người chăm sóc có được những  
dịch vụ mà người chăm sóc cần, nhưng khó có được nếu tự người bệnh đứng ra yêu cầu.  
2.2.4. Vai trò người quản lý  
Trong vai trò là người quản lý, nhân viên công tác xã hội chịu trách nhiệm hàng đầu  
trong việc giúp đỡ người được chăm sóc sống một cách độc lập trong cộng đồng. Sau khi thu  
thập thông tin từ người chăm sóc và người được chăm sóc, nhân viên công tác xã hội tiến  
hành đánh giá độc lập về tình huống của người chăm sóc và người được chăm sóc để đưa ra  
quyết định về dịch vụ giúp đỡ.  
Với tư cách là người quản lý, nhân viên công tác xã hội cần:  
Phát triển đánh giá toàn diện về người bệnh mà không phải dựa hoàn toàn vào những  
nhận định của một thành viên trong gia đình, người đó có thể không có khả năng cung cấp sự  
chăm sóc đầy đủ theo yêu cầu của người được chăm sóc;  
Phát triển kế hoạch chăm sóc toàn diện cho người già ốm yếu, mà nhu cầu chưa được  
người chăm sóc cung cấp đầy đủ;  
Phát triển kế hoạch cung cấp và phối hợp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã  
hội để đáp ứng nhu cầu của người chăm sóc và người được chăm sóc.  
2.2.5. Vai trò người tư vấn  
Với tư cách là người tư vấn, nhân viên công tác xã hội có thể được yêu cầu giúp đỡ  
người chăm sóc và người được chăm sóc trong một loạt các vấn đề về môi trường, xã hội,  
hành vi và tình cảm, bao gồm:  
Quyết định đưa người được chăm sóc vào một cơ sở điều dưỡng;  
Những điều chỉnh trong cuộc sống của người được chăm sóc: ví dụ khi người già được  
chuyển từ nhà mình sang nhà con gái thì cần có những điều chỉnh gì;  
Những vấn đề về hành vi và tình cảm  
Những phản ứng đối với một số thứ mà người chăm sóc cho rằng có lợi cho người được  
chăm sóc.  
2.3. Mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi  
2.3.1. Mô hình chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi  
Mô hình chăm sóc ban ngày là hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc NCT vào ban  
ngày, từ thứ hai đến thứ sáu tại môi trường cộng đồng, trong khoảng thời gian dưới 24 giờ.  
Chương trình có mục đích hỗ trợ NCT giúp cải thiện các quan hệ xã hội, sức khỏe tinh thần  
và thể chất của họ. Đúng như định nghĩa của các cơ quan y tế thế giới, một cơ thể chỉ khỏe  
107  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
mạnh khi không có bệnh về tinh thần, thể xác cộng thêm sự hài hòa xã hội (Bùi Thị Mai  
Đông, 2017). Dịch vụ chăm sóc ban ngày cho NCT bao gồm nhiều nội dung khác nhau phù  
hợp với nhu cầu và sự lựa chọn của thân chủ, có bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng và có người  
giới thiệu, hướng dẫn thân chủ sử dụng các dịch vụ tại trung tâm. Hiện nay việc hình thành  
các trung tâm chăm sóc ban ngày phải chịu sự quản lý của Nhà nước để thống nhất đồng bộ  
trong hoạch định chính sách.  
Mô hình chăm sóc ban ngày phù hợp với những gia đình có người thân, con cháu đang  
đi làm, ban ngày không có thời gian chăm sóc, trò chuyện với các cụ. Với dịch vụ này, NCT  
được cung cấp các dịch vụ chăm sóc cơ bản hàng ngày, đảm bảo giờ giấc, dinh dưỡng, tập  
luyện, có môi trường giao lưu, gặp gỡ, tránh được sự chán nản, mệt mỏi ảnh hưởng tới sức  
khỏe thể chất và tinh thần. Mô hình có ý nghĩa là một phương thức trì hoãn, thay thế việc phải  
đưa NCT vào bệnh viện, đồng thời cũng tiết kiệm nhiều tiền cho gia đình, nếu NCT phải nhập  
viện (Bùi Thị Mai Đông, tr.187-188). Có ba mô hình trung tâm được hình thành từ chương  
trình này đó là: Mô hình cung cấp dịch vụ y tế, phục hồi khả năng cho những người rất kém  
sức khỏe, người mới từ bệnh viện ra.  
Đội ngũ nhân viên đảm nhận việc chăm sóc này có thể gồm có một cán bộ xã hội điều  
dưỡng viên bán thời gian, một người phụ trách các sinh hoạt hằng ngày, một số thiện nguyện  
viên, nhân viên công tác xã hội. Trên thực tế, có hai loại trung tâm thường thấy: Adult day  
care là chương trình ban ngày để cung cấp sự chăm sóc cho người trưởng thành bị đau ốm, tàn  
tật nhưng không cần dịch vụ của điều dưỡng viên hoặc chuyên viên phục hồi, dưới sự giám  
thị của các bác sỹ bệnh viện. Adult day health care là một trung tâm chăm sóc ban ngày  
nhưng có thêm điều dưỡng viên, chuyên viên phục hồi chức năng để chăm sóc khách hàng.  
Cũng có thể là hai chương trình này thành lập tại cùng một địa điểm. Thân chủ đăng ký lựa  
chọn chương trình mà họ thấy phù hợp và các sinh hoạt, dịch vụ do cùng một nhóm nhân viên  
cung cấp. Nhìn chung, các trung tâm chăm sóc ban ngày thường có một số dịch vụ như: (i)  
dịch vụ y tế để theo dõi tình trạng sức khỏe của thân chủ, giúp đỡ dùng dược phẩm, (ii) ẩm  
thực với bữa ăn chính và giữa bữa cũng như tư vấn về dinh dưỡng, (iii) giải trí sinh hoạt với  
chương trình khác nhau trong ngày để khích lệ thân chủ tham gia, (iv) tư vấn xã hội, (v) các  
chuyên viên vật lý trị liệu, điều chỉnh tiếng nói, phục hồi chức năng, (vi) chuyên chở thân chủ  
tới và rời trung tâm, (vii) thiện nguyện viên (Bùi Thị Mai Đông, tr.188-189).  
Có thể thấy mô hình chăm sóc ban ngày dành cho NCT là cơ hội tốt để NCT được tiếp  
tục đời sống độc lập, tích cực với chế độ dinh dưỡng và chăm sóc tốt tại cộng đồng, dưới sự  
trợ giúp của các nhân viên chuyên nghiệp. NCT sẽ có cơ hội tham gia sinh hoạt tập thể, những  
chương trình giải trí lành mạnh, có những cơ hội để duy trì sức khỏe tinh thần và thể chất. Và  
đặc biệt là tránh được việc phải nhập viện hoặc vào trung tâm dưỡng lão vì những lý do  
không cần thiết.  
2.3.2. Mô hình “Trung tâm chăm sóc sức khỏe, khám bệnh cho người cao tuổi”  
Hiện tại, hệ thống các bệnh viện của Việt Nam chúng ta đang còn thiếu nhiều bệnh viện  
lão khoa hoặc khoa lão khoa, vì vậy việc hình thành và xây dựng các trung tâm chăm sóc sức  
khỏe, khám bệnh cho NCT sẽ tạo điều kiện để NCT có cơ hội khám chữa bệnh theo chuyên  
108  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
khoa lão khoa. Đặc biệt, khi mà số lượng bệnh nhân là NCT có thẻ bảo hiểm y tế quá nhiều,  
gặp khó khăn khi đến khám chữa bệnh thì các cơ sở trên đã góp phần không nhỏ trong chăm  
sóc sức khỏe cho đối tượng là NCT. Tuy nhiên, các trung tâm này đa số là dịch vụ tư nhân  
nên giá cả sẽ rất cao, những NCT có đời sống khó khăn hầu như ít sử dụng các dịch vụ này.  
Các nước trên thế giới rất coi trọng việc thành lập các bệnh viện hoặc khoa lão khoa để  
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho NCT. Ngoài ra còn có rất nhiều các viện nghiên cứu  
về các bệnh của NCT, đồng thời quan tâm hàng đầu tới việc kiểm tra sức khỏe định kỳ để  
phòng bệnh, không để bệnh nặng mắc tới bệnh viện. Triển khai mô hình này điển hình có Hải  
Phòng. Từ những năm 1996, Hải Phòng đã tổ chức chăm sóc sức khỏe cho NCT tại nhà, các  
hoạt động chủ yếu mang tính xã hội, nhân đạo, cử các điều dưỡng viên được đào tạo bài bản  
về kỹ năng, phương pháp đến tận nhà phục vụ NCT theo yêu cầu. Năm 2011, Hội NCT thành  
phố đã tiếp tục triển khai rộng rãi mô hình trên, phối hợp với Chi cục Dân số kế hoạch gia  
đình thành phố triển khai thí điểm tới 4 quận, huyện khác (Bùi Thị Mai Đông, 2017) . Mặc dù  
vậy, hiện nay mô hình này vẫn chưa giới thiệu nhân rộng, phát triển ra các tỉnh, thành phố  
khác trong cả nước nhằm đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT tại các địa phương.  
2.3.3. Mô hình “Trung tâm dịch vụ đào tạo, giới thiệu người chăm sóc người cao tuổi”  
Trong bối cảnh NCT đang ngày càng tăng và tuổi thọ tăng cao, nhu cầu được chăm sóc  
ngày càng lớn, nhiều gia đình rất cần thuê chăm sóc NCT. Đặc biệt, khi NCT bị ốm nặng phải  
nằm viện lâu ngày cũng rất cần thuê người trợ giúp chăm sóc. Trong thực tế, số gia đình thuê  
người giúp rất nhiều nhưng hầu hết không được đào tạo về chuyên môn chăm sóc NCT, giữa  
những người giúp việc và chủ nhà chỉ là thỏa thuận miệng về quy định và tiền lương, do vậy  
thường các hợp đồng miệng này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và không ít chuyện phức tạp  
xảy ra.  
Để đáp ứng nhu cầu trên, một số hình thức dịch vụ giới thiệu người giúp việc đã ra đời  
(kể cả làm việc nhà, chăm sóc trẻ em, người già, bán hàng...), chủ yếu là tư nhân, không  
được đăng ký hoặc không được quản lý. Thời gian qua, có một số trung tâm đã thực hiện  
dịch vụ này, điển hình là Trung tâm nghiên cứu hỗ trợ NCT, hiện nay là Trung tâm Hỗ trợ  
nghiên cứu NCT và phát triển cộng đồng. Các trung tâm này đã tổ chức các đầu mối từ các  
tỉnh, thành phố tổ chức đào tạo ngắn ngày cho người giúp việc và có quản lý theo hình thức  
ký hợp đồng, tổ chức gặp mặt, giao lưu, hội họp (Bùi Thị Mai Đông, tr.181-182). Ngoài ra  
cũng có một số trung tâm tổ chức đào tạo nghiệp vụ chăm sóc NCT và xuất khẩu lao động.  
Trung tâm dưỡng lão Nhân ái - Hà Nội đã thực hiện công việc này có hiệu quả cao, chủ yếu  
là đưa người sang Đài Loan, đang thí điểm tại Đức và Nhật Bản, đồng thời phân phối các  
thiết bị y tế, chăm sóc cho NCT.  
2.3.4. Mô hình “Trung tâm tư vấn, giới thiệu người chăm sóc người cao tuổi”  
Các trung tâm tư vấn, giới thiệu chăm sóc NCT là một hình thức dịch vụ rất có hiệu quả  
trong việc góp phần chăm sóc NCT. Đa số các trung tâm này hoạt động theo các hình thức cụ  
thể như thành lập các câu lạc bộ truyền thông, tư vấn, mỗi câu lạc bộ có khoảng 30-50 hội viên.  
Tại các buổi họp thường lồng ghép tư vấn về chăm sóc sức khỏe NCT với chất lượng dân số,  
già hóa dân số. Thứ hai, tổ chức nói chuyện, tâp huấn về sức khỏe, chăm sóc sức khỏe, dinh  
109  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
dưỡng. Thứ ba, tư vấn về chăm sóc sức khỏe, y tế qua điện thoại, lập tổng đài tư vấn. Trung tâm  
tư vấn và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe NCT thuộc Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam là  
một điển hình hoạt động có hiệu quả trong loại hình hoạt động tư vấn này (Bùi Thị Mai Đông,  
tr.180). Về dịch vụ giới thiệu người chăm sóc NCT, hiện nay các trung tâm phát triển theo  
hướng quốc tế hóa, với việc cung cấp, giới thiệu đa dạng các hình thức dịch vụ đáp ứng nhu cầu  
chăm sóc NCT của các gia đình: chăm sóc ban ngày, chăm sóc theo giờ, chăm sóc tại nhà, chăm  
sóc tại bệnh viện hoặc trung tâm dưỡng lão.  
Tại Quảng Ninh, mô hình đã được nhân rộng tại 6/17 xã, phường và ngày càng đi vào  
chiều sâu, góp phần nâng cao chất lượng dân số, phát huy vai trò NCT trong cuộc sống cộng  
đồng. Những hoạt động tích cực này không chỉ có tác dụng to lớn đến đời sống sức khỏe, tinh  
thần của NCT mà quan trọng hơn đã góp phần nâng cao nhận thức của NCT nói riêng, cộng  
đồng nói chung trong giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số, phòng  
chống bạo lực gia đình (Hà Anh, 2016). Các cụ không chỉ là đối tượng được trực tiếp hưởng  
lợi mà còn là những tuyên truyền viên tích cực trong mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng.  
Ở Quảng Trị, mô hình “Tư vấn chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng” được Chi cục Dân  
số - Kế hoạch hóa gia đình Quảng Trị phối hợp với Hội NCT, ngành Y tế triển khai tại 12 xã,  
phường điểm của thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị, các huyện Triệu Phong, Cam Lộ,  
Đakrông và Gio Linh (Hà Anh, 2016). Từ mô hình này, mỗi năm ngành Y tế đã tổ chức nhiều  
đợt khám, tư vấn chăm sóc sức khỏe cho hàng chục nghìn lượt NCT, hỗ trợ kinh phí mua  
thuốc điều trị các bệnh thông thường cho những đối tượng không có bảo hiểm y tế.  
Ở Hà Tĩnh, mô hình được triển khai từ năm 2012, đến nay, toàn tỉnh đã thành lập 6 Câu  
lạc bộ “NCT giúp NCT” với hơn 360 thành viên tham gia (Hà Anh, 2016). Hàng năm, mô  
hình đều tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng tư vấn và chăm sóc NCT cho mạng lưới tình  
nguyện viên; tổ chức hội thảo biểu dương, khuyến khích điển hình NCT; lồng ghép hỗ trợ các  
hoạt động chăm sóc NCT; tư vấn, nói chuyện chuyên đề về chăm sóc sức khỏe NCT.  
2.3.5. Mô hình tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng  
Trong hoàn cảnh nhiều nước trên thế giới đang bước vào thời kỳ “già hóa dân số”, số  
NCT cần được chăm sóc ngày càng tăng cao, vì thế nhiều nước đã lựa chọn những giải pháp  
chăm sóc thay thế tại nhà thay vì mở rộng các trung tâm dưỡng lão tập trung vì loại hình này  
cần được đầu tư lớn, thu phí cao. Hình thức chăm sóc tại nhà và các hình thức dựa vào cộng  
đồng có ưu điểm là chi phí ít, hiệu quả lớn và phù hợp với mong muốn của NCT.  
Năm 2001 - 2002, được sự tài trợ của Hiệp hội Chữ thập đỏ Quốc tế và Trăng lưỡi liềm  
đỏ Quốc tế, Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp NCT thực hiện Dự án thử nghiệm “Xây dựng  
mô hình chăm sóc trợ giúp người già” tại 3 xã thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Mô  
hình này đã thu được kết quả tốt và được đánh giá rất cao, mô hình có tính khả thi lớn và có  
thể đảm bảo an sinh cho NCT cô đơn nghèo khó mà không cần quá nhiều kinh phí. Năm 2003  
- 2005 trung tâm và Hội người cao tuổi đã phối hợp thực hiện dự án “Chăm sóc NCT tại nhà  
dựa vào tình nguyện viên” do Tổ chức Hỗ trợ NCT Hàn Quốc tài trợ. Dự án được thực hiện  
tại 9 nước khu vực châu Á và chia thành ba giai đoạn: (i) giai đoạn 1 (2003-2005) thực hiện  
thí điểm (xây dựng đội ngũ tình nguyện viên tại 3 xã của Chí Linh, Hải Dương và 11 phường  
110  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
của Quận Đống Đa, Hà Nội), (ii) giai đoạn 2 (2006-2009) phối hợp với Trung ương Hội  
Người cao tuổi mở rộng tại 6 tỉnh thành, (iii) giai đoạn 3 (2010-2012) hoàn thành tài liệu, giáo  
trình tập huấn, tuyên truyền vận động chính sách để nhân rộng mô hình.  
Văn phòng Ủy ban Quốc gia về NCT phối hợp với Hội Người cao tuổi và Trung tâm  
nghiên cứu và trợ giúp NCT năm 2008-2009 đã thực hiện tiếp mô hình ở 15 xã thuộc Hòa  
Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bến Tre, đồng thời mở các lớp cho tình nguyện  
viên là cán bộ y tế về hưu.  
Năm 2010, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa dân số gia đình cũng triển khai mô hình  
“Tư vấn và chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng” tại 29 tỉnh, thành phố. Đến nay, mô hình này  
đã thực sự phát huy hiệu quả vai trò của NCT tại các gia đình và trong cộng đồng. Nhiều tỉnh,  
thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sống cho  
NCT từ mô hình này. Tại Hải Phòng, hiện nay đã được duy trì triển khai hoạt động của mô  
hình tại 6 quận với 16 xã, phường, 48 CLB, tổ chức 6 buổi tuyên truyền các chủ trương chính  
sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về NCT, các chính sách Dân số - kế hoạch hóa gia đình,  
giới thiệu các bệnh thường gặp ở NCT, tư vấn về cách phát hiện bệnh và hướng dẫn NCT biết  
cách tự phòng tránh (Hà Anh, 2016). Phát huy vai trò NCT trong tuyên truyền vận động con,  
cháu thực hiện tốt công tác Dân số - Kế hoạch hóa dân số gia đình giai đoạn hiện nay.  
Đề án “Tư vấn và chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng” mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc vì  
đã triển khai được nhiều nội dung thiết thực như: tổ chức tập huấn cũng cấp kiến thức, kỹ  
năng tư vấn và chăm sóc NCT cho đội ngũ tình nguyện viên và hội viên NCT trên toàn quốc.  
Hướng dẫn NCT phương pháp CSSK, chế độ sinh hoạt, khuyến khích NCT sống khỏe, sống  
có ích, phấn đấu là tấm gương để con cháu học tập noi theo. Dựa trên thực trạng của xã hội,  
quy mô gia đình thu hẹp, trách nhiệm của con cái đối với bố mẹ suy giảm (con cái ít, đi làm  
ăn xa, các tệ nạn xã hội...) nên nhiều NCT bị bỏ rơi, nghèo khổ cần được giúp đỡ. Tình  
nguyện viên là những người giúp đỡ tình nguyện, tự nguyện nhận trách nhiệm góp công sức,  
của cải, thời gian để giúp đỡ những người gặp khó khăn trong cộng đồng. Tình nguyện viên  
có thể là: hàng xóm, bạn, là hội viên Hội Người cao tuổi, Hội Chữ thập đỏ, Hội Phụ nữ, cán  
bộ y tế. Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên: Chính quyền địa phương các đoàn thể đứng ra  
thành lập mạng lưới tình nguyện viên, tập huấn cho tình nguyện viên, cùng xác định đối  
tượng cần giúp đỡ, quản lý tình nguyện viên theo kế hoạch, hỗ trợ tình nguyện viên...  
Do sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam, với những ưu điểm như chi  
phí thấp, hiệu quả cao, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của NCT và được Quốc hội,  
Chính phủ có chủ trương khuyến khích xã hội hóa chăm sóc sức khỏe NCT nhưng mô hình  
này tại cộng đồng hiện nay chưa có nhiều.  
2.3.6. Mô hình “Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau”  
Được triển khai từ năm 2005, với phương châm dựa vào cộng đồng có sự tham gia của  
70% là người cao tuổi, 30% là các đối tượng trẻ tuổi hơn và có điều kiện kinh tế khá giả, để  
liên kết các thành viên nhằm hỗ trợ người cao tuổi khó khăn, giúp họ cải thiện cuộc sống của  
bản thân, gia đình, tăng cường thu nhập, bảo đảm sức khỏe và phát triển cộng đồng.  
111  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Đến nay, cả nước hiện có khoảng 500 câu lạc bộ đang hoạt động khá hiệu quả góp phần  
quan trọng vào việc trợ giúp và phát huy vai trò của người cao tuổi. Nội dung sinh hoạt của  
các câu lạc bộ như: Hoạt động nâng cao năng lực cho ban chủ nhiệm câu lạc bộ; hoạt động  
sinh kế và tăng thu nhập cho các thành viên thông qua việc cho vay vốn, chia sẻ, trao đổi kinh  
nghiệm sản xuất để tăng thu nhập; hoạt động chăm sóc sức khỏe, tinh thần cho các thành viên  
bao gồm: thể dục dưỡng sinh, bóng bàn, thơ ca, hò vè... Mỗi câu lạc bộ có một tình nguyện  
viên, chuyên giúp đỡ, chăm sóc những người già neo đơn, hoặc phụ giúp những công việc của  
các thành viên tại địa phương. Hoạt động nâng cao nhận thức, tuyên truyền về chính sách đối  
với người cao tuổi ở địa phương được thực hiện đúng, đầy đủ.  
2.4. Đánh giá về một số mô hình Công tác xã hội với người cao tuổi  
2.4.1. Ưu điểm  
Các mô hình Công tác xã hội với người cao tuổi không chỉ quan tâm đến việc hỗ trợ, giúp  
đỡ người cao tuổi mang tính trước mắt mà còn mang tính lâu dài với nhiều hoạt động như:  
Chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần, vay vốn phát triển kinh tế tăng thu nhập.  
Đa số các mô hình đã huy động được sự tham gia của người cao tuổi, qua đó tạo cho  
người cao tuổi có cơ hội được đóng góp, được thể hiện khả năng và vốn kinh nghiệm sống  
của mình, giúp họ nâng cao được năng lực tự ứng phó với các vấn đề xã hội nảy sinh, những  
khó khăn có thể xảy ra đến trong cuộc sống.  
Đối tượng tham gia được mở rộng không chỉ có người cao tuổi mà ở một số mô hình  
còn có sự tham gia của nhiều thế hệ, nhất là thế hệ con cháu. Từ đó tạo được sự liên kết, chia  
sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, giảm sự khác biệt về nếp nghĩ, cách làm giữa các thế hệ  
với nhau.  
Hiệu quả của các mô hình không chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ, hỗ trợ các đối tượng tham  
gia mà còn có tác động, ảnh hưởng đến xã hội. Đặc biệt, nhận thức của toàn xã hội đối với  
trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng được nâng lên.  
2.4.2. Hạn chế  
Các mô hình chưa được nhân rộng ra khắp cả nước để ngày càng nhiều người cao tuổi  
hơn nữa được tham gia vào một loại hình để giúp họ giảm bớt những khó khăn trong cuộc  
sống, đặc biệt, người cao tuổi ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa.  
Chất lượng, nội dung hoạt động của các mô hình sau khi thí điểm và được nhân rộng  
chưa cao, chưa có sự đổi mới để đáp ứng nhu cầu của đối tượng, nhiều mô hình hoạt động  
cầm chừng, thậm chí ngày càng èo ọt và có nguy cơ chết yếu. Chưa có sự xuất hiện của nhân  
viên công tác xã hội hay những người có kiến thức chuyên môn về CTXH điều hành, hỗ trợ  
các mô hình hoạt động có hiệu quả hơn.  
Các mô hình mới chỉ quan tâm đến một số lĩnh vực nổi cộm, đe dọa đến cuộc sống của  
người cao tuổi mà chưa có các mô hình mang tính phòng ngừa các vấn đề khó khăn có thể  
nảy sinh đối với người cao tuổi như: Bạo lực đối với người già; khủng hoảng tâm lý; bất  
đồng, mâu thuẫn về quan điểm giữa người già và thế hệ trẻ.  
112  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
3. Kết luận  
Mô hình chăm sóc sức khỏe cho NCT dựa vào cộng đồng trong thời gian tới cần được  
đẩy mạnh quan tâm hơn nữa. Sự già hóa dân số ngày càng có xu hướng tăng lên, đây cần  
được xem là thành tựu của y khoa và kết quả của phát triển kinh tế - xã hội về nhiều mặt. Để  
giải quyết những thách thức và tận dụng các cơ hội của thời kỳ già hóa dân số, chúng ta cần  
phải có nhiều nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao nhận thức về vấn đề già hóa dân số, đảm  
bảo đưa vấn đề già hóa và nhu cầu của NCT vào tất cả các chương trình và chính sách phát  
triển quốc gia, đặc biệt là các chính sách, chương trình về an sinh xã hội; đa dạng hóa và nâng  
cao chất lượng dịch vụ chăm sóc NCT, khuyến khích và tạo điều kiện để NCT tiếp tục tham  
gia các hoạt động xây dựng đất nước phù hợp với điều kiện sức khỏe và kinh nghiệm, góp  
phần thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc và phát huy vai trò của  
NCT, đồng thời chủ động ứng phó với xu hướng già hóa dân số của nước ta. Hơn hết, những  
người làm công tác xã hội cần nắm vững và thực hành tốt vai trò, nhiệm vụ của mình trong  
lĩnh vực chăm sóc NCT, nhằm nâng cao, cải thiện tốt nhất chất lượng cuộc sống cho đối  
tượng NCT trong xã hội.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Hà Anh (2016), Chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng: Mô hình được cả xã  
hội ủng hộ, Báo Gia đình và Xã hội.  
[2]. Bùi Thị Mai Đông (cb), Nguyễn Thị Thanh Thủy - Nguyễn Văn Vệ (2017), Giáo  
trình Công tác xã hội với người cao tuổi, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
[3]. Minh Hoàng (2017), Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng, Báo  
Mới, Hà Nội.  
[4]. Đào Văn Dũng (2012), Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, Nxb  
Chính trị Quốc gia.  
[5]. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động Xã hội.  
[6]. Luật Người cao tuổi Việt Nam, Luật số 39/2009/QH12, năm 2009.  
[7]. Chrisstian (2011), Cẩm nang hướng dẫn tập huấn cho cộng đồng người dân tộc  
kiến thức cơ bản về RED dựa vào cộng đồng.  
[8]. Nguyễn Thị Lan Anh (2017), Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong việc chăm  
sóc sức khỏe cho phụ nữ sau sinh nông thôn tại xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.  
MODELS OF COMMUNITY - BASED SOCIAL WORK SERVICES IN  
HEALTH CARE FOR THE ELDERLY IN VIETNAM NOWADAYS  
Doan Van Truong, Ph.D  
Hoang Thi Thu Hoa, M.A  
Abstract: Population aging has become a global problem. In addition to the positive  
effects, aging of the population poses many challenges to all aspects of socio - economic life,  
especially in health care. In the general development trend of social work services for  
113  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
disadvantaged groups, many models of social work to support the elderly have been formed and  
developed across the country. The article provides an overview of the community - based  
models of health care for the elderly, which serves as a basis for developing mechanisms and  
policies to carry out health care activities for the elderly.  
Keywords: health care; model; the elderly; social work; service.  
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Hồng (ngày nhận bài 28/04/2019; ngày gửi phản biện  
02/5/2019; ngày duyệt đăng 30/9/2019).  
114  
pdf 11 trang yennguyen 22100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_dich_vu_cong_tac_xa_hoi_trong_cham_soc_suc_khoe_nguo.pdf