Hiệu quả chương trình tập huấn nâng cao kiến thức về đái tháo đường của người cao tuổi mắc đái tháo đường type 2 tại thành phố Cần Thơ

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN NÂNG CAO KIẾN THỨC VỀ  
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI MẮC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG  
TYPE 2 TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ  
Dương Thị Minh Tâm*, Nguyễn Ngọc Duy*, Nguyễn Thị Thùy*, Nguyễn Thị Tuyết Vân*,  
Mai Tiến Thành*, Võ Hoàng Phương*, Lê Đình Trọng Nhân*  
TÓMTẮT  
Đặt vấn đề: Tại thành phố Cần Thơ, điều tra của Trung tâm Y tế dự phòng năm 2013 cũng cho thấy có tới  
60% người bị bệnh đái tháo đường týp 2 không biết mình đang mắc bệnh. Do đó, việc triển khai mô hình can  
thiệp giúp cải thiện tình trạng đái tháo đường của bệnh nhân là việc làm cần thiết.  
Mục tiêu: Nâng cao kiến thức về chế độ dinh dưỡng và tự kiểm soát ĐTĐ, thực hành dinh dưỡng cũng như  
thực hành vận động thể lực của bệnh nhân ĐTĐ tại 4 phường/xã tại thành phố Cần Thơ.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang can thiệp tập huấn kiến thức về ĐTĐ. Mỗi phường/xã  
chọn ra toàn bộ những bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc ĐTĐ trong đợt tầm soát bệnh không lây năm 2017 và  
năm 2018 tại thành phố Cần Thơ. Trước can thiệp tất cả bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt về  
kiến thức chung về bệnh tiểu đường, kiến thức chế độ dinh dưỡng, và thực hành dinh dưỡng, thực hành vận  
động thể lực của bệnh nhân. Ngoài ra dữ liệu về mức đường huyết và BMI của bệnh nhân cũng được thu thập.  
Bệnh nhân sau đó sẽ được tập huấn kiến thức về bệnh và dinh dưỡng cho người đái tháo đường đồng thời được  
phát tài liệu tập huấn. Sau tập huấn 1 tháng, bệnh nhân sẽ được đánh giá lại kiến thức và đo lại mức đường  
huyết của bệnh nhân.  
Kết quả: Tổng cộng có 197 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam (73,1% so với  
26,9%). Độ tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 60-69 (49,7%) và < 60 tuổi (35,5%). Sau can thiệp hầu hết các kiến  
thức đều cải thiện (> 70%) trừ các kiến thức về vai trò nhóm thực phẩm (66,7%), kiến thức về đọc nhãn thực  
phẩm (2,0%) và kiến thức về vận động thể lực (46,7%). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hành vi vận động  
thể lực (p< 0,001).  
Kết luận: Can thiệp tập huấn nâng cao kiến thức cho bệnh nhân ĐTĐ tại thành phố Cần Thơ mang lại hiệu  
quả nhất định. Bệnh nhân có sự cải thiện về kiến thức chung về ĐTĐ và kiến thức về dinh dưỡng dành cho bệnh  
nhân ĐTĐ.  
Từ khóa: đái tháo đường, người cao tuổi, tập huấn, kiến thức, thực hành  
ABSTRACT  
THE EFFECTIVENESS OF A TRAINING PROGRAM ON DIABETES KNOWLEDGE  
TO TYPE 2 DIABETES ELDERLY IN CAN THO CITY  
Duong Thi Minh Tam, Nguyen Ngoc Duy, Nguyen Thi Thuy, Nguyen Thi Tuyet Van, Mai Tien  
Thanh, Vo Hoang Phuong, Le Dinh Trong Nhan  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 396 - 402  
Background: According to a survey of Can Tho Preventive Health Center, there were up to 60% of type 2  
diabetes patients not knowing they had gotten the disease. Therefore, it was necessary to implement an  
intervention program to diabetes patients.  
*Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: ThS. Dương Thị Minh Tâm ĐT: 0903172012  
396  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Objectives: To improve knowledge of diabetes and nutritional diet, practices of diet and physical activity  
among diabetes patients in 4 communes in Can Tho City.  
Methods: A cross-sectional study was carried out in Can Tho City. All diabetes patients monitored in four  
selected communes were enrolled in the study. Prior to training program, all patients were interviewed about  
their knowledge and practices of diabetes and nutritional diet and were measured BMI and blood glucose. After  
one month, they took part in a two-days training course and were received training materials. One month later,  
we reevaluated patients’ knowledge and practices.  
Results: There were a total of 197 patients enrolled in the study. Females were predominated in the study  
(73.1%). Most of patients aged under 60 (35.5%) and from 60 to 69 (49.7%). After intervention, most of  
knowledge were improved (> 70%), except for knowledge of roles of food elements (66.7%), of reading of  
nutritional fact label (2.0%), and of physical activity (46.7%). There was a significant difference on practice of  
physical activity of patients between prior and after intervention (p< 0.001).  
Conclusion: The training program on improvement of knowledge of diabetes patients in Can Tho City had  
brought a relative effectiveness. Patients had improvements on general knowledge of diabetes and nutritional diet.  
Keywords: diabetes, elderly, training course, knowledge, practice  
huyết sau can thiệp.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Có 70% bệnh nhân thực hành dinh dưỡng  
Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc đái tháo  
đúng sau can thiệp.  
đường (ĐTĐ) cũng gia tăng nhanh chóng. Theo  
70% bệnh nhân thực hành vận động thể lực  
kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung  
đầy đủ sau can thiệp.  
ương tỷ lệ đái thái đường trên toàn quốc là 5,7%  
dân số. Nếu so sánh với năm 2002 thì tỷ lệ này  
đã tăng lên 211%. Dự báo đến năm 2025, số  
người đái tháo đường sẽ tăng xấp xỉ 3 triệu  
người(4).  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Là người dân trên 40 tuổi mắc ĐTĐ sinh  
sống tại 04 phường/xã: huyện Cờ Đỏ (xã Thới  
Xuân, và xã Trung An), quận Bình Thủy  
(phường Long Tuyền và phường Thới An  
Đông). Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2018 –  
tháng 12/2018.  
Tại thành phố Cần Thơ, điều tra của Trung  
tâm Y tế dự phòng năm 2013 cũng cho thấy có  
tới 60% người bị bệnh đái tháo đường týp 2  
không biết mình đang mắc bệnh. Do đó, việc  
triển khai mô hình can thiệp giúp cải thiện tình  
trạng đái tháo đường của bệnh nhân là việc làm  
cần thiết, nhằm hỗ trợ hiệu quả cho công tác  
phòng ngừa bệnh tật và đặc biệt các yếu tố nguy  
cơ của bệnh, hạn chế số người mắc bệnh trong  
cộng đồng, ngăn chặn tàn tật, tử vong sớm và  
giảm quá tải tại các bệnh viện.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu cắt ngang can thiệp tập huấn  
kiến thức về ĐTĐ.  
Mỗi phường/xã chọn ra toàn bộ những bệnh  
nhân trên 40 tuổi đã được chẩn đoán mắc ĐTĐ  
trong đợt tầm soát bệnh không lây năm 2017 và  
năm 2018 tại thành phố Cần Thơ. Trước can  
thiệp tất cả bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp  
mặt đối mặt về: (1) kiến thức chung về bệnh tiểu  
đường, (2) kiến thức chế độ dinh dưỡng; (3) thực  
hành dinh dưỡng; (4) thực hành vận động thể  
lực của bệnh nhân.  
Mục tiêu nghiên cứu  
Nâng cao kiến thức về chế độ dinh dưỡng,  
thực hành dinh dưỡng cũng như thực hành vận  
động thể lực của bệnh nhân ĐTĐ tại 4  
phường/xã tại thành phố Cần Thơ với mục tiêu:  
Có 70% bệnh nhân ĐTĐ có kiến thức đúng  
về chế độ dinh dưỡng và tự kiểm soát đường  
397  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Đặc điểm  
Góa vợ/chồng  
Thời gian mắc ĐTĐ  
< 1 năm  
n
%
Ngoài ra dữ liệu về mức đường huyết và  
BMI của bệnh nhân trước thời điểm can thiệp  
(được quản lý bởi trạm y tế phường/xã) cũng  
được thu thập. Bệnh nhân sau đó sẽ được tổ  
chức 1 buổi tập huấn nhóm về kiến thức về bệnh  
và dinh dưỡng cho người đái tháo đường đồng  
thời được phát tài liệu tập huấn với các nội  
dung: (1) Tập huấn nâng cao kiến thức về bệnh  
đái tháo đường; (2) Tập huấn kiến thức về dinh  
dưỡng đái tháo đường; (3) Tập huấn về tự kiểm  
soát đường huyết; (4) Tập huấn về thay đổi hành  
vi. Sau tập huấn 1 tháng, bệnh nhân sẽ được  
đánh giá lại kiến thức và đo lại mức đường  
huyết của bệnh nhân.  
32  
16,4  
28  
82  
87  
14,2  
41,6  
44,2  
1-5 năm  
> 5 năm  
Nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam (73,1% so với  
26,9%). Độ tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 60-69  
(49,7%) và <60 tuổi (35,5%). Đa số (58,4%) bệnh  
nhân có trình độ học vấn cấp 1, và có 11,2% mù  
chữ. Có 97% là dân tộc Kinh. Có đến 80% bệnh  
nhân có gia đình và chỉ có 3,1% độc thân.  
Hầu hết bệnh nhân là người già hoặc hưu trí  
hoặc nội trợ (62,4%). Thu nhập gia đình trung  
bình của các bệnh nhân vào khoảng 3,4 ± 3,4  
triệu/tháng. Chỉ có 9/197 bệnh nhân (4,6%) đã  
từng tham dự lớp tập huấn về chế độ ăn dành  
cho người ĐTĐ. Trong số này có 77,8% được tập  
huấn tại trạm y tế xã/phường.  
Kiến thức đúng về chế độ dinh dưỡng và tự  
kiểm soát đường huyết: bệnh nhân có kiến thức  
đúng khi trả lời đúng >70% các câu hỏi kiến  
thức. Thực hành đúng về chế biến thực phẩm:  
bệnh nhân có thực hành đúng khi thực hành  
>70% các phương pháp chế biến thực phẩm  
đúng dành cho bệnh nhân ĐTĐ.  
Có 44,2% và 41,6% bệnh nhân có thời gian  
mắc ĐTĐ >5 năm và 1-5 năm. Thời gian điều trị  
của các bệnh nhân cũng từ 1-5 năm (40,8%) và >5  
năm (42,9%). Hiện có 89,9% bệnh nhân đang sử  
dụng thuốc đường uống và 4,5% vừa sử dụng  
insulin và thuốc uống. Có 71,9% bệnh nhân  
không có người thân mắc ĐTĐ. Tuy nhiên cũng  
có 11,2% có anh/chị/em ruột mắc ĐTĐ trước đó.  
KẾT QUẢ  
Tổng cộng có 197 bệnh nhân tham gia  
nghiên cứu. Sau đây là đặc điểm của bệnh nhân  
trước khi can thiệp.  
Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu  
Tình trạng sức khỏe bệnh nhân trước và sau  
can thiệp  
Bảng 1: Đặc điểm dân số học của bệnh nhân (n=197)  
Đặc điểm  
n
%
Giới  
Bảng 2: Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước và  
Nam  
53  
26,9  
73,1  
sau can thiệp  
Nữ  
144  
Trước can  
thiệp  
Sau can  
thiệp  
Tuổi  
< 60  
Đặc điểm  
p
70  
98  
23  
6
35,5  
49,7  
11,7  
3,1  
(TB ± ĐLC)  
(TB ± ĐLC)  
60-69  
BMI (kg/m2)  
22,9 ± 3,3  
8,4 ± 2,6  
23.3 ± 3.2 0,27  
8,7 ± 9,2 0,73  
70-79  
Đường huyết (mmol/l)  
≥ 80  
Không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về  
chỉ số BMI và đường huyết của bệnh nhân trước  
và sau can thiệp (p >0,27). Trước can thiệp BMI  
của bệnh nhân là 22,9 còn sau can thiệp là 23,3.  
Đường huyết trước can thiệp là 8,4 và sau can  
thiệp là 8,7 (Bảng 2).  
Trình độ học vấn  
Mù chữ  
22  
18  
115  
23  
12  
7
11,2  
9,1  
Biết đọc, biết viết  
Cấp 1  
58,4  
11,7  
6,1  
Cấp 2  
Cấp 3  
Trung cấp/cao đẳng/đại học  
Tình trạng hôn nhân  
Có gia đình  
Độc thân / Ly thân / Ly dị  
3,5  
Kiến thức của bệnh nhân trước và sau can thiệp  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến  
thức chung đái tháo đường, dưỡng chất chính,  
156  
7
80,0  
3,6  
398  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
vai trò nhóm thực phẩm, quy tắc nấu nướng,  
kiến thức về vận động trước và sau can thiệp  
trên bệnh nhân (p <0,001) (Bảng 3).  
kiến thức đều cải thiện (>70%) trừ các kiến thức  
về vai trò nhóm thực phẩm (66,7%), kiến thức về  
đọc nhãn thực phẩm (2,0%) và kiến thức về vận  
động thể lực (46,7%) (Bảng 4).  
Có sự cải thiện kiến thức của bệnh nhân sau  
can thiệp (p <0,001). Sau can thiệp hầu hết các  
Bảng 3: Kiến thức của bệnh nhân trước và sau can thiệp  
Trước can thiệp  
(TB ± ĐLC)  
Sau can thiệp  
(TB ± ĐLC)  
Đặc điểm  
p
Kiến thức chung về đái tháo đường  
Kiến thức về dưỡng chất chính  
Kiến thức về vai trò các nhóm thực phẩm  
Kiến thức về chế độ ăn  
11,6 ± 5,7  
3,8 ± 6,9  
5,9 ± 4,2  
9,1 ± 4,9  
3,8 ± 1,9  
0,1 ± 1,2  
0,3 ± 0,5  
23.3 ± 3.2  
11,8 ± 6,9  
7,9 ± 4,1  
12,8 ± 2,9  
4,5 ± 1,5  
0,2 ± 1,4  
0.5 ± 0.5  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
0,47  
Kiến thức về quy tắc nấu nướng  
Kiến thức về đọc nhãn thực phẩm  
Kiến thức về vận động thể lực  
< 0,001  
Bảng 4: So sánh kiến thức đúng của bệnh nhân trước và sau can thiệp  
Thời điểm can thiệp  
Kiến thức  
Trước can thiệp Sau can thiệp  
RR  
KTC 95%  
p
Kiến thức chung về đái tháo đường  
Kiến thức về dưỡng chất chính  
Kiến thức về vai trò các nhóm thực phẩm  
Kiến thức về chế độ ăn  
102 (51,8)  
57 (28,9)  
102 (51,8)  
121 (61,4)  
118 (59,9)  
7 (3,5)  
133 (85,8)  
113 (95,8)  
100 (66,7)  
132 (85,2)  
118 (76,1)  
3 (2,0)  
1,65  
3,31  
1,28  
1,38  
1,27  
0,57  
1,50  
1,42-1,92  
2,65-4,13  
1,07-1,53  
1,21-1,57  
1,1-1,46  
< 0,001  
< 0,001  
0,005  
< 0,001  
0,001  
0,4  
Kiến thức về quy tắc nấu nướng  
Kiến thức về đọc nhãn thực phẩm  
Kiến thức về vận động thể lực  
0,15-2,17  
1,15-1,97  
61 (31,0)  
71 (46,7)  
0,003  
thiệp (p< 0,001). Sau can thiệp hai hành vi dinh  
dưỡng và vận động thể lực có sự cải thiện 51,0%  
và 68,7% (Bảng 6).  
Hành vi của bệnh nhân trước và sau can thiệp  
Bảng 5: Hành vi của bệnh nhân trước và sau can  
thiệp  
Trước can  
thiệp  
(TB ± ĐLC)  
BÀN LUẬN  
Sau can thiệp  
(TB ± ĐLC)  
Hành vi  
p
Đặc điểm của bệnh nhân tham gia nghiên cứu  
Hành vi dinh dưỡng  
6,2 ± 2,2  
1,4 ± 1,2  
6,5 ± 2,2  
1,9 ± 0,8  
0,21  
Trong nghiên cứu này nữ chiếm đa số  
(73,1%). Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng  
cho thấy nữ có xu hướng mắc ĐTĐ cao hơn so  
với nam. Một nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai  
Hà Nội cho thấy trong 135 bệnh nhân ĐTĐ thì tỷ  
lệ nữ chiến đến 61,4%(7). Tương tự như vậy một  
nghiên cứu trong vòng 2 năm tại Hậu Giang cho  
thấy tỷ số nam: nữ mắc ĐTĐ là 1:1,5(6). Tuy nhiên  
một số nghiên cứu khác lại cho thấy nam có  
nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn nữ. Một nghiên cứu  
quy mô lớn trên 1.456 bệnh nhân sinh sống tại  
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nam chiếm tỷ  
lệ cao hơn so với nữ về khả năng mắc ĐTĐ.  
(8,2% so với 5,5%)(3). Một nghiên cứu khác tiến  
hành tại ba tỉnh là Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đà  
Nẵng trên 900 công nhân cho thấy tỷ lệ ĐTĐ ở  
Hành vi vận động thể  
lực  
<0,001  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hành  
vi vận động thể lực (p <0,001). Không có sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê về hành vi dinh dưỡng  
của bệnh nhân trước và sau can thiệp (p=0,21)  
(Bảng 5).  
Bảng 6: So sánh hành vi đúng của bệnh nhân trước  
và sau can thiệp  
Thời điểm can thiệp  
Hành vi  
Trước can Sau can  
p
thiệp  
thiệp  
Hành vi dinh dưỡng  
86 (43,6)  
79 (51,0) 0,17  
92 (68,7) < 0,001  
Hành vi vận động thể lực 90 (45,7)  
Hành vi vận động thể lực và hành vi tự kiểm  
soát có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê sau can  
399  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
nam là 58,9% cao hơn so với nữ (41,1%)(5). Báo  
cáo toàn cầu cũng cho thấy rằng trong vòng vài  
thập niên của thế kỷ trước, nữ là đối tượng chính  
mắc ĐTĐ với số mắc cao hơn so với nam. Tuy  
nhiên trong những năm gần đây, các nhà khoa  
học nhận thấy có sự dịch chuyển nhẹ về tỷ lệ  
mắc ĐTĐ từ nữ sang nam. Điều này được giải  
thích là do ngày càng có nhiều nam được chẩn  
đoán mắc ĐTĐ hơn và tuổi thọ của nam cũng  
tăng dần lên dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân nam mắc  
ĐTĐ sống sót cũng tăng lên.  
hướng tiêu cực. Tuy nhiên các nghiên cứu khác  
tại nhiều quốc gia không phát hiện thấy mối liên  
quan giữa ĐTĐ và tình trạng hôn nhân(2)  
.
Về bản chất, ĐTĐ là bệnh mạn tính trong  
đó bệnh nhân phải sống chung với bệnh suốt  
cuộc đời. Trong nghiên cứu này có 41,6% bệnh  
nhân có thời gian mắc ĐTĐ 1-5 năm và 44,2%  
có thời gian mắc >5 năm. Kết quả của nghiên  
cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của  
Trần(9) trong đó bệnh nhân có thời gian mắc  
ĐTĐ từ 1-5 năm điều trị tại bệnh viện Bạch  
Mai chiếm tỷ lệ 54,67%. Tuy nhiên, một nghiên  
cứu cũng được tiến hành tại bệnh viện Bạch  
Mai báo cáo chỉ có 28,6% bệnh nhân mắc ĐTĐ  
với thời gian từ 1-5 năm(7). Sự khác biệt này có  
thể là do khác biệt về phân bố dân số nghiên  
cứu của hai nghiên cứu này.  
Trong nghiên cứu này có 35,5% bệnh nhân  
có độ tuổi < 60 và 49,7% có độ tuổi 60-69. Nhiều  
nghiên cứu trên thế giới cho thấy ĐTĐ được  
xem như là bệnh đi kèm với dân số người cao  
tuổi(10); với độ tuổi dễ mắc ĐTĐ rơi vào nhóm  
tuổi 45-60(1). Tại Việt Nam, bệnh nhân người  
trưởng thành mắc ĐTĐ cũng chiếm tỷ lệ lớn  
trong tổng số ca ĐTĐ. Nghiên cứu của Phạm(7)  
cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân mắc  
ĐTĐ là 59,4 ± 15,6, trong khi nghiên cứu của  
Nguyễn(6) chỉ ra rằng trên 1 nửa bệnh nhân  
(52,8%) có độ tuổi > 55. Một nghiên cứu trên  
1800 bệnh nhân béo phì cho thấy hầu hết bệnh  
nhân ĐTĐ (43%) đều thuộc nhóm tuổi 50-59(8).  
Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cũng lưu  
ý rằng các trường hợp ĐTĐ xảy ra ở bệnh nhân  
trẻ tuổi cũng ngày càng tăng lên. Một nghiên  
cứu tại 3 tỉnh thành cho thấy 42,1% đối tượng  
nghiên cứu thuộc nhóm tuổi 30-44 và 50,1%  
thuộc nhóm tuổi 45-54(5). Nghiên cứu của Đỗ(3)  
kết luận rằng số hiện mắc ĐTĐ ở nhóm tuổi 30-  
70 vào năm 2008 cao gấp 2 lần so với năm 2007  
(7,1% so với 3,7%).  
Sự thay đổi về tình trạng sức khỏe của bệnh  
nhân sau tập huấn  
Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá  
BMI và đường huyết của bệnh nhân trước và sau  
tập huấn. Kết quả ghi nhận không có sự thay đổi  
nhiều về BMI và đường huyết của bệnh nhân  
sau tập huấn. Điều này có thể giải thích là do  
thời gian tập huấn và đánh giá lại của chúng tôi  
ngắn, chỉ sau 1 tháng tập huấn chúng tôi đánh  
giá lại. Do đó có thể không thấy được sự thay  
đổi đáng kể về BMI và đường huyết. Bên cạnh  
đó, vì các bệnh nhân hiện nay đều đang sử dụng  
thuốc hàng ngày do đó, lượng đường huyết luôn  
ở mức duy trì ổn định, không thay đổi nhiều.  
Sự thay đổi về kiến thức của bệnh nhân sau tập  
huấn  
Chúng tôi đánh giá kiến thức chung của  
bệnh nhân về ĐTĐ dưới các khía cạnh triệu  
chứng, mức đường huyết cao, cách điều trị bệnh  
v.v. Kết quả khảo sát cho thấy sau tập huấn kiến  
thức chung về ĐTĐ của bệnh nhân cải thiện  
đáng kể (11,6 trước tập huấn và 23,3 sau tập  
huấn). Điều này cho thấy tập huấn đã mang lại  
hiệu quả khi kiến thức của bệnh nhân về ĐTĐ  
đã được cải thiện.  
Tình trạng hôn nhân cũng được khảo sát  
trong nghiên cứu này và kết quả cho thấy có  
80,0% đối tượng lập gia đình và 16,4% góa bụa.  
Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và ĐTĐ  
cho đến nay vẫn chưa được chứng minh rõ ràng.  
Một nghiên cứu trên 41.379 đàn ông tuổi 40-70  
cho thấy những người góa vợ thường có nguy cơ  
tăng cao mắc ĐTĐ type 1 so với những người có  
gia đình vì những người góa vợ thường có  
những thay đổi về lối sống, chế độ ăn theo chiều  
Các kiến thức về dinh dưỡng bao gồm về  
400  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
dưỡng chất chính (các nhóm dưỡng chất  
carbonhydrate, protein và chất béo, vai trò nhóm  
thực phẩm trong kiểm soát đường huyết, chế độ  
ăn có sự cải thiện nhiều sau khi tập huấn. Đặc  
biệt kiến thức về dưỡng chất chính tăng lên từ  
3,8 trước can thiệp lên 11,8 sau can thiệp. Điều  
này cho thấy các bệnh nhân đã nhận thức tốt  
hơn về các thành phần dinh dưỡng có thể làm  
tăng đường huyết hoặc giảm đường huyết. Bên  
cạnh đó kiến thức về chế độ ăn cũng cải thiện  
nhiều từ 9,1 trước can thiệp lên 12,8 sau can  
thiệp cho thấy bệnh nhân cũng đã có kiến thức  
tốt hơn trong việc ăn uống thường ngày.  
nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là người  
cao tuổi, do biến chứng của ĐTĐ như đau nhức  
chân, thấp khớp v.v. dẫn đến họ ít vận động thể  
lực. Số bệnh nhân tập thể dục, chơi thể thao rất  
thấp. Thay vì vậy họ chủ yếu đi bộ trong nhà,  
làm việc nhà hoặc đi dạo xung quanh xóm làng.  
Chính điều này dẫn đến việc mặc dù được tập  
huấn nhưng bệnh nhân cũng không quan tâm  
ghi nhớ để thực hành trong cuộc sống.  
Sự thay đổi về hành vi sau can thiệp  
Đối với hành vi dinh dưỡng, sau can thiệp  
không có sự thay đổi đáng kể. Điều này là do  
trước khi tập huấn đa số bệnh nhân vì tình  
trạng bệnh tật của mình đã tuân theo một chế  
độ ăn uống khá thích hợp dành cho bệnh nhân  
ĐTĐ. Mặc dù không có một nền tảng kiến thức  
về chế độ dinh dưỡng đầy đủ, nhưng dựa trên  
những lời khuyên của bác sỹ, họ cũng đã áp  
dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp như ăn  
nhiều bữa, ăn ít cơm nhiều rau v.v. Do đó, sau  
khi tập huấn kiến thức về chế độ dinh dưỡng  
có thể tăng lên nhưng việc áp dụng vào thực tế  
cũng không nhiều.  
Kiến thức về quy tắc nấu nướng của bệnh  
nhân không có sự cải thiện đáng kể. Điều này  
xuất phát từ thực tế đa số bệnh nhân đều không  
tham gia vào việc nấu nướng tại nhà. Việc nấu  
nướng thường do con cái hoặc người thân khác  
trong gia đình phụ trách do đó theo quan điểm  
của họ “con cái nấu gì thì ăn đó” hoặc “nấu  
nướng đơn giản vì mình bị ĐTĐ”. Do đó hầu hết  
bệnh nhân không quan tâm nhiều đến quy tắc  
nấu nước dành cho bệnh nhân ĐTĐ.  
Đối với người Việt Nam, đọc nhãn dinh  
dưỡng có thể là một thực hành ít phổ biến. Thực  
vậy hầu hết các thực phẩm trong siêu thị đều có  
nhãn dinh dưỡng trên bao bì. Tuy nhiên hầu hết  
người tiêu dùng không quan tâm đến nội dung  
nhãn vì các từ trong nhãn thường viết bằng chữ  
tiếng Anh, và điều này làm phần lớn người dân  
không thể đọc. Các bệnh nhân trong nghiên cứu  
của chúng tôi cũng có kiến thức về đọc nhãn  
thực phẩm trước tập huấn rất thấp chỉ có 0,1.  
Mặc dù được tấp huấn về đọc nhãn thực phẩm,  
tuy nhiên sau tập huấn kiến thức của họ cũng cải  
thiện không nhiều. Nguyên do như đã nói ở  
trên, bệnh nhân không quan tâm nhiều đến  
nhãn thành phần dinh dưỡng của thực phẩm.  
Ngoài ra, đa số bệnh nhân cũng không là người  
đi mua thực phẩm nên việc tiếp xúc với các nhãn  
thực phẩm cũng không cao.  
Hành vi vận động thể lực của bệnh nhân  
cũng không có sự cải thiện đáng kể sau tập  
huấn. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, hầu  
hết bệnh nhân đều có hạn chế về vận động, do  
đó trước tập huấn họ cũng ít vận động thể lực.  
Sau tập huấn, tình trạng này cũng không thay  
đổi nhiều.  
Hạn chế của đề tài  
Việc đánh giá sau can thiệp trong nghiên  
cứu chúng tôi gặp hạn chế do thời gian nghiên  
cứu không cho phép, khiến cho nghiên cứu  
đánh giá thiếu chính xác hơn so với các nghiên  
cứu can thiệp đánh giá nhiều giai đoạn (sau 1,  
3 và 6 tháng).  
Việc không lựa chọn các đối tượng chăm sóc  
trực tiếp các bệnh nhân ĐTĐ vào chương trình  
can thiệp cũng gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu  
quả thực tế mà chương trình can thiệp mang lại.  
Tương tự như kiến thức về đọc nhãn thực  
phẩm, kiến thức về vận động thể lực cũng cải  
thiện không đáng kể. Trong thực tế, đa số bệnh  
KẾTLUẬN  
Can thiệp tập huấn nâng cao kiến thức cho  
401  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
5. Lê Phương, Trần Văn Dĩnh (2013). "Điều tra, khảo sát thực trạng  
bệnh nhân ĐTĐ tại thành phố Cần Thơ mang  
lại hiệu quả so với mục tiêu nghiên cứu. Bệnh  
nhân có sự cải thiện về kiến thức chung về  
ĐTĐ và kiến thức về dinh dưỡng dành cho  
bệnh nhân ĐTĐ.  
bệnh đái tháo đường trong một số doanh nghiệp ngành công  
thương và biện pháp phòng chống". Đề tài cấp cơ sở.  
6. Nguyễn Văn Lành (2014). "Thực trạng bệnh đái tháo đường ở  
người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện  
pháp can thiệp". Luận văn Tiến sĩ, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây  
nguyên  
7. Phạm Văn Khoa (2011). "Thực hành tư vấn dinh dưỡng, nuôi  
dưỡng và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường  
tại bệnh viện Bạch Mai". Luận án Chuyên khoa cấp II, pp.45-78.  
8. Phan Huỳnh Dương và cộng sự (2013). "Tỷ lệ đái tháo đường,  
tiền đái tháo đường và một số yếu tố nguy cơ ở người quá cân  
béo phì tại bốn phường của thành phố Hải Phòng". Y học Dự  
phòng, 7(143):75-78.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Danaei G, et al (2011). "National, regional, and global trends in  
systolic blood pressure since 1980: Systematic analysis of health  
examination surveys and epidemiological studies with 786  
country-years and 5.4 million participants". Lancet, 377:568–577.  
2. Daneshpajouh P, Pirhaji O (2011). "Is prevalence of type 2  
diabetes mellitus related to education, marital status and  
urbanization in Isfahan, Iran?". The First International & 4th  
National Congress on health Education & Promotion, pp.23-56.  
3. Đỗ Ngọc Định và cộng sự (2008). "Dịch tễ học bệnh đái tháo  
đường tại TP.HCM và một số yếu tố liên quan". Đề tài cấp cơ sở,  
pp.45-67.  
9. Tran LG (2007) Nghiên cứu thực trạng nuôi dưỡng bệnh nhân  
ĐTĐ tại bệnh viện Bạch Mai, luận văn cử nhân Y tế công cộng,  
Trường Đạo Học Y Hà Nội.  
10. WHO (1994). Prevention of diabetes mellitus. Report of a study  
group  
Geneva  
No.  
844.  
URL.  
4. Hoàng Kim Ước (2008). “Dịch tể học bệnh đái tháo đường, các  
yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến vấn đề quản lý đái  
tháo đường trong phạm vi toàn quốc. Một số công trình nghiên  
cứu khoa học thực hiện tại Viện nội tiết”. Nhà xuất bản Y học,  
pp.21  
Ngày nhận bài báo:  
15/08/2019  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
31/08/2019  
15/10/2019  
402  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
pdf 7 trang yennguyen 20520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả chương trình tập huấn nâng cao kiến thức về đái tháo đường của người cao tuổi mắc đái tháo đường type 2 tại thành phố Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_chuong_trinh_tap_huan_nang_cao_kien_thuc_ve_dai_tha.pdf