Một số khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế của người cao tuổi ở nông thôn hiện nay

Một số khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế  
của người cao tuổi ở nông thôn hiện nay  
Nguyễn Thị Thùy Linh(*)1  
Tóm tắt: Chăm sóc sức khỏe (CSSK) là một trong những quyền cơ bản của con người.  
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống được cải thiện kéo theo tuổi  
thọ bình quân ngày càng gia tăng khiến số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam đang có  
xu hướng tăng nhanh. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng NCT Việt Nam, đặc  
biệt là ở khu vực nông thôn, đang gặp nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe (bệnh tật),  
nhất là trong bối cảnh nơi đây còn thiếu cơ sở vật chất và chất lượng khám chữa bệnh  
còn chưa cao. Dựa vào nguồn tài liệu thứ cấp và số liệu tính toán của tác giả từ bộ số  
liệu Khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam (Vietnam Household Living Standard Survey -  
VHLSS) năm 20162 của Tổng cục Thống kê, bài viết mô tả tình hình sức khỏe thể chất, tinh  
thần và phân tích một số khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế của NCT ở nông thôn, qua đó  
gợi mở hàm ý chính sách nhằm nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế của NCT nông thôn  
trong bối cảnh hiện nay.  
Từ khóa: Người cao tuổi, Nông thôn, Sức khỏe thể chất, Sức khỏe tinh thần, Tiếp cận  
dịch vụ y tế  
Abstract: Health care is one of the most common rights of human. As a consequence of  
social and economic development, living standards have been improved, contributing to  
the gradual increase of life expectancy and yet the number of elderly in Vietnam. Recent  
studies, however, have shown that the elderly in Vietnam, especially those in rural areas,  
are facing health problems due to inadequate health facilities and health care quality. A  
preliminary literature review and data analysis based on the 2016 Vietnam Household Living  
Standard Survey (HLSS) by Vietnam General Statistics Office, the article aims at providing  
a description of physical and mental health status of the elderly in Vietnam, an analysis of  
the disadvantages of health care systems for the elderly in rural areas, as well as policy  
suggestions for improvement of the current situation.  
Keywords: The old, Rural Areas, Physical Health, Mental Health, Access to Health Services  
(*) ThS., Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Email: [email protected]  
2 VHLSS là cuộc Khảo sát Mức sống dân cư định kỳ 2 năm một lần do Tổng cục Thống kê thực hiện.  
VHLSS năm 2016 được tiến hành trên 9.399 hộ gia đình, khảo sát các nội dung như: việc làm, thu nhập, y  
tế, giáo dục, tiêu dùng… Trong đó, số NCT được khảo sát là 4.462 người, NCT ở khu vực nông thôn chiếm  
gần 66,4% tổng số NCT. NCT được chia thành 3 nhóm: nhóm NCT từ 60-69 tuổi (chiếm 54,5%), nhóm  
NCT từ 70-79 tuổi (chiếm 25,1%) và nhóm NCT từ 80 tuổi trở lên (chiếm 20,3%).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2019  
48  
2. Vài nét về thực trạng sức khỏe của người  
cao tuổi ở nông thôn  
1. Đặt vấn đề  
Sau hơn 30 năm đổi mới, nông thôn  
Sức khỏe thể chất  
Việt Nam đang có nhiều thay đổi về kinh  
tế, xã hội. Cùng với quá trình phát triển  
kinh tế - xã hội, tuổi thọ bình quân của  
người dân gia tăng, trong khi mức sinh  
giảm xuống đã thúc đẩy già hóa dân số ở  
Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Dân  
số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), Việt  
Nam chính thức bước vào giai đoạn già  
hóa dân số từ năm 2011 và hiện có khoảng  
10,1 triệu NCT1, chiếm 11% dân số; trong  
đó 65,7% NCT sống ở nông thôn, là nông  
dân và làm nông nghiệp, thu nhập thấp  
(Dẫn theo: Bộ Lao động - Thương binh và  
Xã hội, 2019).  
Số lượng NCT Việt Nam nói chung và  
NCT ở nông thôn Việt Nam nói riêng hiện  
đang có xu hướng tăng nhanh, họ phải đối  
mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống,  
đặc biệt là vấn đề CSSK. Phần lớn NCT  
nông thôn không có lương hưu, sống phụ  
thuộc hoặc vẫn phải tự mưu sinh kiếm sống.  
Trong khi đó, các hình thức tương trợ giúp  
đỡ theo mô hình truyền thống cho người  
già đang suy yếu, mô hình an sinh nhà nước  
chưa đảm bảo tốt trong việc hỗ trợ cho cuộc  
sống của NCT, điều này đặt ra nhiều câu  
hỏi nghiên cứu liên quan đến thực trạng sức  
khỏe thể chất, tinh thần và những khó khăn  
chi phối việc tiếp cận dịch vụ y tế của NCT  
ở nông thôn. Bài viết tìm hiểu tình trạng  
sức khỏe thể chất, tinh thần và phân tích  
một số khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ  
y tế của NCT ở nông thôn thông qua các chỉ  
báo như: nhận thức của bản thân NCT về  
CSSK, sự quan tâm hỗ trợ của gia đình và  
điều kiện kinh tế; từ đó gợi mở hàm ý chính  
sách nhằm tăng cường CSSK cho NCT ở  
nông thôn trong bối cảnh hiện nay.  
Hiện nay, mặc dù tuổi thọ trung bình  
của NCT Việt Nam khá cao (73 tuổi) song  
tuổi thọ khỏe mạnh của NCT lại khá thấp  
(Lê Xuân Cử, Phạm Hải Hưng, 2018).  
Nhìn chung, NCT Việt Nam nói chung và  
ở khu vực nông thôn nói riêng vẫn chưa  
thực sự khỏe mạnh như mong muốn. Theo  
báo cáo của Bộ Y tế, có khoảng 95% NCT  
mắc bệnh, trung bình mỗi NCT mắc 2,69  
bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính và không  
lây truyền. Tỷ lệ NCT có sức khỏe tốt chỉ  
chiếm khoảng 5-7%; sức khỏe kém là 23%;  
còn lại là sức khỏe trung bình (Lê Ngọc  
Lân, 2010). Như vậy, đa số NCT đều mắc  
các bệnh mãn tính và tỷ lệ này là rất cao.  
Các bệnh mãn tính và bệnh thông  
thường như tăng huyết áp, tiểu đường, ung  
thư và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (vốn có  
nguyên nhân từ các bệnh về đường hô hấp  
kéo dài) là các bệnh không lây nhiễm chính  
mà NCT ở cả khu vực nông thôn và thành  
thị hiện đang mắc phải. Tỷ lệ mắc bệnh ung  
thư ở NCT đã tăng lên và chiếm 20% mức  
độ tàn tật trong số những người từ 60-64  
tuổi (UNFPA, 2019). Độ tuổi càng cao, tỷ  
lệ mắc bệnh ung thư của NCT càng lớn do  
ảnh hưởng từ nhiều bệnh khác. Ngoài ra,  
những bệnh lý như tim mạch, xương khớp,  
thính/thị giác,… cũng gây ảnh hưởng lớn  
đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của  
NCT (Phạm Thắng, 2007).  
Tuổi tác được coi là một yếu tố có  
mối liên quan chặt chẽ với tình trạng sức  
khỏe của con người. Số liệu phân tích từ  
VHLSS năm 2016 cho thấy, có 17,4% NCT  
ở nông thôn bị bệnh/chấn thương nặng phải  
nằm một chỗ và cần người chăm sóc trong  
12 tháng trước thời điểm khảo sát. Trong  
3 nhóm tuổi NCT, nhóm NCT từ 80 tuổi  
trở lên mắc bệnh này chiếm tỷ lệ cao nhất  
1 Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định,  
NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.  
Một số khó khăn…  
49  
(26,2%) và có số lần mắc bệnh nặng cũng độ tuổi nhất định, NCT thường ít nhiều bị  
nhiều nhất (trung bình 2,05 lần/năm, trong rối loạn về tâm lý, di chuyển ít hơn hoặc có  
khi nhóm 60-69 là 1,93 lần/năm và nhóm những ưu tư, phiền muộn khi cuộc sống thay  
70-79 là 1,83 lần/năm). Đa số NCT thuộc đổi, việc giao tiếp cũng trở nên khó khăn  
nhóm tuổi 60-69 ở nông thôn vẫn làm nông hơn. Những trở ngại về tinh thần ở NCT  
nghiệp (một số đi xây dựng, phụ hồ…), ít thường biểu hiện qua sự mặc cảm về bản  
có thời gian và cơ hội tiếp cận với các dịch thân hoặc khi phải nhờ tới sự giúp đỡ của  
vụ y tế nên dễ bị bệnh/chấn thương nặng người khác. Có thể thấy, chia sẻ niềm vui  
hơn so với nhóm NCT từ 70-79 tuổi.  
trong cuộc sống đặc biệt quan trọng đối với  
Nhìn chung, NCT ở khu vực nông thôn NCT. Tuy nhiên, sự khác biệt về tâm lý giữa  
đang gặp vấn đề về sức khỏe thể chất. Dù NCT và người trẻ tuổi lại là rào cản đối với  
là bệnh thông thường hay bệnh mãn tính thì sự chia sẻ giữa hai thế hệ khác nhau. Trong  
cuộc sống khi về già của NCT đều bị ảnh khi NCT sống thiên về quá khứ, thì những  
hưởng nghiêm trọng nếu không được chữa người trẻ tuổi lại hướng nhiều đến tương lai.  
trị kịp thời. Có thể thấy, những chỉ số về Đó là lý do mà ngay cả các thành viên trong  
sức khỏe, thông tin về tỷ lệ bệnh tật nói trên gia đình đôi khi cũng có những hiểu lầm gây  
cho thấy nhu cầu cao về CSSK của NCT ở tranh cãi, xung đột. Điều tra về Bạo lực gia  
nông thôn hiện nay.  
đình ở Việt Nam (năm 2012) cho thấy, điển  
hình nhất là hành vi bạo lực về sức khỏe tinh  
Sức khỏe tinh thần  
Ở nông thôn Việt Nam, NCT khi về thần như sỉ nhục, cãi lộn (38%) và sử dụng  
già chủ yếu sống cùng gia đình. Tuy nhiên, ngôn ngữ thô tục (23%) NCT đều đã trải qua  
NCT cũng đang chịu tác động của sự thay (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 2012).  
đổi cấu trúc gia đình khi tỷ lệ hộ gia đình  
Như vậy, do quy mô gia đình và quan  
có cha mẹ sống chung với các con đã giảm hệ ứng xử trong gia đình thay đổi, NCT ở  
rõ rệt. Xu thế gia đình hạt nhân trở nên phổ nông thôn đang gặp phải các vấn đề về tâm  
biến khiến tỷ lệ cô đơn và cô lập ở những lý, tình cảm. Nếu không được đáp ứng về  
NCT ngày càng gia tăng (UNFPA, 2019). mặt tình cảm trong một thời gian dài, NCT  
Tỷ lệ các gia đình có quy mô nhỏ đang gia sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp về mặt sức khỏe,  
tăng và chiếm 74% trong năm 2017 (Tổng tâm lý của bản thân và gián tiếp ảnh hưởng  
cục Thống kê, 2017). Trong số những NCT tới cả các thành viên trong gia đình. Ngoài  
sống một mình, có tới 80% là phụ nữ và CSSK thể chất, sức khỏe tinh thần của NCT  
80% sống ở nông thôn (Phạm Thắng, Đỗ cũng cần được đặc biệt quan tâm để NCT  
Thị Khánh Hỷ, 2009). Nghiên cứu của sống vui, sống khỏe, sống có ích khi về già.  
Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Thị Huyền 3. Một số khó khăn trong tiếp cận dịch vụ  
Giang (2018) cho thấy, NCT ở nông thôn y tế của người cao tuổi ở nông thôn  
gặp nhiều khó khăn về sức khỏe tinh thần  
Theo A.L. Ann và A. Ronald (1973),  
do con cái thoát ly làm việc và sống xa quê. dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ liên  
Sự thay đổi về mô hình chung sống này có quan tới các chẩn đoán và điều trị bệnh  
thể khiến cho cuộc sống của NCT ở nông hoặc chương trình nâng cao, cải thiện và  
thôn càng thêm khó khăn, cả về mặt CSSK phục hồi sức khỏe. Tiếp cận dịch vụ y tế  
thể chất lẫn sức khỏe tinh thần.  
được hiểu là sự tiếp cận các dịch vụ y tế sẵn  
Tỷ lệ cô đơn của NCT ở khu vực nông có tốt nhất trong khả năng của người bệnh,  
thôn đang có xu hướng tăng theo tuổi. Ở một cho phép mọi người có được các dịch vụ  
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2019  
50  
khi họ có nhu cầu khám/ chữa bệnh. Theo chữa bệnh,... (Lê Văn Khảm, 2014). Ngay  
đó, chúng tôi làm rõ một số khó khăn trong cả với những người thường xuyên đau ốm,  
tiếp cận dịch vụ y tế của NCT nông thôn bệnh tật thì việc khám chữa bệnh của họ  
đang gặp phải hiện nay.  
cũng có những trở ngại nhất định.  
Thứ nhất, hiểu biết và nhận thức về sức  
Trình độ học vấn của NCT nói chung  
khỏe, bệnh tật của bản thân người cao tuổi còn thấp, đặc biệt là NCT ở nông thôn. Hơn  
Theo kết quả đánh giá 5 năm thực hiện 59% số NCT không có điều kiện học hành  
Luật NCT của Bộ Lao động - Thương binh đầy đủ, chỉ có 0,21% có trình độ trung học  
và Xã hội và UNFPA (2016), về chế độ bảo trở lên, do đó những hiểu biết về y học cơ  
hiểm y tế, có đến 90% NCT có thẻ bảo hiểm bản, các phương pháp tập luyện, phòng  
y tế (trong đó hơn 30% là tự mua, 59% là bệnh, tiếp cận dịch vụ y tế của NCT còn  
được cấp) (Dẫn theo: Nguyễn Quốc Anh, hạn chế (Lê Văn Khảm, 2014). Nhận thức  
2018). Như vậy, phần lớn NCT đã có nhận kém khiến cho việc tiếp cận và sử dụng các  
thức tốt hơn trong việc bảo vệ và CSSK của dịch vụ y tế của NCT ở khu vực nông thôn  
mình khi về già. Đáng lưu ý là, có 10,3% trở nên khó khăn.  
NCT chưa có bảo hiểm y tế, trong đó tỷ  
Thứ hai, thiếu sự hỗ trợ từ phía người  
lệ này ở khu vực nông thôn chiếm cao gấp thân trong gia đình  
hơn 2 lần so với khu vực thành thị (tương  
Cách sắp xếp mô hình chung sống được  
ứng là 12,5% so với 5,5%) (Bộ Lao động xem là một trong những yếu tố tác động tới  
- Thương binh và Xã hội, UNFPA, 2016), tâm lý và nhận thức của NCT trong việc  
điều này có thể do NCT Việt Nam chủ yếu lựa chọn loại hình dịch vụ y tế để sử dụng.  
sống ở nông thôn (gấp hơn 2 lần khu vực Theo mô hình truyền thống, hầu hết NCT ở  
thành thị) (Bộ Y tế, 2018).  
nông thôn sống chung với con cháu trong  
Đa số NCT ở khu vực nông thôn chưa gia đình đa thế hệ. Trong quan niệm của đa  
có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ nên số NCT, việc sống với con là đương nhiên  
khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn và họ không có lựa chọn nào khác (Bùi Thế  
khiến việc chữa trị gặp nhiều khó khăn. Cường, 2005). Điều này thể hiện rõ hơn đối  
Một số nghiên cứu cho thấy, nhìn chung với NCT ở nông thôn và với những NCT  
NCT ở nông thôn vẫn còn gặp nhiều khó có mức sống thấp. Người ở nhóm tuổi càng  
khăn trong vấn đề tự CSSK cho bản thân cao có tỷ lệ mong muốn được sống với con  
bởi họ chưa nhận thức được rõ tầm quan cháu càng nhiều. Tuy nhiên, dưới tác động  
trọng của việc điều trị sớm các loại bệnh của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, cùng  
thông thường và bệnh mãn tính ở tuổi già. với quá trình di cư đã khiến cho gia đình  
Bước sang tuổi 60, NCT cần được khám Việt Nam đang có xu hướng hạt nhân hóa  
sức khỏe định kỳ tại các cơ sở y tế để kịp và thu hẹp quy mô, tỷ lệ NCT sống chung  
thời xác định các yếu tố nguy cơ, phòng với con cái có xu hướng giảm đi (Nguyễn  
tránh và phát hiện sớm bệnh tật để chữa trị Thị Ngọc Hà, 2016).  
kịp thời. Tuy nhiên, việc khám chữa bệnh  
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa  
kịp thời đối với NCT ở nông thôn vẫn còn diễn ra mạnh mẽ ở các thành phố lớn đã thu  
hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau, hút không ít lao động nhập cư từ các khu  
từ ý thức về bảo vệ sức khỏe đến những vực nông thôn. Ngày càng có nhiều người  
lo lắng phát sinh khi biết về bệnh tật, khó trẻ tuổi rời nông thôn để tìm kiếm công việc  
khăn khi tiếp cận cơ sở y tế, chi phí khám có thu nhập cao hơn ở các đô thị, NCT ở lại  
Một số khó khăn…  
51  
nông thôn trong những hộ gia đình khuyết  
Khó khăn về kinh tế là một trong  
thế hệ và họ rất dễ tổn thương do thiếu sự những yếu tố tác động đến mô hình lựa  
chăm sóc, hỗ trợ thường xuyên của con cái. chọn sử dụng dịch vụ y tế của NCT ở nông  
NCT cô đơn là một trong những nhóm đối thôn. Năm 2016, tỷ lệ NCT sống ở mức  
tượng gặp nhiều khó khăn do nhiều người nghèo đói nghiêm trọng (dưới một nửa  
trong số họ sống thiếu thốn cả về vật chất thu nhập chuẩn nghèo) và mức nghèo đói  
lẫn tinh thần.  
tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo  
Với nguồn thu hạn chế và mức thu ở nhóm tuổi từ 80 trở lên là thấp hơn so  
nhập ít ỏi như vậy, NCT cô đơn chi tiêu với nhóm tuổi 70-79, điều này có thể do  
rất eo hẹp, chủ yếu cho những nhu cầu tỷ lệ nhóm NCT 80 tuổi trở lên được nhận  
thiết yếu, cuộc sống của họ đa phần rất khó trợ cấp xã hội cao hơn. NCT là nhóm đối  
khăn (Nguyễn Thị Ngọc Hà, 2016). Điều tượng đặc thù của xã hội, không phải NCT  
này ảnh hưởng trực tiếp tới ý thức tự CSSK nào cũng có lương và trợ cấp xã hội để  
của NCT ở nông thôn nói riêng và cả nước tự chi trả cho các hoạt động thăm khám,  
nói chung. Chăm sóc truyền thống của gia chữa bệnh của mình, đặc biệt là NCT ở  
đình đối với NCT đang giảm đi trong khi nông thôn. Vì vậy, mô hình sử dụng dịch  
thu nhập của phần lớn hộ gia đình có NCT vụ y tế ở các tuyến khác nhau hiện nay vẫn  
thấp khiến cho NCT không đủ điều kiện bị ảnh hưởng bởi khả năng chi trả và khả  
chi trả cho các dịch vụ CSSK và tới các cơ năng tiếp cận dịch vụ (Nguyễn Quốc Anh,  
sở y tế công để điều trị bệnh. Đồng thời, 2018). Đối với các bệnh thông thường,  
khó khăn trong sắp xếp cuộc sống đã khiến NCT ở nông thôn thường có xu hướng  
cho nhận thức của NCT về việc tìm hiểu không đi khám chữa bệnh ở bệnh viện mà  
các kiến thức về CSSK gặp nhiều hạn chế. sẽ tự mua thuốc điều trị hoặc tới trạm y tế  
Thay vì tới các cơ sở y tế, tự chăm sóc được xã. Tuy nhiên, đối với các bệnh lây nhiễm  
coi là hình thức phổ biến đối với NCT ở hoặc bệnh mãn tính, NCT nông thôn vẫn  
nông thôn hiện nay. Phần lớn NCT ở nông phải tới các cơ sở y tế tuyến huyện, thành  
thôn còn thiếu kiến thức về CSSK và phòng phố hoặc bệnh viện/phòng khám tư nhân  
bệnh, đặc biệt là nhóm NCT sống cô đơn để thăm khám với mức chi phí khá cao,  
không có con cháu bên cạnh.  
nhất là đối với trường hợp NCT không  
Thứ ba, khó khăn về nguồn lực kinh tế có bảo hiểm y tế. Điều này thực sự gây  
Theo số liệu của Bộ Lao động - khó khăn lớn với những NCT nghèo, NCT  
Thương binh và Xã hội, vẫn còn 1/3 số nông thôn sống ở khu vực khó khăn, vùng  
NCT thuộc diện nghèo và cận nghèo, đời sâu, vùng xa.  
sống còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các  
Số liệu phân tích từ VHLSS năm 2016  
vùng nông thôn và miền núi. Khoảng 2/3 số cho thấy, có sự chênh lệch lớn trong việc  
NCT không có nguồn trợ cấp xã hội thường lựa chọn và sử dụng các dịch vụ y tế của  
xuyên và không có bảo hiểm y tế. Chỉ có NCT nông thôn giữa các nhóm có mức  
35,6% (ở thành thị) và 21,9% (ở nông thôn) sống khác nhau. Ở loại hình bệnh viện  
có lương hưu hoặc trợ cấp từ Nhà nước. Đa tuyến trung ương, nếu như có 8,9% NCT  
số NCT có sức khỏe kém nhưng phần lớn thuộc nhóm mức sống nghèo lựa chọn sử  
là do không được chăm sóc y tế đầy đủ do dụng thì có tới 10,5% NCT thuộc nhóm  
thiếu tiền và thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ y mức sống giàu sử dụng loại hình y tế này.  
tế có chất lượng (Trần Thị Minh Thi, 2014). Tương tự, ở loại hình bệnh viện tỉnh, NCT  
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2019  
52  
nhóm nghèo là 19,7% và 24,7% ở NCT  
Về sức khỏe tinh thần, NCT nông thôn  
thuộc nhóm giàu. Ngược lại, với loại hình đang chịu tác động của sự thay đổi cấu trúc  
trạm y tế xã, nếu có tới 28,3% NCT thuộc gia đình khi tỷ lệ hộ gia đình có cha mẹ  
nhóm nghèo sử dụng thì chỉ có 12,2% NCT sống chung với các con đã giảm rõ rệt. Sự  
thuộc nhóm giàu và 14,2% NCT thuộc thay đổi về mô hình sống chung này có thể  
nhóm mức sống khá tiếp cận loại hình cơ làm cho cuộc sống của NCT càng thêm  
sở y tế này (Xem: Bảng 1). Bên cạnh đó, khó khăn, cả về mặt CSSK thể chất lẫn sức  
sự khác biệt về sử dụng loại hình cơ sở y khỏe tinh thần. NCT đang gặp các vấn đề  
tế tư nhân cũng được thể hiện rõ trong từng về tinh thần như cô đơn, mặc cảm tự ti khi  
nhóm mức sống của NCT ở khu vực nông phải nhờ đến sự giúp đỡ của người khác. Tỷ  
thôn, NCT thuộc nhóm mức sống càng cao lệ cô đơn của NCT đang có xu hướng tăng  
Bảng 1: Sử dụng dịch vụ y tế của NCT nông thôn chia theo 5 nhóm thu nhập  
Đơn vị: %  
Nhóm thu nhập  
Các loại hình cơ sở y tế  
N
Bệnh viện  
tuyến  
huyện/TP  
Bệnh viện  
Trạm y tế  
xã/phường  
Bệnh viện  
Trung  
tỉnh  
Y tế  
tư nhân  
Cơ sở y tế  
khác  
ương  
Nhóm nghèo  
Nhóm cận nghèo  
Nhóm trung bình  
Nhóm khá  
28,3  
23,9  
19,3  
14,2  
12,2  
23,6  
47  
19,7  
24,2  
22,5  
24  
8,9  
7
23,7  
23,3  
32,9  
39,7  
31,5  
26,7  
4,8  
2,6  
1,9  
1,9  
2,4  
2,5  
575  
45,2  
49,2  
42,5  
43,6  
51  
569  
579  
7,1  
6
552  
Nhóm giàu  
24,7  
22,2  
10,5  
7,2  
404  
Chung  
2.679  
Nguồn: Tính toán từ số liệu VHLSS (2016).  
thì càng có khả năng lựa chọn sử dụng dịch theo tuổi. Sống cô đơn làm gia tăng những  
vụ y tế tư nhân và các loại hình dịch vụ y tế vấn đề rủi ro trong cuộc sống của NCT, gây  
tuyến trên nhiều hơn. Như vậy, rõ ràng khó bất lợi tới sức khỏe tinh thần và sức khỏe  
khăn về kinh tế đã cản trở rất nhiều tới việc nói chung của NCT.  
tiếp cận các dịch vụ y tế của NCT ở nông  
thôn trong thời điểm hiện nay.  
4. Bàn luận và kết luận  
NCT vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong  
vấn đề tự CSSK cho bản thân do thiếu hiểu  
biết về tình hình bệnh tật và chưa nhận thức  
Các phân tích ở trên đã đề cập tới tình đầy đủ được tầm quan trọng của việc điều  
hình sức khỏe và những khó khăn trong trị sớm các loại bệnh thông thường và bệnh  
tiếp cận dịch vụ y tế của NCT ở nông thôn mãn tính ở tuổi già. Phần lớn NCT ở nông  
hiện nay. Về sức khỏe thể chất, hiện nay, thôn vẫn phải làm việc để kiếm thêm thu  
NCT chủ yếu mắc cả các bệnh mãn tính và nhập, trình độ học vấn của NCT nói chung  
bệnh thông thường. Chủ yếu là các bệnh còn thấp nên những hiểu biết về sức khỏe,  
về xương khớp, huyết áp, tim mạch, thính các phương pháp tập luyện, phòng bệnh,  
giác, thị giác… Trung bình một NCT ở Việt tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế. Nhận  
Nam đang mắc tới ba loại bệnh. Đồng thời, thức kém đi kèm với tâm lý ngại tới các  
độ tuổi càng cao, tỷ lệ mắc bệnh của NCT bệnh viện do chi phí đắt đỏ và thủ tục phức  
càng gia tăng.  
tạp đã khiến cho việc tiếp cận và sử dụng  
Một số khó khăn…  
53  
các dịch vụ y tế của NCT ở khu vực nông giảm nghèo, vay vốn sản xuất, các hoạt  
thôn trở nên khó khăn hơn. động quyên góp tài chính và vật chất từ  
Việc thay đổi mô hình chung sống đã cộng đồng,... cần tiếp tục được đẩy mạnh  
khiến cho một bộ phận NCT ở nông thôn hơn nữa để có thể chăm sóc và bảo đảm  
hiện nay thiếu đi sự hỗ trợ từ phía người an sinh xã hội tốt hơn cho NCT nông thôn  
thân trong gia đình về vấn đề CSSK. NCT trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam  
cô đơn là một trong những nhóm đối tượng hiện nay  
gặp rất nhiều khó khăn do cuộc sống thiếu  
thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Nguồn thu Tài liệu tham khảo  
hạn chế, mức thu nhập ít ỏi và thiếu hụt 1. Nguyễn Quốc Anh (2018), “Già hóa  
sự quan tâm chăm sóc cả về vật chất lẫn  
tinh thần từ phía người thân trong gia đình  
khiến NCT sống cô đơn (hoặc NCT sống  
dân số và chất lượng cuộc sống người  
cao tuổi ở Việt Nam”, Tạp chí Xã hội  
học, số 4(144), tháng 12.  
với cháu) trở thành nhóm đối tượng yếu 2. Ann, A. L., & Ronald, A. (1973), A  
thế của xã hội, không thể tự lo liệu được  
cuộc sống của mình, nhất là khi rơi vào tình  
trạng ốm đau bệnh tật.  
Về nguồn lực kinh tế, mô hình sử dụng  
dịch vụ y tế ở các tuyến khác nhau hiện nay  
vẫn bị ảnh hưởng bởi khả năng chi trả của  
Framework for the Study of Access to  
Medical Care, Health Services Research.  
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã  
hội, UNFPA (2016), Báo cáo đánh giá  
5 năm thực hiện Luật người cao tuổi,  
Hà Nội.  
NCT. NCT ở nông thôn vẫn còn phải lao 4. Bộ Lao động - Thương binh và  
động để kiếm thêm thu nhập và có mức  
sống thấp. Hiện nay, nguồn thu nhập chủ  
yếu của NCT ở nông thôn vẫn là nông  
nghiệp hoặc được hỗ trợ từ con cháu, điều  
Xã hội (2019), Cuộc sống cho  
người cao tuổi, http://www.molisa.  
gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?Tin  
TucID=29546&page=20  
này ảnh hưởng trực tiếp tới ý thức tự CSSK 5. BộYtế(2018), ViệtNamcònnhiềuthách  
của NCT ở nông thôn nói riêng và cả nước  
nói chung. NCT thuộc nhóm mức sống  
càng cao thì càng có khả năng lựa chọn sử  
dụng dịch vụ y tế tư nhân và các loại hình  
dịch vụ y tế tuyến trên nhiều hơn nhóm  
NCT có mức sống thấp ở nông thôn.  
thức trong chăm sóc sức khỏe người  
chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/-/asset  
_publisher/7ng11fEWgASC/content/  
viet-nam-con-nhieu-thach-thuc-trong  
-cong-tac-cham-soc-suc-khoe-nguoi  
-cao-tuoi?inheritRedirect=false  
Như vậy, tình hình sức khỏe và khó  
khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế của 6. Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Thị Huyền  
NCT ở nông thôn cho thấy, công tác  
truyền thông, hướng dẫn CSSK đối với  
NCT cần tiếp tục được quan tâm. Mạng  
lưới y tế cơ sở cần được phát triển hơn  
với mô hình tổ chức phù hợp để NCT tiếp  
cận dịch vụ thuận tiện. Nhà nước cần chú  
trọng mở rộng các loại hình và quy mô bao  
phủ về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.  
Các hoạt động trợ giúp NCT như xóa đói  
Giang (2018), “Thách thức đặt ra đối  
với thực hiện quyền chăm sóc sức  
khỏe của Người cao tuổi ở nông thôn  
Trung du miền núi phía Bắc”, trong: Vũ  
Công Giao (chủ biên, 2018), Quyền của  
Người cao tuổi, Nxb. Chính trị quốc  
gia- Sự thật, Hà Nội.  
(xem tiếp trang 32)  
pdf 7 trang yennguyen 22021 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế của người cao tuổi ở nông thôn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_kho_khan_trong_tiep_can_dich_vu_y_te_cua_nguoi_cao_tu.pdf