Mô hình bệnh tật của người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2009

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
MÔ HÌNH BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI CAO TUỔI  
ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT NĂM 2009  
Đỗ Chí Cường*, Phạm Hòa Bình**, Nguyễn Đức Công***  
TÓM TẮT  
Mở đầu: Tích tuổi là quá trình biến đổi cơ thể song song với sự tích lũy của tuổi tác. Già hoá dân số ở Việt  
Nam và các nước trên thế giới diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn. Tuổi thọ ngày càng  
được cải thiện rõ rệt. Những người sống đến 100 tuổi không còn hiếm. Điều này chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ  
đến đời sống, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam là một nước đang phát triển, mặc dù hiện tại cấu trúc dân số  
vẫn thuộc loại trẻ, song số người cao tuổi (NCT) đang có xu hướng tăng nhanh.  
Mục tiêu: Tìm hiểu mô hình bệnh tật của NCT điều trị nội trú tại bệnh viện Thống Nhất năm 2009.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 1087 bệnh án của bệnh nhân điều  
trị nội trú tại bệnh viện Thống Nhất năm 2009.  
Kết quả: Tuổi trung bình là 73,01 tuổi với tỉ lệ nam/nữ là 1,12 và các phân nhóm bệnh hàng đầu có tỉ lệ  
nam > nữ (ngoại trừ bệnh đái tháo đường cả 2 giới bằng nhau). Mười chương bệnh hàng đầu của NCT năm  
2009 chiếm tỉ lệ cao lần lượt là: hệ tuần hoàn; nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa; tiêu hóa; hô hấp; niệu sinh dục;  
cơ-xương-khớp và mô liên kết; bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng; bệnh tai và xương chũm; các triệu chứng,  
dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở phần khác; bướu tân sinh.  
Năm phân nhóm bệnh hàng đầu lần lượt là: bệnh tăng huyết áp, bệnh tim do thiếu máu cục bộ, đái tháo đường,  
thực quản-dạ dày và tá tràng, mạch máu não. NCT mắc bệnh mạn tính (BMT) chiếm tỉ lệ 91,3%, tỉ lệ một NCT  
mắc 2 BMT chiếm 25,2%, mắc 3 BMT chiếm 19,5%, mắc 4 BMT chiếm 17,9%, mắc từ 5 BMT trở lên chiếm  
7,9%.  
Kết luận: Mô hình bệnh tật NCT chủ yếu là bệnh không lây chiếm ưu thế, tuổi càng cao mắc BMT càng  
nhiều. NCT mắc bệnh mạn tính tăng theo tuổi.  
Từ khóa: Mô hình bệnh tật, người cao tuổi, bệnh mạn tính, bệnh viện Thống Nhất.  
ABSTRACT  
THE DISEASE PATTERNS IN ELDERLY PATIENT AT THONG NHAT HOSPITAL IN 2009  
Do Chi Cuong, Nguyen Van Tan, Nguyen Duc Cong  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 241 - 247  
Background: Aging is the process that converts young adults into olders adults whose progressively  
increasing risks of illness and death. Population aging is taking place throughout Viet Nam and the world which  
rising dramatically. Life expectancy at all ages has had a major improvement. Persons who lived to 100 years are  
no longer rare and will certainly have a large eco-societal impact on every country. Viet Nam is a developping  
country with young population structure, but the number of older people is increasing rapidly.  
Objective: Survey the disease patterns in elderly patient who had the inpatient treatment at Thong Nhat  
hospital in 2009.  
Methods: cross-sectional descriptive study, conducted using 1087 patients who had the inpatient treatment  
* Phòng khám đa khoa khu công nghiệp Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.  
** Bộ môn Lão khoa, ĐHYD Tp. Hồ Chí Minh. *** Bệnh viện Thống Nhất, Tp. Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: BS Đỗ Chí Cường ĐT: 0914. 084055  
Email: [email protected] -  
241  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
at Thong Nhat hospital, Ho Chi Minh City in 2009.  
Results: The mean age of the patients was 73.01 years with male:female ratio of 1.12. The 10 most common  
disease chapter were: diseases of the circulatory system; endocrine, nutritional and metabolic diseases; diseases of  
the digestive system; diseases of the respiratory system; diseases of the genitourinary system; diseases of the  
musculoskeletal system and connective tissue; certain infectious and parasitic diseases; diseases of the ear and  
mastoid process; symptoms, signs and abnormal clinical and laboratory findings, not elsewhere classified;  
neoplasms. The 5 most common diseases were: essential hypertention; chronic ischaemic heart diseases; non-  
insuline dependentdiabetes melitus; diseases of oesophagus, stomach and duodenum; cerebrovascular diseases.  
Some 91.3% of elderly patient have at least one chronic disease. There was a high level of co-morbidity, with two  
chronic diseases experienced by 25.2%, three conditions by 19.5%, four conditions by 17.9% and five or more  
conditions by 7.9% of the population.  
Conclusions: The disease patterns in elderly patient is almost non-contagious diseases, chronic diseases tend  
to become more common with age.  
Keywords: disease patterns, the elderly, chronic disease, Thong Nhat hospital.  
01/01/2009 đến ngày 31/12/2009 có hồ sơ lưu trữ  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
đầy đủ các thông tin cần khảo sát.  
Già hoá dân số ở Việt Nam và các nước trên  
Tiêu chuẩn loại trừ  
thế giới diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy  
Các bệnh được chẩn đoán mà bệnh không có  
trong ICD-10 theo khuyến cáo của WHO năm  
1993 hoặc những bệnh nhân chuyển viện hoặc  
trốn viện.  
mô ngày càng lớn(1). Tình hình bệnh tật của  
người dân nói chung và của NCT nói riêng phụ  
thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường, kinh  
tế, văn hoá-xã hội, chính trị, tập quán... Nó khác  
nhau theo từng giai đoạn lịch sử của mỗi  
Cỡ mẫu  
)
1,962.(0,369).(0,631)  
nước(7 . Xác định mô hình bệnh tật là hết sức cần  
N =  
= 993,86. Chọn  
0,032  
thiết, giúp có kế hoạch chăm sóc sức khoẻ nhân  
dân một cách toàn diện, đầu tư công tác phòng  
chống bệnh có chiều sâu và có trọng điểm, có  
chiến lược đầu tư kỹ thuật chuyên môn, trang  
thiết bị hiện đại, nhằm đưa ra các giải pháp  
chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân ngày  
một hiệu quả tốt hơn. Tuy nhiên, tại thành phố  
Hồ Chí Minh nói chung và bệnh viện Thống  
Nhất nói riêng cho đến nay, chưa có một nghiên  
cứu hệ thống về tình hình cơ cấu bệnh tật của  
NCT theo phân loại bệnh quốc tế theo ICD-10.  
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này.  
ngẫu nhiên hệ thống 1:10 trên toàn bộ 10.863  
bệnh án lưu trữ đầy đủ thông tin của bệnh nhân  
từ 18 tuổi trở lên vào điều trị tại bệnh viện  
Thống Nhất năm 2009. Số ngẫu nhiên được  
chọn là 10. Mẫu thực tế được chọn là: 1087 bệnh  
án (10.863/10 = 1086,3).  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Mô tả cắt ngang.  
Cách tiến hành và phương pháp thu thập số  
liệu  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Nghiên cứu điều tra trực tiếp qua hồ sơ  
bệnh án, các báo cáo thống kê tại bệnh viện  
Thống Nhất theo biểu mẫu thu thập số liệu đã  
thống nhất. Phân loại bệnh tật dựa vào bảng  
phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD-  
10).  
Đối tượng nghiên cứu  
Tiêu chuẩn chọn mẫu  
Tất cả các bệnh nhân từ 18 tuổi (bệnh nhân  
sinh từ năm 1991 về trước) nhập viện điều trị  
nội trú tại Bệnh viện Thống Nhất từ ngày  
242  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
84, tỉ lệ nữ > nam trong nhóm tuổi 60-64 và 85.  
Nhóm tuổi từ 65-74 chiếm tỉ lệ cao nhất (41,1%),  
ít nhất là nhóm 85 tuổi (10,5%). Tuổi cao nhất  
là 97 (0,2%), tuổi trung bình là 73,01. Tỉ lệ bệnh  
nhân tập trung cao nhất tại thành phố Hồ Chí  
Minh (TP. HCM) (77,3%). Giữa các nhóm tuổi  
không có khác biệt về nơi cư ngụ (p > 0,05). Thời  
điểm nhập viện chủ yếu là mùa khô và mùa  
mưa, nhóm tuổi 65-74 nhập viện vào mùa khô  
và nhóm tuổi 75-84 có tỉ lệ cao nhất là 43,6%.  
Xử lý số liệu  
Các số liệu được nhập bằng phần mềm  
Excel 2003, xử lý bằng chương trình SPSS 11.5.  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Trong số 1087 bệnh nhân hồi cứu, tỉ lệ  
nam/nữ = 1,12. Giới tính giữa các nhóm có sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,048 < 0,05);  
trong đó nam > nữ trong nhóm tuổi 65-74 và 75-  
Mô hình bệnh tật (theo ICD-10)  
Tỉ lệ 10 chương bệnh hàng đầu  
Bảng 1. Tỉ lệ 10 chương bệnh mắc hàng đầu của NCT  
Chương bệnh  
Tên chương bệnh  
Tần số  
347  
159  
128  
94  
Tỉ lệ %  
70,5  
32,3  
26,0  
19,1  
16,5  
16,3  
8,9  
IX  
IV  
Bệnh hệ tuần hoàn  
Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa  
Bệnh hệ tiêu hóa  
XI  
X
Bệnh hệ hô hấp  
XIV  
XIII  
I
Bệnh hệ niệu sinh dục  
81  
Bệnh hệ cơ- xương- khớp và mô liên kết  
Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng  
Bệnh tai và xương chũm  
80  
44  
VIII  
XVIII  
40  
8,1  
Các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường  
không phân loại ở phần khác  
37  
7,5  
Bướu tân sinh  
II  
32  
6,5  
Tổng cộng  
492  
100  
bệnh hệ hô hấp (19,1%), chương bệnh hệ niệu  
sinh dục (16,5%), chương bệnh bướu tân sinh  
chiếm tỉ lệ thấp nhất trong mười bệnh hàng đầu.  
Mười chương bệnh mắc tỉ lệ cao nhất lần  
lượt là chương bệnh hệ tuần hoàn (70,5%),  
chương bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển  
hóa (32,3%), bệnh hệ tiêu hóa (26%), chương  
Phân bố 10 bệnh mắc hàng đầu  
Bảng 2. Tỉ lệ 10 bệnh mắc hàng đầu  
Xếp theo thứ tự  
Nhóm bệnh  
I10–I15  
Tên nhóm bệnh  
Bệnh tăng huyết áp  
Tần số  
302  
126  
107  
78  
Tỉ lệ %  
61,4  
25,6  
21,7  
15,9  
13,2  
11,8  
10,6  
7,3  
(1)  
(2)  
I20–I25  
Bệnh tim do thiếu máu cục bộ  
Bệnh đái tháo đường  
(3)  
E10–E14  
K20–K31  
I60–I69  
(4)  
Bệnh thực quản, dạ dày và tá tràng  
Bệnh mạch máu não  
(5)  
65  
(6)  
E70 – E90  
I30–I52  
Rối loạn chuyển hóa  
58  
(7)  
Thể bệnh tim khác  
52  
(8)  
M00–M25  
M40–M54  
H80–H83  
J20–J22  
R50–R69  
Bệnh khớp  
36  
(9)  
Bệnh lý cột sống lưng  
36  
7,3  
(10)  
(11)  
(12)  
Bệnh tai trong  
33  
6,7  
Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới cấp khác  
Triệu chứng và dấu chứng toàn thân  
33  
6,7  
33  
6,7  
cao nhất lần lượt là bệnh THA, bệnh tim do  
thiếu máu cục bộ, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ),  
Bệnh tăng huyết áp (THA) có sự gia tăng  
đáng kể so với những bệnh còn lại, tỉ lệ 5 bệnh  
243  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
bệnh thực quản, dạ dày-tá tràng và bệnh mạch  
máu não.  
Bộ Y tế năm 2009, tuổi thọ trung bình của  
người Viêt Nam đạt 72,8 tuổi. Phải chăng do  
tuổi trung bình của dân số nước ta như vậy  
nên ở nhóm tuổi ≥ 85 có ít bệnh nhân nhất so  
với các nhóm tuổi khác. Ngoài ra, có nghiên  
cứu cho thấy những người trên 85 tuổi có tỉ lệ  
sử dụng dịch vụ bệnh viện thấp hơn 2 lần so  
với nhóm tuổi từ 60-64 do khả năng đi lại hạn  
chế cũng có thể lí giải vấn đề này(2).  
Mười nguyên nhân nhập viện hàng đầu  
Bảng 3. Tỉ lệ 10 nguyên nhân nhập viện hàng đầu  
của NCT  
Tên bệnh  
Tăng huyết áp  
Tần suất Tỉ lệ %  
68  
29  
22  
21  
19  
17  
16  
10  
8
13,8  
5,9  
4,5  
4,3  
3,9  
3,5  
3,3  
2,0  
1,6  
1,6  
Bệnh tim do thiếu máu cục bộ  
Đục thủy tinh thể người cao tuổi  
Rối loạn chức năng tiền đình  
Viêm phế quản cấp  
Viêm dạ dày và tá tràng  
Nhồi máu não  
Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ bệnh nhân nam/  
nữ = 1,12. Kết quả này cũng tương tự với  
nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Phú ở  
bệnh viện Nguyễn Trãi năm 2000- 2005(10).  
Theo Đàm Viết Cương và cộng sự phụ nữ cao  
tuổi có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế tư  
nhân với tỉ lệ cao hơn nam giới, trong khi  
nam giới cao tuổi lại sử dụng dịch vụ bệnh  
viện với tỉ lệ cao hơn. Nghiên cứu của SK Das  
và cộng sự tại Ấn Độ năm 2008 trên 53,377  
bệnh nhân NCT cho thấy tỉ lệ nam/ nữ =  
1,12(3). Nghiên cứu của Changsu Han và cộng  
sự tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên  
năm 2009 trên 1391 bệnh nhân NCT có tỉ lệ  
nam chiếm 42,8%(6). Điều này cho thấy tùy  
theo mẫu nghiên cứu, tùy theo dân tộc, mỗi  
chủng tộc, mỗi nước khác nhau… mà tỉ lệ giới  
tính có sự khác biệt.  
ĐTĐ không phụ thuộc insulin  
Suy tim  
Suy thận mạn  
8
Tỉ lệ cao nhất vượt trội là bệnh THA (13,8%);  
tiếp đến là bệnh tim do thiếu máu cục bộ (5,9%),  
đục thủy tinh thể NCT (4,5%)... cuối cùng là suy  
tim và suy thận mạn (cùng chiếm 1,6%).  
Phân bố số BMT mắc phải trên một NCT  
NCT mắc bệnh mạn tính chung chiếm tỉ lệ  
91,3%, không có BMT chiếm tỉ lệ 8,7%. Tỉ lệ một  
NCT mắc 2 BMT chiếm 25,2%, mắc 3 BMT  
chiếm 19,5%, mắc 4 BMT chiếm 17,9%, mắc ≥ 5  
BMT chiếm 7,9%.  
BÀN LUẬN  
Tỉ lệ bệnh nhân tập trung cao nhất tại TP.  
HCM (77,3%). Giữa các nhóm tuổi không có  
khác biệt về nơi cư ngụ (p > 0,05). Tỉ lệ bệnh  
nhân ở các tỉnh khác cũng chiếm một tỉ lệ tương  
đối do là bệnh viện tuyến Trung Ương, được  
đầu tư trang thiết bị hiện đại và mang nhiệm vụ  
điều trị cho các cán bộ và cả người dân.  
Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Tuổi cao nhất là 97, tuổi trung bình ở  
nhóm NCT là 73,01 tuổi, gần tương đương với  
tuổi thọ người Việt Nam năm 2009. NCT  
thường có chức năng sinh lý giảm dần, mắc  
nhiều bệnh mạn tính: THA, ĐTĐ, bệnh cơ  
xương khớp, bệnh viêm phế quản, xơ vữa  
động mạch… Đây là những bệnh mà bệnh  
viện có thể chăm sóc và điều trị tốt, do đó  
nhóm 65-74 tuổi chiếm đa số. Ngoài ra, bệnh  
viện Thống Nhất là một trong những bệnh  
viện tuyến trung ương ở phía Nam ưu tiên  
khám và điều trị cho các cán bộ, đặc biệt là  
các cán bộ hưu trí cũng là một lí do góp phần  
chiếm tỉ lệ đa số của nhóm tuổi 65-74. Nhóm  
tuổi ≥ 85 có số lượng bệnh nhân ít nhất so với  
các nhóm tuổi khác. Theo số liệu thống kê của  
Mô hình bệnh tật (theo ICD-10)  
Tỉ lệ 10 chương bệnh hàng đầu  
Chương bệnh tuần hoàn chiếm tỉ lệ cao nhất  
(70,5%), tiếp theo là chương bệnh nội tiết, dinh  
dưỡng và chuyển hóa (32,3%), chương bệnh hệ  
tiêu hóa (26,0%), chương bệnh hô hấp (19,1%),  
chương bệnh hệ niệu sinh dục (16,5%), chương  
bệnh hệ cơ-xương-khớp và mô liên kết (16,3%),  
chương bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng  
(8,9%), chương bệnh tai và xương chũm (8,1%),  
244  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
chương các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu  
hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không  
phân loại ở phần khác (7,5%), chương bệnh  
bướu tân sinh cũng nằm trong số 10 chương  
bệnh mắc cao nhất ở NCT và đứng ở vị trí cuối  
cùng trong 10 chương bệnh hàng đầu (6,5%).  
trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế không có  
trong nghiên cứu của chúng tôi có thể giải thích  
do bệnh viện Thống Nhất không có chuyên  
khoa Sản và đặc thù là bệnh viện điều trị cho các  
cán bộ và NCT.  
Phân bố 10 bệnh mắc hàng đầu  
Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong thời  
gian gần đây, áp lực công việc thời hội nhập,  
cùng với thói quen ăn uống với những thức ăn  
thấp về dinh dưỡng nhưng chứa năng lượng  
cao càng làm dễ béo phì và rối loạn chuyển hóa  
(12), hút thuốc và sự phối hợp các yếu tố nguy cơ  
như tăng cân, béo phì đã làm gia tăng các bệnh  
về huyết áp, tim mạch ở NCT. Các chương bệnh  
chiếm tỉ lệ trung bình gồm: chương bệnh nội  
tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa (32,3%), chương  
bệnh hệ tiêu hóa (26,0%), chương bệnh hô hấp  
(19,1%). Đây là những chương bệnh hay gặp ở  
NCT. Đặc biệt là chương bệnh nội tiết, dinh  
dưỡng và chuyển hóa, chương bệnh hệ thần  
kinh, khối u sẽ ngày càng có xu hướng gia tăng  
khi kinh tế ngày càng phát triển. Chương bệnh  
dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về  
nhiễm sắc thể có tỉ lệ thấp nhất (0,1%).  
5 bệnh cao nhất lần lượt là bệnh THA, bệnh  
tim do thiếu máu cục bộ, bệnh ĐTĐ, bệnh thực  
quản-dạ dày và tá tràng, bệnh mạch máu não.  
Nghiên cứu của chúng tôi THA ở NCT chiếm tỉ  
lệ 61,4% cũng phù hợp với các nghiên cứu của  
các tác giả Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Thành  
Phương, Đoàn Anh Luân(4,10,9); trong khi đó  
nghiên cứu của Lê Văn Tuấn, Nguyễn Hải Hằng  
và cộng sự tại Viện Lão khoa Quốc gia năm 2008  
bệnh THA chỉ đứng hàng thứ 3, sau bệnh  
TBMMN và bệnh viêm phổi ở NCT(7), có sự khác  
biệt này là do trong khuôn khổ nghiên cứu của  
chúng tôi sự phân bố của bệnh nhân không  
đồng đều theo vùng miền, chủ yếu là NCT ở  
miền Nam, còn những bệnh nhân ở miền Trung  
và miền Bắc là rất ít, thời tiết(8)… phải chăng là lí  
do dẫn đến sự khác biệt về kết quả nghiên cứu.  
Năm 2008, WHO cho biết 5 căn bệnh gây tử  
vong cao nhất ở các nước giàu thì 5 căn bệnh  
gây tử vong hàng đầu là bệnh tim, đột quỵ, ung  
thư phổi, viêm phổi, hen và viêm phế quản;  
trong đó THA được xem như là “kẻ giết người  
thầm lặng” vì những tổn thương và những biến  
chứng gây ra, làm cho gánh nặng xã hội và chi  
phí cho y tế ngày càng tăng. Bệnh tim do thiếu  
máu cục bộ trong nghiên cứu của chúng tôi  
đứng hàng thứ 2 trong những bệnh hàng đầu ở  
NCT, chiếm tỉ lệ 25,6%. Xã hội càng phát triển,  
việc sử dụng những thức ăn nhanh chứa nhiều  
chất béo, lười vận động thể lực, hút thuốc lá,  
uống nhiều rượu bia…làm cho bệnh mạch vành  
hiện nay được xem như là một trong những  
bệnh của xã hội phát triển. Kết quả của chúng  
tôi cũng phù hợp với các báo cáo của WHO năm  
2008, cho thấy bệnh tim là một trong 5 bệnh gây  
tử vong hàng đầu ở các nước giàu. Bệnh ĐTĐ  
trong nghiên cứu của chúng tôi cũng chiếm tỉ lệ  
đáng kể (21,7%) do quá trình phát triển nhanh  
của xã hội và đứng hàng thứ 3 trong 10 bệnh  
Theo thống kê của Bộ Y tế từ năm 2004-2008,  
tỉ lệ bệnh do dịch lây giảm hơn nhiều so với  
bệnh không lây, trong nghiên cứu của chúng tôi  
tỉ lệ chương bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng  
ở NCT vẫn xếp ở thứ hạng 7 trong 10 chương  
bệnh nhập viện hàng đầu. Trong quá trình  
chuyển đổi từ một nước đang phát triển sang  
một nước phát triển, những bệnh không lây  
chiếm ưu thế trong mô hình bệnh tật, nhưng các  
bệnh nhiễm khuẩn và lây nhiễm vẫn còn vị trí  
trong những bệnh hàng đầu. Ngoài ra, tại TP.  
HCM tập trung nhiều bệnh viện đầu ngành về  
chuyên khoa như bệnh viện Nhiệt đới, bệnh  
viên Lao và bệnh phổi Phạm Ngọc Thạch…  
cũng góp phần giải thích tỉ lệ thấp những bệnh  
lây truyền trong nghiên cứu của chúng tôi.  
Ngoài ra, chương bệnh thai nghén, sinh đẻ  
và hậu sản; một số bệnh lý xuất phát trong thời  
kỳ chu sinh; các nguyên nhân ngoại sinh của  
bệnh và tử vong; các yếu tố ảnh hưởng đến tình  
245  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
mắc hàng đầu. Bệnh thực quản-dạ dày và tá  
tràng đứng hàng thứ 4 trong 10 bệnh hàng đầu,  
chiếm tỉ lệ 15,9%; phải chăng ở đây là nghiên  
cứu tại bệnh viện chứ không phải nghiên cứu tại  
cộng đồng, mặc khác số bệnh nhân trong nhóm  
nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu sống tại các  
tỉnh miền Nam, chưa phân bố đồng đều trong  
cả nước, khí hậu cũng khác nhau nên có sự khác  
biệt với một số tác giả. Bệnh mạch máu não  
chiếm 13,2% và đứng hàng thứ 5 trong 10 bệnh  
hàng đầu. Theo Trung tâm Thống kê Y tế Quốc  
gia Hoa Kỳ, bệnh mạch máu não cũng là một  
trong những bệnh phổ biến ở NCT(5). Điều này  
cho thấy trong nghiên cứu của chúng tôi những  
bệnh mắc hàng đầu của NCT chủ yếu là những  
BMT không lây giống như mô hình bệnh tật ở  
các nước phát triển và các nước trong khu vực.  
BMT, mắc 3 BMT gần bằng nhau ở 4 nhóm tuổi,  
mắc 4 BMT gần bằng nhau ở 4 nhóm tuổi, nhóm  
tuổi 75-84 chiếm tỉ lệ cao nhất (12,7%) khi mắc   
5 BMT. Nhóm 85 tuổi có tỉ lệ giảm dần đều  
mắc từ 1 đến 5 BMT, các nhóm tuổi còn lại có  
tỉ lệ gần như nhau khi cùng mắc từ 1 – 4 BMT và  
đều giảm nhiều khi mắc 5 BMT. Một nghiên  
cứu tại Viện Lão khoa tiến hành trên 3 vùng Bắc-  
Trung-Nam cho thấy trung bình một NCT có  
khoảng gần 3 BMT, 70% số NCT được điều tra  
cho biết có mắc BMT(2), nghiên cứu của Wolff JL.  
và cộng sự cho thấy 82% một NCT mắc 1 BMT,  
65% một NCT mắc từ 2 BMT trở lên(12). Điều này  
cho thấy trong kết quả của chúng tôi, tỉ lệ mắc  
BMT ở NCT tương đối cao gần giống với kết  
quả của các tác giả nước ngoài và Viện Lão khoa  
Quốc gia Việt Nam. Đây là gánh nặng cho cá  
nhân, gia đình và xã hội vì chúng làm hạn chế  
các hoạt động hàng ngày, thay đổi tinh thần, thể  
chất, cuộc sống xã hội và nghề nghiệp của họ.  
Mười nguyên nhân nhập viện hàng đầu  
So với các nghiên cứu nước ngoài và nghiên  
cứu trong nước cho thấy những bệnh gây nhập  
viện hàng đầu trong nghiên cứu của chúng tôi  
giống với các tác giả khác là: bệnh tim mạch,  
ĐTĐ, đột quỵ, đục thủy tinh thể, bệnh dạ dày tá  
tràng, suy thận…Trong nghiên cứu của chúng  
tôi tỉ lệ bệnh COPD, viêm gân khớp, giảm thính  
lực, u ác tính, gãy xương, mà thường thấy trong  
các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài,  
không có mặt trong mười nguyên nhân gây  
nhập viện hàng đầu ở NCT. Có thể lí giải điều  
này là do các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành  
ở TP. HCM như: bệnh viện Tai Mũi Họng, bệnh  
viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Ung  
bướu và với dịch vụ bảo hiểm Y tế phổ biến và  
thuận tiện, các bệnh nhân khi có bệnh tật liên  
quan đến các bệnh viện chuyên khoa có thể là  
nơi lựa chọn ưu tiên của họ và gia đình nên số  
lượng các bệnh này trong nghiên cứu của chúng  
tôi không đứng trong 10 bệnh nhập viện hàng  
đầu. Để giải thích rõ hơn về vấn đề này cần có  
những nghiên cứu rộng hơn.  
KẾT LUẬN  
Mô hình bệnh tật NCT năm 2009 chủ yếu  
bệnh không lây chiếm ưu thế. Các chương bệnh  
chiếm tỉ lệ cao lần lượt là: hệ tuần hoàn, nội tiết,  
dinh dưỡng và chuyển hóa, hệ tiêu hóa, hệ hô  
hấp, hệ niệu sinh dục, hệ cơ-xương-khớp và mô  
liên kết, nhiễm khuẩn và ký sinh trùng, tai và  
xương chũm, các triệu chứng, dấu hiệu và  
những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất  
thường không phân loại ở phần khác, bướu tân  
sinh. Trong đó, 5 phân nhóm bệnh hàng đầu:  
THA, bệnh tim do thiếu máu cục bộ, bệnh ĐTĐ,  
bệnh thực quản-dạ dày và tá tràng, bệnh mạch  
máu não. Tỉ lệ mắc BMT của NCT chiếm 91,3%,  
tỉ lệ một NCT mắc 2 BMT chiếm 25,2%, mắc 3  
BMT chiếm 19,5%, mắc 4 BMT chiếm 17,9%, mắc  
từ 5 BMT trở lên chiếm 7,9%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Bộ Y tế (2010). "Già hóa dân số và chính sách chăm sóc sức khỏe  
cho người cao tuổi ở Việt Nam". Tạp chí Y học thực hành. Nhà  
xuất bản Y học. Hà Nội, tr. 1.  
Phân bố số BMT mắc phải trên một NCT  
2.  
Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Anh và cộng sự(2006). "Đánh  
giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam". Viện  
chiến lược và chính sách Y tế. Hà Nội, tr. 1-2.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm 85  
tuổi, tỉ lệ mắc 1 BMT chiếm tỉ lệ cao nhất, nhóm  
60-64 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất một NCT mắc 2  
246  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
3.  
4.  
Das SK., Biswas A, et al (2008). "Prevalence of Major  
Neurological Disorders Among Geriatric Population in the  
Metropolitan City of Kolkata". Original Article. India, pp. 1-9.  
Đoàn Anh Luân.(2007). Khảo sát mô hình bệnh tật và thực trạng  
chăm sóc sức khỏe người có tuổi tại quận Ô Môn, thành phố Cần  
Thơ. Luận án tốt nghiệp chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược TP.  
HCM, tr. 31-80.  
Medicine and Dentistry, Rochester, New York. USA, 74 (79), pp.  
1521-1524.  
9.  
Nguyễn Thành Phương (2009). Mô Hình Bệnh Tật Bênh Nhân  
Bảo Hiểm Y Tế Khám Và Điều Trị Ngoại Trú Tại Biện Viện Đa  
Khoa Khu Vực Củ Chi Từ 01/01/2008 Đến 31/3/2009. Luận văn  
tốt nghiệp chuyên khoa cấp 1, Đại học Y Dược TP. HCM, tr. 29-  
56.  
5.  
6.  
7.  
8.  
Halter JB, Ouslander JG, et al (2009). "Demography and  
Epidemiology". Hazzard’s Geriatric Medicine and Gerontology,  
The McGraw-Hill Companies. USA, pp. 45-67.  
10. Nguyễn Văn Phú (2006). Mô Hình Bệnh Tật, Tử Vong Và Kết  
Quả Điều Trị Của Bệnh Nhân Nội Trú Tại Bệnh Viện Nguyễn  
Trãi Từ 2000 - 2005. Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp 1 Y  
Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TP. HCM, tr. 28-83.  
Han C, et al (2009). "Study design and methods of the Ansan  
Geriatrics study in Republic of Korea". BMC Neurology, 9 (10),  
pp. 1471-2377.  
11. Thailand Ministry of Public Health (2009). National Health  
System Profile, 2005-2007. Thailand, pp. 11-54.  
Lê Văn Tuấn, Nguyễn Hải Hằng (2008). Mô hình bệnh tật của  
người cao tuổi điều trị tại Viện lão khoa quốc gia năm 2008.  
Luận án tốt nghiệp Đại học, Đại học Y Dược Hà Nội, tr. 3-74.  
Lurie SJ, Gawinski B, et al(2006). "Seasonal Affective Disoder".  
American Family Physician, University of Rochester School of  
12. Wolff JL, Starfield B, Anderson G (2002). "Prevalence,  
expenditures, and complications of multiple chronic conditions  
in the elderly". Arch Intern Med. Department of Health Policy  
and Management, The Johns Hopkins University Bloomberg  
School of Public Health. USA, 2002 Nov 2011;2162 (2020), pp.  
2269-2276.  
247  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
pdf 7 trang yennguyen 16900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình bệnh tật của người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2009", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_benh_tat_cua_nguoi_cao_tuoi_dieu_tri_tai_benh_vien_t.pdf