Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
RỐI LOẠN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ TÂN HƯNG, HUYỆN ĐỒNG PHÚ,  
TỈNH BÌNH PHƯỚC NĂM 2019  
Lục Sơn Hải*, Kim Xuân Loan*  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Trầm cảm sẽ là một trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu. Người cao tuổi mang nhiều  
yếu tố nguy cơ của rối loạn trầm cảm và có khoảng 15% người cao tuổi trong cộng đồng bị rối loạn trầm cảm.  
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân  
Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên toàn bộ 242 người cao tuổi tại xã  
Tân Hưng, Đồng Phú, Bình Phước từ tháng 10/2018 đến tháng 6/2019. Tất cả đối tượng thỏa tiêu chí và đồng ý  
tham gia nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng câu hỏi soạn sẵn. Thang đo GDS-15 dùng để đánh  
giá rối loạn trầm cảm.  
Kết quả: Kết quả phân tích trên 217 đối tượng thỏa tiêu chí đưa vào, tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở người cao  
tuổi là 20,7%. Các yếu tố được tìm thấy trong mô hình đa biến có liên quan đến tỷ lệ rối loạn trầm cảm là: có  
xung đột với những người thân trong gia đình, người dân tộc thiểu số, có lo lắng về vấn đề người chăm sóc khi  
bệnh, có giới hạn vận động và chất lượng cuộc sống.  
Kết luận: Gia đình, chính quyền địa phương cần có những hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc nhiều hơn đối với  
những người cao tuổi, đặc biệt là những người cao tuổi dân tộc thiểu số hoặc có kèm theo các yếu tố liên quan  
được tìm thấy bởi vì họ là những đối tượng có nguy cơ bị rối loạn trầm cảm cao.  
Từ khóa: trầm cảm, người cao tuổi, GDS-15  
ABSTRACT  
DEPRESSION AND ASSOCIATED FACTORS IN ELDERLY PEOPLE  
IN TAN HUNG COMMUNE, DONG PHU DISTRICT, BINH PHUOC PROVINCE IN 2019  
Luc Son Hai, Kim Xuan Loan  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 55 - 63  
Background: Depression will be one of the most common global illnesses. Elderly people have many risk  
factors for depression and about 15% of the elderly in the community are depressed.  
Objectives: To determine the prevalence of depressive disorders and related factors in the elderly in Tan  
Hung commune, Dong Phu district, Binh Phuoc province in 2019.  
Methods: A cross-sectional study was conducted in all 242 elderly people in Tan Hung commune, Dong  
Phu district, Binh Phuoc province from October 2018 to June 2019. All subjects who met the criteria and agreed  
to participate in the study were interviewed directly based on a prepared questionnaire. The GDS-15 scale was  
used to assess depressive disorders.  
Results: From the analysis on 217 subjects who met the inclusion criteria, the rate of depressive disorder in  
the elderly was 20.7%. Factors found in the multivariate model that were associated with depression rates were:  
conflict with family members, ethnic minorities, and anxiety about caregivers when having illness, limitation of  
*Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh  
Tác giả liên lạc: BS. Lục Sơn Hải  
ĐT: 0984975407  
Email: lsonhaibp94@gmail.com  
55  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
activeness and quality of life.  
Conclusion: Families and local authorities should provide more support, attention and care for the  
elderly, especially the ethnic minorities or with relevant factors found, because they are subjects at high risk  
for depression disorders.  
Key words: depression, elderly, GDS-15  
cận thông tin cũng như các dịch vụ chăm sóc sức  
khỏe còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở đối tượng  
người cao tuổi rất dễ bị bỏ qua các vấn đề sức  
khỏe khi không có được điều kiện chăm sóc đầy  
đủ. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về trầm cảm  
trên người cao tuổi nhưng chưa có nhiều nghiên  
cứu khảo sát tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên  
quan đến tình trạng trầm cảm ở người cao tuổi  
tại những vùng có nhiều người dân tộc thiểu số,  
vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn cho đến thời  
điểm hiện tại. Do vậy nghiên cứu này được thực  
hiện nhằm xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm và  
các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại đây, với  
mong muốn kết quả sẽ góp phần cơ sở dữ liệu,  
giúp nâng cao sức khỏe cũng như chất lượng  
cuộc sống của người cao tuổi tại đây.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sự già hóa dân số đang ngày càng gia tăng  
trên các quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là các  
nước đang phát triển(1). Trên thế giới một năm  
trung bình cứ chín người có một người từ 60  
tuổi trở lên(2). Tại Việt Nam, năm 2017 những  
người 60 tuổi trở lên chính thức đạt tỷ lệ 10%  
trên tổng dân số và từ đó Việt Nam bắt đầu  
bước vào giai đoạn già hóa(3). Tỷ lệ người cao  
tuổi ngày càng tăng, sẽ làm gia tăng gánh nặng  
về kinh tế, xã hội và đặc biệt là ngành y tế để  
duy trì ổn định cuộc sống khỏe mạnh cho  
nhóm người cao tuổi(4).  
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), dự  
đoán đến năm 2020 trầm cảm sẽ là một trong số  
những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu  
người mắc bệnh, cụ thể hơn, có 1 trong 10 người  
từng trải qua giai đoạn trầm cảm trong suốt cuộc  
đời(5). Tại Việt Nam theo báo cáo của Viện Sức  
khỏe tâm Thần cho thấy có 30% dân số Việt  
Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỷ  
lệ trầm cảm chiếm 25%. Theo một nghiên cứu về  
gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam năm 2008, trầm  
cảm đứng thứ 2 trong nhóm 10 nguyên nhân  
hàng đầu của gánh nặng bệnh tật, chỉ đứng sau  
đột quỵ(6). Trầm cảm là một rối loạn tâm thần  
phổ biến, được đặc trưng bởi nỗi buồn dai dẳng  
và mất hứng thú(7), một số nghiên cứu trong  
nước cũng cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở  
người cao tuổi vào những năm 2016-2017 là  
khoảng 17,3-22,4%(8,9). Theo bệnh viện Tâm thần  
Thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 15% người  
cao tuổi trong cộng đồng bị rối loạn trầm cảm(10).  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Những người cao tuổi (≥60 tuổi) đang sống  
và cư trú tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú,  
tỉnh Bình Phước đồng ý tham gia vào nghiên  
cứu từ tháng 10/2018 đến tháng 06/2019.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Các đối tượng không thể nghe nói hoặc có  
các rối loạn tâm thần thực thể đã được chẩn  
đoán bởi nhân viên y tế trước đó được loại ra  
khỏi nghiên cứu.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu cắt ngang.  
Phương pháp chọn mẫu  
Chọn mẫu toàn bộ người cao tuổi, dựa theo  
danh sách 242 người cao tuổi từ Hội người cao  
tuổi xã Tân Hưng, có 6 đối tượng không đạt tiêu  
chuẩn tham gia, 19 đối tượng không còn sinh  
sống ở địa phương vì vậy tổng số mẫu thu thập  
sau cùng là 217 người.  
Xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình  
Phước, tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số  
chiếm 40,8%, trong đó tổng số người cao tuổi  
chiếm 7,1%. Đây là một xã nghèo, vùng sâu,  
vùng xa, kinh tế còn khó khăn nên khả năng tiếp  
56  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
hạn chế về nghe hiểu tiếng Kinh. Cuộc phỏng  
vấn kết thúc sau khi được kiểm tra tính hoàn  
tất của dữ liệu.  
Thu thập dữ liệu  
Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn  
trực tiếp mặt đối mặt bằng bộ hỏi câu phỏng vấn  
có cấu trúc được soạn sẵn. Công cụ thu thập là  
bộ câu hỏi gồm 4 phần: thông tin cơ bản, tình  
trạng sức khỏe, mối quan hệ gia đình – kinh tế,  
thang đo trầm cảm GDS – 15.  
Phân tích dữ liệu  
Mô tả bằng tần số với tỉ lệ % các biến định  
tính hoặc danh định gồm biến số nền; biến số về  
mối quan hệ trong gia đình; biến số về tình trạng  
sức khỏe; biến số về rối loạn trầm cảm.  
Thang đo trầm cảm GDS – 15  
Sử dụng kiểm định chi bình phương để xét  
mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm và các đặc  
điểm của dân số mẫu, các yếu tố liên quan đến  
tình trạng sức khỏe của đối tượng, và các yếu tố  
có liên quan đến tình trạng gia đình của đối  
tượng. Nếu trên 20% tổng số các ô có vọng trị  
nhỏ hơn 5 hoặc có 1 ô giá trị < 1 thì kiểm định  
Fisher được chọn để thay thế cho kiểm định chi  
bình phương. Kiểm định chi bình phương  
khuynh hướng cũng được sử dụng để xét mối  
liên quan giữa các biến độc lập (thứ tự) mang  
tính khuynh hướng với rối loạn trầm cảm. Tỷ số  
tỷ lệ hiện mắc PR (Prevalance Ratio) và khoảng  
tin cậy 95% được sử dụng để xác định độ lớn  
của các mối liên quan được khảo sát. Hồi quy  
tuyến tính tổng quát (Poisson) để tìm các yếu tố  
thực sự có liên quan đến rối loạn trầm cảm.  
Thang đo đánh giá trầm cảm GDS – short  
form (Geriatric Depression Scale - short form) là  
thang đo sàng lọc tốt đối với rối loạn trầm cảm ở  
người cao tuổi, nhiều nghiên cứu đánh giá tính  
hợp lệ và độ tin cậy của thang đo GDS – 15 trên  
đối tượng người cao tuổi cho thấy độ nhạy, độ  
đặc hiệu cao đến 95-97%, hệ số Cronbach alpha  
cho tổng thang đo là 0,92(11,11). Thang GDS – 15  
bao gồm 15 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 2 câu trả lời  
“Có” (1 điểm) hoặc “Không” (0 điểm). Đối với  
các câu 1 (nhìn chung ông/bà có hài lòng với  
cuộc sống của mình không?); Câu 5 (ông/bà có  
thường xuyên cảm thấy tinh thần thoải mái  
không?); Câu 7 (ông/bà có thường xuyên cảm  
thấy vui vẻ, hạnh phúc không); Câu 11 (ông/bà  
có cảm thấy hiện tại được sống là tuyệt diệu  
không); Câu 13 (ông/bà có cảm thấy khỏe mạnh,  
nhiều sinh lực không?) cần được đảo ngược số  
điểm trước khi tính tổng điểm vì những câu này  
đánh giá triệu chứng tích cực. Một cá nhân được  
cho là có trầm cảm nếu tổng điểm số của 15 câu  
trả lời ≥6(13). Các biến số về gia đình bao gồm nhu  
cầu cần hỗ trợ (có-không); loại nhu cầu hỗ trợ  
(vật chất: tiền, thuốc, đồ dùng sinh hoạt; tinh  
thần: chia sẻ, động viên; chăm sóc: tắm rửa, nấu  
ăn; khác), xung đột trong gia đình (có-không);  
vấn đề xung đột (bất đồng ý kiến, cãi vã, bạo lực  
gia đình).  
Y đức  
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng  
Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bệnh viện  
Bệnh Nhiệt Đới số: 133/ĐHYD-HĐĐĐ ngày  
26/3/2019.  
KẾT QUẢ  
Nghiên cứu được thực hiện trên người cao  
tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh  
Bình Phước. Số mẫu thu thập được thỏa tiêu chí  
đưa vào là 217 mẫu. Kết quả phân tích sau cùng  
được trình bày với 217 đối tượng.  
Để kiểm soát các sai lệch, nghiên cứu viên  
dựa vào danh sách người cao tuổi địa phương  
quản lý cung cấp và đến đúng nhà theo sự dẫn  
đường của người tại địa phương. Nghiên cứu  
viên trình bày về nội dung cuộc khảo sát và  
nói to rõ để tránh nghe không rõ, luôn có  
người phiên dịch hỗ trợ đi cùng nghiên cứu  
viên cho đối tượng là người dân tộc thiểu số có  
Kết quả Bảng 1 cho thấy tỷ lệ nữ trong  
nghiên cứu là 58,9%. Phần lớn các đối tượng  
nghiên cứu nằm trong nhóm tuổi từ 60-69. Gần  
1/2 các đối tượng tham gia nghiên cứu là người  
dân tộc thiểu số, các đối tượng chưa hoàn thành  
tiểu học chiếm hơn 50%. Phần lớn đã kết hôn  
(70,5%). Nghề nghiệp chiếm đa số là nghề làm  
57  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
nông (56,2%). Hầu hết các đối tượng tham gia  
nghiên cứu đều đang sống với gia đình (92,6%).  
Tỷ lệ các đối tượng có nhu cầu cần được hỗ trợ  
từ các thành viên trong gia đình chiếm tương đối  
cao 60,8%, trong đó nhu cầu hỗ trợ về mặt tinh  
thần (tâm sự, chia sẻ, động viên) chiếm đa số  
(96,2%). Tỷ lệ các đối tượng có xung đột với  
người thân chiếm 18,4%.  
Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=217)  
Đặc tính  
Giới tính (Nữ)  
Nhóm tuổi  
Tần số Tỷ lệ (%)  
Đặc tính  
Mắc bệnh mạn tính (Có)  
Đang uống thuốc điều trị (n=157) (Có)  
Lo lắng bệnh (n=157) (Có)  
Nguyên nhân lo lắng (n=67)  
Sợ bệnh nặng  
Tần số Tỷ lệ (%)  
128  
58,9  
157  
114  
67  
72,4  
72,6  
42,7  
60-69  
149  
54  
68,6  
24,9  
6,5  
70-79  
≥80  
14  
51  
40  
30  
8
76,1  
59,7  
44,8  
12  
Dân tộc (Kinh)  
Trình độ học vấn  
Mù chữ  
116  
53,4  
Lo lắng về tiền chữa bệnh  
Lo lắng về người chăm sóc  
Sợ chết  
26  
95  
70  
23  
3
12,0  
43,8  
32,3  
10,6  
1,3  
Tiểu học  
Bệnh mạn tính đi kèm (Có)  
Tim mạch  
THCS  
97  
94  
28  
22  
22  
9
44,7  
43,3  
12,9  
10,1  
10,1  
4,2  
THPT  
Cơ xương khớp  
Tiêu hóa  
TC/CĐ/ĐH  
Tình trạng hôn nhân  
Đã kết hôn  
Thần kinh – não bộ  
Tiểu đường  
153  
59  
70,5  
27,2  
2,3  
Góa chồng/vợ  
Ly dị/ly thân  
Hô hấp  
5
Gan mật tụy  
7
3,2  
Thu nhập cá nhân (Có)  
Tình trạng nghề nghiệp  
Làm nông  
169  
77,9  
Thận  
6
2,8  
Bệnh khác*  
14  
118  
6,5  
122  
72  
56,2  
33,2  
10,6  
Mất ngủ (Có)  
54,4  
Không làm gì  
Nghề khác  
Tần suất mất ngủ (n=118)  
Thỉnh thoảng  
23  
66  
39  
13  
55,9  
33,1  
11,0  
Tự đánh giá kinh tế  
Khá giả  
Thường xuyên  
25  
162  
30  
11,5  
74,7  
13,8  
Mỗi ngày  
Đủ sống  
Đánh giá sức khỏe  
Rất không hài lòng  
Không hài lòng  
Khó khăn  
2
0,9  
17,1  
41,9  
38,7  
1,4  
Người đang sống cùng  
Sống một mình  
Sống với gia đình  
Nhu cầu cần hỗ trợ (Có)  
Nhu cầu cần hỗ trợ  
Tinh thần  
37  
91  
84  
3
16  
7,4  
Bình thường  
201  
132  
92,6  
60,8  
Hài lòng  
Rất hài lòng  
Đánh giá chất lượng cuộc sống  
Rất kém  
127  
113  
68  
96,2  
85,6  
51,5  
69,1  
18,4  
3
1,4  
14,8  
45,2  
38,2  
0,4  
Vật chất  
Kém  
32  
98  
83  
1
Chăm sóc  
Bình thường  
Nhận được hỗ trợ (Có)  
Xảy ra xung đột (Có)  
Vấn đề xung đột (n=40)  
Bất đồng ý kiến  
Cãi vã  
150  
40  
Tốt  
Rất tốt  
Giới hạn vận động  
Không có khó khăn  
Thỉnh thoảng khó khăn  
Không đi lại được nhiều  
Hoàn toàn không đi lại được  
37  
20  
92,5  
50  
158  
36  
21  
2
72,8  
16,6  
9,7  
Có rối loạn trầm cảm (≥6)  
45  
20,7  
0,9  
của mình. Sợ bệnh nặng là nguyên nhân lo lắng  
chiếm đa số (76,1%), tiếp đến là lo lắng về tiền  
chữa bệnh (59,7%) và lo lắng về người chăm sóc  
khi bệnh (44,8%). Phần lớn các đối tượng tham  
Hơn 70% các đối tượng đang mắc ít nhất  
một loại bệnh mạn tính. Bệnh mạn tính chiếm tỷ  
lệ mắc cao nhất là bệnh tim mạch (44,7%). Có  
42,7% đối tượng có tình trạng lo lắng về bệnh tật  
58  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
gia không có khó khăn trong đi lại, sinh hoạt.  
Dựa vào thang đo GDS – 15, trong 217 người  
tham gia nghiên cứu, với ngưỡng cắt là 6 thì có  
45 đối tượng được xác định là có rối loạn trầm  
cảm, chiếm 20,7%.  
đến rối loạn trầm cảm được trình bày ở Bảng 2.  
Cụ thể, những người cao tuổi là nữ, dân tộc  
thiểu số, trình độ học vấn thấp, li dị/li thân/góa,  
kinh tế ở mức thấp, không hài lòng về sức khỏe  
và có chất lượng cuộc sống thấp có tỷ lệ rối loạn  
trầm cảm cao hơn.  
Các yếu tố về đặc tính dân số có liên quan  
Bảng 2: Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan đến đặc tính dân số (n=217)  
Rối loạn trầm cảm  
Đặc tính  
Giá trị p  
PR (KTC=95%)  
Có Tần số (%) n=45  
Không Tần số (%) n=172  
Giới tính  
Nữ  
36 (28,1)  
9 (10,1)  
92 (71,9)  
1
Nam  
80 (89,9)  
0,001  
0,002  
0,36 (0,18-0,71)  
Dân tộc  
Kinh  
15 (12,9)  
30 (29,7)  
101 (87,1)  
1
Dân tộc thiểu số*  
Trình độ học vấn  
Dưới THCS  
71 (70,3)  
2,29 (1,31-4,02)  
36 (29,7)  
9 (9,4)  
85 (70,3)  
87 (90,6)  
1
Từ THCS trở lên  
<0,001  
0,32 (0,16-0,62)  
Tình trạng hôn nhân  
134 (87,6)  
38 (59,4)  
Đã kết hôn  
19 (12,4)  
26 (40,6)  
-
1
Ly dị/ly thân/góa  
<0,001  
3,27 (1,95-5,47)  
Mức thu nhập  
45 (69,2)  
<1 triệu  
1-3 triệu  
>3 triệu  
20 (30,8)  
23 (20,5)  
2 (5,0)  
0,001a  
1
89 (79,5)  
0,53 (0,36-0,76)  
0,28 (0,13-0,58)  
38 (95,0)  
Tự đánh giá kinh tế  
24 (96,0)  
Khá giả  
Đủ sống  
Khó khăn  
1 (4,0)  
<0,001a  
25 (15,4)  
19 (63,3)  
137 (84,6)  
11 (36,7)  
4,07 (2,65-6,28)  
16,62 (7,01-39,38)  
Đánh giá về sức khỏe  
1 (50,0)  
Rất không hài lòng  
Không hài lòng  
Bình thường  
Hài lòng  
1 (50,0)  
24 (64,9)  
14 (15,4)  
6 (7,1)  
-
1
13 (35,1)  
0,717  
0,116  
0,016  
1,29 (0,32-5,31)  
0,31 (0,07-1,34)  
0,14 (0,03-0,70)  
77 (84,6)  
78 (92,9)  
Đánh giá CLCS  
0
Rất kém  
Kém  
3 (100)  
18 (56,2)  
23 (23,5)  
1 (1,2)  
0
<0,001a  
14 (43,8)  
0,32 (0,26-0,40)  
0,10 (0,07-0,16)  
0,03 (0,02-0,07)  
0,01 (0,00-0,03)  
Bình thường  
Tốt  
75 (76,5)  
82 (98,8)  
Rất tốt  
1 (100)  
*Dân tộc thiểu số: tày, nùng, khơ me, chơ ro, hoa, mường  
a: có tính khuynh hướng  
người không cần hỗ trợ với p <0,001. Những  
người có xung đột có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao  
gấp 2,21 lần so với những người không có xung  
đột (p=0,004). Những người có bệnh mạn tính đi  
kèm, đang uống thuốc điều trị bệnh mạn tính, có  
tình trạng lo lắng về bệnh, có mất ngủ có tỷ lệ rối  
loạn trầm cảm cao hơn những người không có  
Bảng 3 cho thấy những người hiện đang  
sống cùng gia đình có tỷ lệ rối loạn trầm cảm là  
18,4%, thấp hơn 0,37 lần hoặc giảm 63%  
(PR=0,37) so với những người không sống cùng  
gia đình (50%) với KTC 95% từ 0,21 – 0,65 và  
p=0,003. Những người cần sự hỗ trợ có tỷ lệ rối  
loạn trầm cảm cao gấp 3,49 lần so với những  
59  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
những đặc điểm này với p lần lượt là 0,001;  
0,033; <0,001; <0,001. Những người có giới hạn  
vận động ở mức càng cao có tỷ lệ rối loạn trầm  
cảm càng cao.  
Bảng 3: Trầm cảm và các yếu tố liên quan đến quan hệ gia đình và yếu tố sức khỏe (n=217)  
Rối loạn trầm cảm  
PR  
(KTC=95%)  
Đặc tính  
Giá trị p  
CóTần số (%) n=45  
KhôngTần số (%) n=172  
Sống cùng gia đình  
Không  
Có  
8 (50,0)  
8 (50,0)  
1
37 (18,4)  
164 (81,6)  
0,003  
0,37 (0,21-0,65)  
Cần sự hỗ trợ  
Không  
Có  
7 (8,2)  
78 (91,8)  
94 (71,2)  
1
38 (28,8)  
<0,001 3,49 (1,64-7,46)  
Xảy ra xung đột  
Không  
Có  
30 (16,9)  
147 (83,1)  
25 (62,5)  
1
15 (37,5)  
0,004  
2,21 (1,32-3,71)  
1
0,001f 3,92 (1,47-10,46)  
Bệnh mạn tính đi kèm  
4 (6,7)  
Không  
Có  
56 (93,3)  
41 (26,1)  
116 (73,9)  
Hiện đang điều trị bệnh mạn tính  
Không  
Có  
15 (14,6)  
30 (26,3)  
88 (85,4)  
1
84 (73,7)  
0,033  
1,81 (1,03-3,16)  
1
Lo lắng về bệnh  
Không  
Có  
18 (12,0)  
27 (40,3)  
132 (88,0)  
40 (59,7)  
<0,001 3,36 (1,99-5,66)  
Nguyên nhân lo lắng  
Lo lắng về người CS  
Không  
26 (13,9)  
19 (63,3)  
161 (85,1)  
11 (36,7)  
1
Có  
<0,001 4,55 (2,91-7,13)  
Lo lắng về tiền chữa bệnh  
Không  
Có  
23 (13,0)  
22 (55,0)  
154 (87,0)  
18 (45,0)  
1
<0,001 4,23 (2,64-6,79)  
Sợ chết  
Không  
Có  
40 (19,1)  
5 (62,5)  
169 (80,9)  
3 (37,5)  
1
0,011f  
3,27 (1,78-5,98)  
Mất ngủ  
Không  
Có  
9 (9,1)  
90 (90,9)  
82 (69,5)  
1
36 (20,5)  
<0,001 3,35 (1,70-6,62)  
Giới hạn vận động  
25 (15,8)  
Không có khó khăn  
Thỉnh thoảng khó khăn  
Không đi lại được nhiều  
Hoàn toàn không đi lại được  
133 (842)  
27 (75,0)  
11 (52,4)  
1 (50,0)  
<0,001a  
9 (25,0)  
10 (47,6)  
1 (50,0)  
1,66 (1,28-2,15)  
2,75 (1,63-4,63)  
4,55 (2,08-9,96)  
Tập thể dục  
Không  
Có  
41 (23,7)  
4 (9,1)  
132 (76,3)  
40 (90,9)  
1
0,037f  
0,38 (0,15-1,01)  
a: Có tính khuynh hướng  
f: Kiểm định Fisher  
Bảng 4: Mô hình hồi quy đa biến Poisson giữa rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan (n=217)  
Đặc tính  
Có xung đột  
PRhc  
1,72  
1,84  
2,58  
KTC95%  
1,08 – 2,74  
1,13 – 2,99  
1,61 – 4,15  
Phc  
0,020  
0,014  
<0,001  
Dân tộc thiểu số  
Có lo lắng về người CS khi bị bệnh  
60  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
Đặc tính  
PRhc  
KTC95%  
Phc  
Giới hạn vận động  
Không có khó khăn  
Thỉnh thoảng khó khăn  
Không đi lại được nhiều  
1
-
-
0,53  
1,85  
3,00  
0,38  
0,30 – 0,93  
1,09 – 3,16  
1,52 – 5,92  
0,29 – 0,51  
0,028  
0,023  
0,001  
<0,001  
Hoàn toàn không đi lại được  
Chất lượng cuộc sống  
Phân tích mô hình đa biến Poisson cho thấy:  
Những người có xung đột, dân tộc thiểu số, có lo  
lắng về người chăm sóc khi bệnh, có giới hạn  
vận động, chất lượng cuộc sống kém có tỷ lệ rối  
loạn trầm cảm cao hơn những người không có  
các đặc điểm này. Kết quả cụ thể được trình bày  
ở Bảng 4.  
những người thân trong gia đình nhiều hơn,  
điều này sẽ tạo nhiều áp lực về tâm lý hơn nên  
càng có nguy cơ bị rối loạn trầm cảm nhiều hơn.  
Rốiloạntrầmcảmvàcácmốiquanhệtronggiađình  
Nghiên cứu cho thấy những người sống  
cùng gia đình có tỷ lệ rối loạn trầm cảm thấp  
hơn so với những người không sống cùng gia  
đình. Khi sống cùng gia đình, người cao tuổi  
sẽ được các thành viên trong gia đình hỗ trợ về  
tinh thần, vật chất, tạo điều kiện để người cao  
tuổi có chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể  
lực hợp lý, trợ giúp đề phòng tai nạn và khám,  
chữa bệnh khi đau ốm(21). Tuy nhiên khi có  
xung đột với những người trong gia đình sẽ  
làm tăng nguy cơ trầm cảm cao gấp 2,21 lần.  
Điều này có thể do tâm lý người cao tuổi vốn  
dĩ đã phải phụ thuộc nhiều vào con cái và khi  
xảy ra thêm những vấn đề xung đột sẽ gia tăng  
thêm áp lực tâm lý cho họ.  
BÀN LUẬN  
Rối loạn trầm cảm và các yếu tố dân số - kinh tế  
- xã hội  
Nghiên cứu này và các nghiên cứu khác cả  
trong nước và ngoài nước đều cho kết quả ở nữ  
cao tuổi có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn  
nam(14,15,16). Theo như kết quả phân tích của  
nghiên cứu hiện tại số nữ cao tuổi không có  
nghề nghiệp, không nguồn thu nhập, cần sự hỗ  
trợ, mắc các bệnh mạn tính đều chiếm tỷ lệ mắc  
cao hơn so với nam. Những điều này khả năng  
sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến tâm lý và chất  
lượng cuộc sống của họ.  
Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan đến  
sức khỏe  
Người cao tuổi là người dân tộc thiểu số có  
tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn so với người dân  
tộc kinh, có thể do một số vấn đề ở đồng bào dân  
tộc thiểu số như di cư tự phát, thiếu đất ở, đất  
sản xuất, nước sinh hoạt... được giải quyết chưa  
hiệu quả, đời sống còn nhiều khó khăn(17). Trình  
độ học vấn càng ở mức thấp thì tỷ lệ rối loạn  
trầm cảm càng cao. Nhiều nghiên cứu trước  
cũng cho biết trình độ học vấn thấp là yếu tố  
Mắc bệnh mạn tính là một yếu tố nguy cơ có  
liên quan đến rối loạn trầm cảm mà nghiên cứu  
này đã tìm thấy và điều này cũng được thể hiện  
ở các nghiên cứu trước đây(9,22). Bệnh mạn tính là  
những bệnh kéo dài, khó có khả năng điều trị  
khỏi hoàn toàn, ngoài ảnh hưởng đến sức khỏe  
còn gây thêm nhiều gánh nặng hơn về tâm lý vì  
phải gia tăng sự phụ thuộc vào gia đình. Lo lắng  
sợ bệnh nặng hoặc sợ chết, không đủ chi phí để  
chữa bệnh hoặc sợ không có người chăm sóc  
cũng là những lo lắng thường xảy ra ở người cao  
tuổi khi họ mắc bệnh mà nghiên cứu đã tìm  
thấy. Nghiên cứu cũng cho thấy những người  
mà có lo lắng khi bị bệnh sẽ có tỷ lệ rối loạn trầm  
cảm cao hơn gấp 3,36 lần so với những người  
không có lo lắng. Kết quả nghiên cứu khác cũng  
tương đồng khi cho biết tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở  
nguy cơ của trầm cảm(8,15,18)  
.
Tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao được thấy nhiều  
ở những người đã ly dị hoặc ly thân, tỷ lệ này  
thấp hơn ở những người đã kết hôn(8,14,19,20), khi  
một trong hai người họ mất đi có thể sẽ ảnh  
hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ ở người còn lại.  
Khi có thu nhập và kinh tế, mức độ hài lòng về  
sức khỏe và chất lượng cuộc sống càng thấp thì  
đồng nghĩa với việc họ phải phụ thuộc vào  
61  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
nhóm có lo lắng cao gần gấp 3 lần so với nhóm  
lạc quan với tình trạng bệnh của bản thân(8).  
Những người có điều trị thuốc lại có tỷ lệ rối  
loạn trầm cảm cao hơn những người không điều  
trị. Điều này giải thích có thể do những người  
điều trị thuốc là những người mắc những bệnh  
nghiêm trọng hơn hoặc bệnh đã mức độ nặng  
hơn. Việc được chẩn đoán và điều trị bệnh khi  
bệnh ở giai đoạn muộn có thể đã làm họ cảm  
thấy lo lắng hơn.  
phương cần có những hỗ trợ, quan tâm, chăm  
sóc đặc biệt hơn đối với những đối tượng có các  
đặc điểm này vì đây là những đối tượng có nguy  
cơ bị rối loạn trầm cảm cao.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. WHO (2017). World Population Ageing 2017. Department of  
Economic and Social Affairs Report, pp.4-5.  
2. Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc(UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ Người  
cao tuổi quốc tế (2012). Già hóa trong Thế kỷ 21: Thành tựu và  
Thách thức. New York và HelpAge International, pp.3-5.  
3. Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2011). Già hóa dân số và người cao  
tuổi ở Việt Nam - Thực trạng, dự báo, kiến nghị và một số thách  
thức. Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc, pp.6.  
Nghiên cứu này và nhiều nghiên cứu khác  
đều cho kết quả là những người bị mất ngủ có  
khả năng bị trầm cảm cao hơn(8,23). Mối liên quan  
giữa mất ngủ và trầm cảm có tính chất hai chiều,  
mất ngủ có thể gây trầm cảm và trầm cảm cũng  
có thể gây mất ngủ, hay nói cách khác mất ngủ  
vừa là nguyên nhân vừa là triệu chứng của trầm  
cảm(24). Những người càng bị giới hạn vận động  
thì tỷ lệ rối loạn trầm cảm càng cao. Những  
người không đi lại được nhiều hoặc những  
người không còn khả năng vận động thì họ chỉ  
còn phụ thuộc sự chăm sóc của những người  
thân trong gia đình. Mặt khác, họ sẽ bị hạn chế  
tiếp xúc với các môi trường, sinh hoạt bên ngoài  
xã hội. Cùng với đó những người cao tuổi không  
tập thể dục có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn so  
với những người có tập thể dục(8).  
4. Phạm Thắng, Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009). Báo cáo tổng quan về  
chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu  
tuổi tại Việt Nam. Tổng cục dân số Kế hoạch hóa gia đình,  
pp.12-13.  
5. World Federation for Mental Health (2012). Depression: A  
Global Crisis. WHO, pp. 14-15.  
6. Trang Nguyen Thi Mai, KL Tran, ML Bui (2014) Estimation of  
Vietnam national burden of disease 2008. Asia Pacific Journal of  
Public Health, Sep; 26(5):527-35  
7. WHO (2017). Mental health: Depression let’s talk. URL:  
8. Nguyễn Ngọc Phương Nam (2017). Rối loạn trầm cảm và các  
yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thị trấn Trảng Bom, huyện  
Trảng Bon tỉnh Đồng Nai. Khóa luận Tốt nghiệp Bác sỹ Y học Dự  
phòng, Khoa Y tế Công Cộng, Đại học Y dược TP. HCM.  
9. Lê Thị Quý Như Ý, Huỳnh Ngọc Vân Anh, Tô Gia Kiên (2017)  
Trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thị trấn  
Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Y Học TP. Hồ  
Chí Minh, 21(1):244-251  
10. Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh (2017). Vài điểm  
tphcm.org.vn/vai-diem-can-chu-y-ve-tram-cam-o-nguoi-cao-  
tuoi/.  
Hạn chế của nghiên cứu là không thể kết  
luận về mối quan hệ nhân quả giữa rối loạn trầm  
cảm và các yếu tố liên quan do là nghiên cứu cắt  
ngang. Nhiều câu hỏi có câu trả lời mang tính  
chủ quan theo cảm nhận của đối tượng. Tính  
chất địa bàn nơi thực hiện nghiên cứu đi lại khó  
khăn, nhiều nơi còn thuộc vùng sâu, vùng xa  
nên tỷ lệ mất mẫu cao (10,3%).  
11. Soysal P, Durmaz B, Ellidokuz H, Isik AT (2018). Validity and  
reliability of geriatric depression scale-15 (short form) in Turkish  
older adults. North Clin Istanb, 5(3):216-220.  
12. Wang WL, Liang S, Zhu FL, Liu JQ, Wang SY, Chen XM, Cai  
GY (2019). The prevalence of depression and the association  
between depression and kidney function and health-related  
quality of life in elderly patients with chronic kidney disease: a  
multicenter cross-sectional study. Clin Interv Aging, 14:905-913.  
13. Linda GM, Patrick JR, Martha LB (2008). Screening performance  
of the 15-item geriatric depression scale in a diverse elderly  
home care population. American Journal of Geriatric Psychiatry,  
16(11):914-921.  
KẾT LUẬN  
14. Noori AD, Janet L (2007). "Relation between depression and  
sociodemographic factors". International Journal of Mental Health  
Systems, 1(1):4-4.  
Tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tại  
xã Tân Hưng, Đồng Phú, Bình Phước năm 2019  
ở mức cao (20,7%) so với dân số chung và các  
yếu tố liên quan được tìm thấy trong mô hình đa  
biến là: có xung đột trong gia đình, là người dân  
tộc thiểu số, có lo lắng về vấn đề người chăm sóc  
khi bệnh, có giới hạn vận động và chất lượng  
cuộc sống thấp. Gia đình, chính quyền địa  
15. Fushimi M (2015) Prevalence of Depressive Symptoms and  
Related Factors in Japanese Employees: A Comparative Study  
between Surveys from 2007 and 2010. Psychiatry journal,  
pp.537073-537073.  
16. Leggett A, Zarit SH., Nguyen NH, Hoang CN, Nguyen HT  
(2012). The influence of social factors and health on depressive  
symptoms and worry: a study of older Vietnamese adults.  
Aging & mental health, 16(6):780-786.  
62  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020  
Nghiên cứu Y học  
17. Đảng ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2018). Đời sống đồng bào  
22. Nandini D, Martin GC (2003) Risk Factors for Depression  
Among Elderly Community Subjects: A Systematic Review and  
Meta-Analysi. American Journal of Psychiatry, 160(6):1147-56  
23. Taylor DJ, Lichstein KL, Durrence HH, Reidel BW, Bush AJ  
(2005). Epidemiology of insomnia, depression, and anxiety.  
Sleep - New York the Westchester, 28(11):1457-64.  
dân  
tộc  
thiểu  
còn  
nhiều  
khó  
khăn.  
URL:  
con-nhieu-kho-khan-1491848936.  
18. Kim KW, Park JH, Kim M-H, et al (2012). A nationwide survey  
on the prevalence and risk factors of late life depression in South  
Korea. Journal of Affective Disorders, 138(1-2):34-40.  
24. Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh (2017). Mối liên  
tphcm.org.vn/moi-lien-quan-giua-tram-cam-lo-au-va-mat-ngu.  
19. Williams K (2003) Has the Future of Marriage Arrived? A  
Contemporary Examination of Gender, Marriage, and  
Psychological Well-Being. Journal of Health and Social Behavior,  
44(4):470–487.  
Ngày nhận bài báo:  
15/11/2019  
20/11/2019  
10/03/2020  
20. Beach SRH, Whisman MA (2001). Marital and Family Processes  
in Depression: A Scientific Foundation for Clinical Practice.  
American Psychological Association, pp.259.  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
21. Lê Văn Khảm (2014). Vấn đề người cao tuổi ở Việt Nam hiện  
nay. Khoa học Việt Nam, pp.79-80.  
63  
pdf 9 trang yennguyen 11340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfroi_loan_tram_cam_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_nguoi_cao_tuoi_t.pdf