Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI  
THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2018  
Nguyễn Hữu Thắng1,, Nguyễn Thị Như Ngọc2, Nguyễn Hà Lâm2,  
Phạm Hải Thanh2, Nguyễn Ngọc Khánh2, Nguyễn Vũ Thiện2,  
Đỗ Thị Thanh Toàn1, Lê Thị Thanh Xuân1, Nguyễn Thị Phương Thùy3  
1 Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội,  
2Sinh viên Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội,  
3Trường Đại học Thành Đô  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 504 người từ 60 tuổi trở lên  
sử dụng bộ câu hỏi WHOQOL-OLD nhằm mô tả chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố  
Hà Nội năm 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy: trung bình điểm chất lượng cuộc sống chung của  
người cao tuổi theo thang điểm 100 là 74,94 ± 13,14 điểm. Điểm chất lượng cao nhất ở khía cạnh  
Tình thân với 77,95 ± 21,70 điểm, thấp nhất là Giác quan với 70,56 ± 21,31 điểm. Đa số đối tượng  
nghiên cứu có CLCS ở mức tốt và khá, tuy nhiên vẫn còn 5,0% ở mức trung bình và 0,4% ở mức thấp.  
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, người cao tuổi, WHOQOL-OLD, Hà Nội.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam là một trong những nước có tốc  
độ già hóa nhanh nhất thế giới.¹ Quá trình già  
hoá quá nhanh khiến chúng ta không kịp ứng  
phó với những thách thức mà nó gây ra. Một  
vấn đề cần được chú trọng trong xã hội đang  
phát triển hiện nay là chất lượng cuộc sống của  
người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới,  
chất lượng cuộc sống là “sự hiểu biết của cá  
nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn  
hóa và hệ thống các giá trị, và trong mối quan  
hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và  
mối quan tâm của họ”.2 Chất lượng cuộc sống  
thường được đánh giá về bốn khía cạnh chính  
là sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, các mối  
quan hệ xã hội và môi trường sống.3,4 chất  
lượng cuộc sống có những đặc điểm khác nhau  
tại các vùng kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau.  
Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế,  
chính trị của Việt Nam với sự phát triển kinh tế,  
dân cư đông đúc. Gánh nặng từ sự già hóa dân  
số nhanh chóng đang gây áp lực nặng nề lên sự  
phát triển chung của Thủ đô đặc biệt là về đảm  
bảo chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.  
Kết quả nghiên cứu tại phường Trung Tự, Hà  
Nội năm 2016 cho thấy điểm chất lượng cuộc  
sống của người cao tuổi ở tất cả các khía cạnh  
đều ở mức trung bình trong đó thấp nhất là khía  
cạnh thể chất.⁵ Những năm gần đây, mặc dù  
chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thủ  
đô đã được cải thiện cùng với những tiến bộ  
nhất định của hệ thống y tế, chính sách, pháp  
luật tuy nhiên đây vẫn còn là một vấn đề gây  
nhiều thách thức. Một nguyên nhân không nhỏ  
là do thiếu các bằng chứng khách quan phục  
vụ việc thiết kế và thực hiện các chính sách và  
chương trình can thiệp phù hợp. Vì vậy, chúng  
tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng  
chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành  
phố Hà Nội năm 2018.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Hữu Thắng,  
Viện ĐT YHDP &YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 07/02/2020  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Ngày được chấp nhận: 11/06/2020  
66  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
1. Đối tượng  
hỏi gồm 2 phần. Phần 1: Thông tin chung về  
đặc điểm cá nhân gồm: tuổi, giới, tôn giáo, tình  
trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập, nợ  
nần, bệnh đang mắc, sức khỏe tự đánh giá,  
người sống cùng, người chăm sóc chính, chủ  
hộ gia đình, số con, thời gian lưu trú, khu vực  
sống. Phần 2: Thang đo chất lượng cuộc sống  
WHOQOL - OLD gồm 24 câu hỏi chia thành 6  
khía cạnh, mỗi khía cạnh gồm 4 câu hỏi: Giác  
quan, Tự chủ, Hoạt động xã hội, Hoạt động  
quá khứ, hiện tại và tương lai, Cái chết và Tình  
thân.⁷  
Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) hiện đang  
sinh sống trong địa bàn thành phố Hà Nội liên  
tục ít nhất 12 tháng tính đến thời điểm nghiên  
cứu và tự nguyện tham gia phỏng vấn. Những  
người từ chối tham gia nghiên cứu hoặc gặp  
khó khăn trong việc hiểu và hoàn thành bộ câu  
hỏi đều bị loại.  
2. Phương pháp  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nghiên cứu  
được triển khai tại thành phố Hà Nội từ tháng  
9/2018 đến tháng 6/2019.  
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu  
ước tính giá trị trung bình trong quần thể:  
s2  
3. Xử lý phân tích số liệu  
Thông tin được thu thập được nhập, mã hóa  
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng  
phần mềm STATA 15. Điểm chất lượng cuộc  
sống được tính bằng tổng điểm của các câu và  
quy đổi sang thang điểm 100 theo hướng dẫn  
của Tổ chức Y tế thế giới. Phân loại chất lượng  
cuộc sống thành 4 mức độ: 0 - 25 điểm: chất  
lượng cuộc sống thấp. 26 - 50 điểm: chất lượng  
cuộc sống trung bình. 51 - 75 điểm: chất lượng  
cuộc sống khá. 76 - 100 điểm: chất lượng cuộc  
sống cao. Áp dụng các phương pháp phân tích  
mô tả: tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình,  
độ lệch chuẩn , so sánh sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p < 0,05.  
n = Z21-α/2  
2
∆
Trong đó:  
n: là số người cao tuổi cần điều tra; s: độ  
lệch chuẩn = 10,16 ước tính từ nghiên cứu  
trước đây;6 ∆ = 0,93: khoảng sai lệch cho phép  
giữa điểm trung bình chất lượng cuộc sống thu  
được từ mẫu nghiên cứu và tham số của quần  
thể; α : Mức ý nghĩa thống kê lựa chọn = 0,05;  
Giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị a =  
0,05 là 1,96. Dự phòng 10%, cỡ mẫu tính được  
và thực tế số đối tượng tham gia nghiên cứu  
là 504.  
Chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu nhiều  
giai đoạn. Chọn ngẫu nhiên hệ thống 3 quận  
nội thành (Đống Đa, Long Biên, Nam Từ Liêm)  
và 3 huyện ngoại thành (Thanh Trì, Đông Anh,  
Thanh Oai) thuộc địa bàn thành phố Hà Nội.  
Trong mỗi quận / huyện đó chọn ngẫu nhiên  
hệ thống 3 phường / xã. Trong mỗi phường/ xã  
chọn mẫu thuận tiện 2 tổ dân phố / thôn. Trong  
mỗi tổ dân phố / thôn chọn 21 người cao tuổi  
theo phương pháp “cổng liền cổng”.  
4. Đạo đức trong nghiên cứu  
Nghiên cứu là một phần nghiên cứu của Đại  
học Mahidol, Thái Lan tại 5 quốc gia được hội  
đồng đạođứcTrường đại học Mahidol phê duyệt  
ngày 10/03/2018 với mã số 2018/218.2809.  
Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải  
thích về mục đích, nội dung của nghiên cứu, tự  
nguyện đồng ý tham gia. Thông tin thu được sẽ  
được giữ bí mật và chỉ được sử dụng phục vụ  
cho mục đích nghiên cứu.  
Thông tin được thu thập bằng phương pháp  
phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi với bộ câu  
III. KẾT QUẢ  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
67  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
1. Thông tin chung  
Nghiên cứu được thực hiện trên 504 người từ 60 tuổi trở lên có độ tuổi trung bình là 67,97 ±  
6.93; nhỏ nhất là 60 tuổi và lớn nhất là 92 tuổi. người cao tuổi là nữ giới chiếm đa số với 56,94%  
và 51,98% người cao tuổi có trình độ THCS/ Trường dạy nghề. người cao tuổi có vợ/ chồng chiếm  
74,61%; 22,22% người cao tuổi góa/ ly thân/ ly dị; còn lại 3,17% sống một mình. người cao tuổi sinh  
sống tại khu vực nông thôn chiếm 53,17%. người cao tuổi có thu nhập từ công việc chiếm 76,39% và  
chỉ 4,37% đối tượng có nợ nần. Tỷ lệ người cao tuổi tự làm chủ hộ gia đình là lớn nhất với 42,46%.  
Liên quan đến tình trạng sức khỏe, tỷ lệ người cao tuổi tự đánh giá ở mức độ trung bình là 51,4%.  
Tỷ lệ người cao tuổi tự đánh giá mức độ tốt và rất tốt là lần lượt là 20,8% và 5,2%. Có 21,4 % người  
cao tuổi tự đánh giá ở mức không tốt và 1,2% ở mức rất không tốt. Phần lớn người cao tuổi hiện  
đang sống cùng với vợ/ chồng (72,22%) và con cái (59,33%). Trong sinh hoạt hàng ngày, người cao  
tuổi tự chăm sóc chiếm 70,04% và 21,63% được chăm sóc bởi vợ/chồng.  
2. Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội  
Bảng 1. Điểm chất lượng cuộc sống người cao tuổi (n = 504)  
TB ± ĐLC  
Khía cạnh chất lượng cuộc sống  
(Thang điểm 100)  
Giác quan  
70,56 ± 21,31  
73,66 ± 19,17  
75,62 ± 19,98  
74,21 ± 20,00  
77,64 ± 24,50  
77,95 ± 21,70  
74,94 ± 13,14  
Tự chủ  
Hoạt động xã hội  
Hoạt động quá khứ, hiện tại, tương lai  
Cái chết  
Tình thân  
Điểm CLCS chung  
Trung bình điểm chất lượng cuộc sống chung của người cao tuổi trong nghiên cứu này theo  
thang điểm 100 là 74,94 ± 13,14 điểm, trong đó cao nhất ở khía cạnh Tình thân với 77,95 ± 21,70  
điểm, thấp nhất là Giác quan với 70,56 ± 21,31 điểm. Điểm trung bình của khía cạnh Tự chủ là 73,66  
± 19,17 điểm, khía cạnh Hoạt động xã hội là 75,62 ± 19,98 điểm, khía cạnh Hoạt động quá khứ, hiện  
tại, tương lai là 74,21 ± 20,00 điểm và khía cạnh Cái chết là 77,64 ± 24,50 điểm.  
68  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
4,96%  
0,40%  
Thấp  
Trung bình  
Khá  
50,79%  
43,85%  
Tốt  
Biểu đồ 1. Xếp loại chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (N=504)  
Đa số đối tượng nghiên cứu có chất lượng cuộc sống ở mức tốt với 50,8%, tiếp đó là chất lượng  
cuộc sống khá với 43,8%. Có 5,0% đối tượng có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình và chỉ có  
0,4% đối tượng có điểm chất lượng cuộc sống kém.  
IV. BÀN LUẬN  
WHOQOL-OLD là bộ công cụ đánh giá chất  
lượng cuộc sống chú trọng vào các thuộc tính  
tâm lý của người cao tuổi đã được sử dụng tại  
nhiều quốc gia trên thế giới. Việc đánh giá chất  
lượng cuộc sống của người cao tuổi dựa trên  
6 khía cạnh: Giác quan; Tự chủ; Hoạt động xã  
hội; Hoạt động quá khứ, hiện tại và tương lai;  
Cái chết; Tình thân.⁷  
73,66 ± 19,17; cao hơn kết quả nghiên cứu  
của Gambin và cộng sự tại Brazil năm 2015 với  
62,3 ± 10,9 điểm.⁸ Điều này có thể là do sự  
khác nhau về khu vực giữa địa điểm của hai  
nghiên cứu. Trong khi Gambin thực hiện nghiên  
cứu tại một vùng nông thôn thì nghiên cứu này  
được thực hiện tại Hà Nội – trung tâm văn hóa,  
kinh tế, chính trị của Việt Nam.  
Trong sáu khía cạnh trên, khía cạnh “Giác  
quan” có điểm trung bình thấp nhất là 70,56  
± 21,31 điểm (0 - 100). Kết quả này thấp hơn  
không đáng kể so với nghiên cứu của Võ Xuân  
Nam tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 với  
74,24 ± 20,30 điểm.⁶ Do đó, người cao tuổi  
cần được kiểm tra thường xuyên chức năng  
các giác quan nhằm phát hiện sớm những bất  
thường đồng thời được tư vấn các biện pháp  
khắc phục những bất tiện sẽ gặp phải gây ảnh  
hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống.  
Trong WHOQOL-OLD, khía cạnh “Hoạt  
động xã hội” miêu tả mức độ tham gia vào các  
hoạt động trong đời sống hằng ngày của người  
cao tuổi, đặc biệt là các hoạt động cộng đồng  
có điểm trung bình là 75,62 ± 19,98 tương đồng  
với nghiên cứu của Võ Xuân Nam năm 2015  
với 76,02 ± 14,56 điểm.⁶ Có thể thấy, khuyến  
khích người cao tuổi tham gia tích cực vào các  
hoạt động xã hội là một phương pháp trợ giúp  
họ tự khẳng định vai trò và những đóng góp của  
mình cho xã hội qua đó chủ động nâng cao chất  
lượng cuộc sống.  
Khía cạnh “Tự chủ” với điểm trung bình  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
69  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Xem xét chất lượng cuộc sống từ sự hài lòng  
về các thành tựu đã đạt được và những điều  
mong đợi trong tương lai, khía cạnh “Hoạt động  
quá khứ, hiện tại và tương lai” có điểm trung  
bình là 74,21 ± 20,00 và trên thang điểm từ 4 -  
20 là 16,10 ± 3,20, cao hơn kết quả nghiên cứu  
của Bilgili trên 300 người cao tuổi tại Thổ Nhĩ  
Kỳ năm 2014 với 13,25 ± 2,92.⁹ Sự khác biệt  
này có thể giải thích do Nhà nước ta đã thực  
hiện rất tốt công tác đền ơn đáp nghĩa đối với  
những người có công với đất nước.  
và khá tuy nhiên vẫn còn 5,0% ở mức trung  
bình và 0,4% có chất lượng cuộc sống thấp.  
Kết quả này cao hơn so với một nghiên cứu  
tại Campuchia năm 2017 với 69,0% người cao  
tuổi có mức chất lượng cuộc sống thấp.11 Như  
vậy, chất lượng cuộc sống của người cao tuổi  
thành phố Hà Nội là khá cao. Tuy nhiên, cũng  
cần có thêm các nghiên cứu tương tự tại Hà  
Nội để làm rõ hơn kết quả này đồng thời tìm  
hiểu thêm về các yếu tố liên quan.  
V. KẾT LUẬN  
Có điểm trung bình khá cao là khía cạnh  
“Cái chết” với 77,64 ± 24,50 điểm và 16,42 ±  
3,92 điểm trên thang điểm từ 4-20, tương đồng  
với nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Vân Anh năm  
2017 tại thị trấn Gia Rai, huyện Xuân Lộc, tỉnh  
Đồng Nai.10 Đa phần người cao tuổi không sợ  
chết nhưng họ sợ đau đớn trước khi chết. Sự  
lo lắng về bệnh tật đặc biệt là căn bệnh ung  
thư mang đến nhiều đau đớn trước khi chết làm  
chất lượng cuộc sống của người cao tuổi kém  
hơn.  
Trung bình điểm chất lượng cuộc sống  
chung của người cao tuổi trong nghiên cứu này  
theo thang điểm 100 là 74,94 ± 13,14 điểm,  
trong đó cao nhất ở khía cạnh Tình thân với  
77,95 ± 21,70 điểm còn thấp nhất là Giác quan  
với 70,56 ± 21,31 điểm. Điểm trung bình của  
khía cạnh Tự chủ là 73,66 ± 19,17 điểm, khía  
cạnh Hoạt động xã hội là 75,62 ± 19,98 điểm,  
khía cạnh Hoạt động quá khứ, hiện tại, tương  
lai là 74,21 ± 20,00 điểm và khía cạnh Cái chết  
là 77,64 ± 24,50 điểm. Đa số đối tượng nghiên  
cứu có chất lượng cuộc sống ở mức tốt với  
50,8%, tiếp đó là chất lượng cuộc sống khá với  
43,8%. Vẫn còn 5,0% đối tượng có chất lượng  
cuộc sống ở mức trung bình và chỉ có 0,4% đối  
tượng có điểm chất lượng cuộc sống kém.  
Cuối cùng, khía cạnh “Tình thân” cho thấy  
khả năng có thể có các mối quan hệ cá nhân và  
thân mật mang lại điểm cao nhất trong 6 khía  
cạnh là 77,95 ± 21,70. Kết quả này cao hơn so  
với hầu hết các trung tâm tham gia thử nghiệm  
bộ công cụ WHOQOL-OLD của WHO.⁷ Xem  
xét về vấn đề này trên phương diện văn hóa  
truyền thống của Việt Nam, người già rất nhạy  
cảm với các chủ đề về tình yêu, tình dục và  
có thể không thể hiện cảm xúc thật của họ khi  
được phỏng vấn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y tế. Báo cáo tổng quan chung ngành  
Y tế năm 2016. Hướng tới mục tiêu già hóa  
khỏe mạnh ở Việt Nam. 2016.  
2. The World Health Organization quality of  
life assessment (WHOQOL). Possition paper  
from the World Health Organization. Soc Sci  
Med. 1995;41 (10):1403-1409.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung  
bình chất lượng cuộc sống của người cao tuổi  
thành phố Hà Nội năm 2018 là 74,94 ± 13,14,  
tương đồng với nghiên cứu của Võ Xuân Nam  
với điểm trung bình chất lượng cuộc sống của  
người cao tuổi thành phố Hồ Chí Minh năm  
2015 là 76,62 ± 10,16 điểm.6 Đa số đối tượng  
nghiên cứu có chất lượng cuộc sống ở mức tốt  
3. Conde-Sala JL, Portellano-Ortiz C, Calvó-  
Perxas L, Garre-Olmo J. Quality of life in people  
aged 65+ in Europe: associated factors and  
models of social welfare—analysis of data from  
the SHARE project (Wave 5). Qual Life Res.  
70  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
2017; 26(4):1059-1070.  
8. G. Gambin, A. Molzahn, A. C. Fuhrmann  
et al. Quality of life of older adults in rural  
southern Brazil. 2015;15 (3):3300.  
4. Jan Nilsson, A. K. M. Masud Rana, Zarina  
Nahar Kabir. Social capital and quality of life in  
old age: results from a cross-sectional study  
in rural Bangladesh. J Aging Health. 2006;  
18(3):419-434.  
9. Bilgili N, Arpacı F. Quality of life of older  
adults in Turkey. Arch Gerontol Geriatr. 2014;  
59(2):415-421.  
10. Huỳnh Ngọc Vân Anh. Trầm cảm và các  
yêu tố liên quan của người cao tuổi tại thị trấn  
Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Hội  
Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Lần 34 Đại Học Dược  
2017. 2017.  
5. Vu Toan Thinh. Quality of life and some  
determinants among the elderly living in Trung  
Tu commune - Ha Noi. Med Bachelor Hanoi  
Med Univ. 2013.  
6. Nam Xuan Vo, Trung Quang Vo, Somtip  
Watanapongvanich et al. Measurement and  
Determinants of Quality of Life of Older Adults  
in Ho Chi Minh City, Vietnam. Soc Indic Res.  
2018; 142(3):1285-1303.  
11.  
Sereyraksmey  
Long,  
Supaporn  
Sudnongbua. Quality of life among elderly  
people in Kampong Cham province, Cambodia.  
Southeast Asian J Trop Med Public Health.  
2017;48 (4):884-891.  
7. WHO. The WHOQOL-OLD module -  
manual. 2006.  
Summary  
QUALITY OF LIFE OF THE ELDERLY IN HANOI CITY IN 2018  
A cross-sectional study was conducted to describe the quality of life of the elderly in  
Hanoi city in 2018. 504 subjects were interviewed using the WHOQOL-OLD questionnaire.  
Results showed that the overall quality of life of the elderly was 74.94 ± 13,14 on 100  
scale. The highest facet scored was Intimacy (77.95 ± 21.70) while the lowest facet scored  
was the Sensory with 70.56 ± 21.31 points. The majority of participants had quality of life  
at good and very good level but there was 5.0% at medium level and 0.4% at low level.  
Keywords: Quality of life, the elderly, WHOQOL-OLD, Hanoi.  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
71  
pdf 6 trang yennguyen 19880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_cua_nguoi_cao_tuoi_thanh_pho_ha_noi_nam.pdf