Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của Nanomelanin trên mô hình chuột mang khối ung thư được xạ trị
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG BẢO VỆ GAN CỦA NANOMELANIN
TRÊN MÔ HÌNH CHUỘT MANG KHỐI UNG THƯ ĐƯỢC XẠ TRỊ
Nguyễn Thị Lê Na1, Nguyễn Lê Minh Trí1, Ngạc Hoàng Dũng1, Bùi Thị Vân Khánh1
Từ Quang4, Nguyễn Thị Hiền3, Nguyễn Đình Thắng1, Hồ Anh Sơn2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá khả n ăng bảo vệ t ế bào gan của nanomelanin ở m ức liều điều trị
40 mg/kg thể trọng trên mô hình chuột mang khối ung thư được xạ trị. Vật liệu và phương pháp:
Nghiên cứu thực nghiệm, hạt nanomelanin kích thước 80 - 200 nm; phương pháp phân tích mô
học, phân tích chỉ tiêu hóa sinh, sử dụng kỹ thuật RT-PCR để đánh giá mức độ biểu hiện gen
mã hóa CAT, GPx ở mô gan. Kết quả và kết luận: Nanomelanin mức liều điều trị 40 mg/kg thể
trọng làm giảm tình trạng viêm mô gan. Kích thước khối ung thư giảm 80% so với nhóm chứng
sau đợt điều trị (p < 0,01). Chỉ tiêu enzyme chức năng gan (AST) tăng nhẹ (p < 0,05), đồng thời
mức độ biểu hiện gen mã hóa các enzyme CAT, GPx tăng tương ứng 1,86 và 1,5 lần ở mô gan
sau xạ trị.
* Từ khóa: Nanomelanin; Melanin; Xạ trị ung thư.
Evaluation of the Ability of Nanomelanin to Protect Liver Cells on
Tumor-Bearing Mice Irradiated with X-ray
Summary
Objectives: To evaluate the ability of nanomelanin (40 mg/kg) to protect liver cells on tumor-
bearing mice irradiated with X-ray. Materials and methods: Experimental method, histological,
biochemical criteria, RT-PCR technique to evaluate the expression level of genes coding CAT
and Gpx in liver tissue. Results and conclusion: Nanomelanin with a dose of 40 mg/kg
reduces inflammation in liver tissue. Nanomelanin reduced 80% of tumor volume (p < 0.01) and
increased slightly AST level in blood (p < 0.05). The transcription levels of CAT and GPx were
increased 1.86 and 1.5 times, respectively, during radiation therapy.
* Keywords: Nanomelanin; Melanin; Radiation therapy.
1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
2Viện Nghiên cứu Y Dược học Quân sự, Học viện Quân y
3Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông
4Bộ môn - Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y
Ngày nhận bài: 16/4/2021
Ngày bài báo được đăng: 01/6/2021
25
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
ĐẶT VẤN ĐỀ
đồng thời quá trình trao đổi chất bình
thường trong gan sẽ bị ảnh hưởng [5].
Hiện nay, trong điều trị bệnh ung thư,
xạ trị và hóa trị là 2 ph ương pháp chính
được sử dụng. Tuy nhiên, tác dụng phụ
của 2 phương pháp này ảnh hưởng đến
tế bào thường, làm chết tế bào và tăng
sinh mô. Xạ trị có th ể gây ra các phản
ứng phụ cấp tính cũng như mạn tính và
có thể gây ra một loại ung thư khác (ung
thư thứ phát) cho bệnh nhân. Xạ trị hay
hóa trị thường trực tiếp phá hủy DNA và
sinh ra các gốc oxy hóa có hoạt tính cao
(ROS). Nồng độ c ủa ROS t ăng tiếp tục
phá hủy DNA làm thay đổi quá trình trao
đổi chất bình thường của tế bào, dẫn đến
làm chết tế bào và các mô bình thường
[1, 2].
Melanin là một hợp chất polymer tự
nhiên được tìm thấy trong hầu hết các
sinh vật sống, có hoạt tính kháng oxy hóa
và khả năng hấp phụ tia UV c ũng như tia
xạ mạnh. Tuy nhiên, đây là m ột polymer
sinh học có độ tan rất thấp, hoàn toàn
không tan trong nước và các loại dung
môi hữu cơ hay acid đặc, chỉ tan một
phần rất nhỏ trong môi trường kiềm [6].
Ở nghiên cứu trước, chúng tôi đã
thành công trong việc đưa melanin về
dạng hạt nano với kích th ước 80 - 200
nm để tăng tính tan và hoạt tính sinh học
[6]. Trong nghiên cứu này, trên mô hình
chuột bị ung thư được chiếu xạ, chúng tôi
bước đầu đánh giá ảnh hưởng của
nanomelanin lên các tế bào gan thông
qua các chỉ tiêu về mô học, hóa sinh và
sử d ụng kỹ thuật RT-PCR để kiểm tra
mức độ biểu hiện của gen mã hóa
enzyme GP-x, CAT trong mô gan. Đây là
2 enzyme đóng vai trò quan trọng trong
quá trình tiêu thụ các gốc tự do nội sinh
hay ngoại sinh. Mục tiêu c ủa nghiên cứu
nhằm: Đánh giá tác dụng bảo vệ tế bào
gan của nanomelanin trên mô hình chuột
mang khối ung thư được xạ trị.
DNA bị phá hủy và sinh ra ROS d ẫn
tới kích hoạt chuỗi các tương tác sinh học
thông qua sự hoạt hóa của nhiều nhân tố
phiên mã, các cytokine tiền viêm hay các
enzyme như NF-κB, IL-1 β, IL-6, TNFα,
SOD [3]. Việc sinh ra các cytokine tiền
viêm hay các nhân tố phiên mã này làm
tăng tiết enzyme, phân hủy chất nền
ngoại bào metalloprotease, đồng thời các
cytokine viêm có mặt trong sự phát triển
và di căn của tế bào ung thư [4]. Vì v ậy,
loại bỏ ROS sinh ra trong quá trình hóa trị
và xạ trị là m ột trong những yếu tố góp
phần làm giảm tác dụng phụ c ủa xạ trị.
Gan là một trong những cơ quan quan
trọng nhất, đóng vai trò sống còn trong cơ
thể, có chức năng loại bỏ chất độc ra khỏi
máu, đồng thời là nơi dự trữ năng lượng,
các enzyme và hormon quan trọng trong
cơ thể. Trong liệu pháp chiếu xạ đối với
bệnh nhân ung thư, gan là một trong
những cơ quan chịu ảnh hưởng mạnh
của tia xạ. Đặc biệt, khi chiếu xạ liều cao
sẽ gây hiện tượng xơ gan, viêm gan,
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Vật liệu nghiên cứu
Động vật thí nghiệm và tế bào:
- Tế bào ung thư biểu mô liên kết
sarcoma 180 nuôi cấy trong môi trường
RPMI-1640 được bổ sung 10% huyết
thanh (FBS) và 1% penicillin/streptomycin
ở 37°C đặt trong tủ ấm 5% CO2.
- Chuột Swiss 5 tuần tuổi (Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương cung cấp) được chia
26
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
thành 4 nhóm, mỗi nhóm 5 con: Nhóm 1 gây u được tiêm dung dịch nanomelanin
đối chứng sinh học (NIL); nhóm 2 gây u, (40 mg/kg thể trọng) trước khi chiếu xạ tia
không được điều trị (NC); nhóm 3 có gây X cường độ 6 Gy. Sau đó, tiêm thêm
u, được chiếu xạ (IR); nhóm 4 có gây u, 2 liều nanomelanin bổ sung sau chiếu xạ
được chiếu xạ, điều trị bằng nanomelanin 3 và 6 ngày với liều lượng không đổi.
(IR + MEL).
* Phương pháp phân tích mô học:
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tạo dung dịch
nanomelanin:
Các mẫu mô gan chuột được lưu giữ
trong dung dịch formalin 10%, sau đó loại
canxi bằng acid formic và cố định trong
paraffin. Tiếp theo, các mô gan trong
paraffin được cắt lát mỏng cố định trên
lam kính tạo thành các tiêu bản. Sau đó,
nhuộm các mẫu mô bằng hematoxylin và
eosin trước khi quan sát dưới kính hiển vi.
*
Bột melanin (CAS Number: 8049-97-6;
hãng Sigma Aldrich, Mỹ) được hòa tan
trong dung dịch NaOH. Nanomelanin kích
thước 80 - 100 nm được tạo ra trong
nghiên cứu đã được công bố [6].
* Phương pháp RT-PCR:
* Phương pháp tạo khối u dưới da:
ARN tổng số được tách t ừ m ẫu mô
gan chuột thí nghiệm bằng kít tách ARN
(hãng Thermo Fisher Scientific, Mỹ) theo
hướng dẫn của nhà sản xuất. Sau đó,
cDNA được tổng hợp từ ARN tổng số
bằng bộ kít tổng hợp cDNA (hãng Thermo
Fisher Scientific, Singapore). Phản ứng
RT-PCR đo bằng hệ thống LightCycler 96
(hãng Roche Diagnostics GmbH, Đức).
Các bản sao của gen mã hóa GPx và
CAT được định lượng bằng phản ứng
RT-PCR qua so sánh với số l ượng bản
sao của gen nội chứng GAPDH.
Được mô t ả trong nghiên cứu trước
[6]: Tạo khối u d ưới da b ằng cách tiêm
dưới da chuột dung dịch mang tế bào
sarcoma 180 ở n ồng độ 1,5 × 106/ml.
Quan sát sự hình thành khối u. Khi kích
thước khối u khoảng 7 cm, tiến hành
chiếu xạ trong điều kiện có hoặc không
điều trị bằng dung dịch nanomelanin.
* Phương pháp chiếu xạ điều trị khối u
trên chuột:
Phát triển dựa theo nghiên cứu của
Agnieszka MP và CS (2019) [9]: Chuột đã
Bảng 1: Trình tự các cặp mồi của gen mã hóa các enzyme.
Tên Gen
Mouse GAPDH (F)
Trình tự (5’- 3’)
CCCATCACCATCTTCCAGGAGC
CCAGTGAGCTTCCCGTTCAGC
AAGAAATCAAGGAGTTTGCAGG-
ATCCATTTCCACAGTGGGTG
AGGCGGGAACCCAATAG
Mouse GAPDH (R)
Mouse GP-x (F)
Mouse GP-x (R)
Mouse CAT (F)
Mouse CAT (R)
TTTTGCGTGTACCACTCTC
* Xử lý số liệu: Bằng phần mềm Student’s t-test.
27
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1. Kết quả mô học và hình thái gan chuột
Bảng 2: Mức độ viêm gan của các nhóm chuột.
Mức độ viêm gan (%)
Nhóm chuột
Vừa
-
Nhẹ
-
Thoái hóa nhẹ tế bào gan
Không
NIL
NC
IR
-
-
-
60
20
-
40
60
60
-
20
20
-
IR + MEL
20
Không quan sát thấy khác biệt về mặt hình thái của gan giữa các nhóm chuột được
điều trị và không được điều trị nanomelanin. Phân tích đánh giá mô học của các mẫu
gan ở các nhóm chuột thấy có sự khác biệt giữa các nhóm được điều trị và không được
điều trị nanomelanin. Ở nhóm chuột được chiếu xạ (IR) mức liều 6 Gy, số lượng mẫu
xuất hiện viêm gan mức độ vừa chiếm 20%, mức độ nhẹ và có sung huyết là 80%.
Ở nhóm được tiêm nanomelanin mức liều 40 mg/kg thể trọng, mức độ viêm gan giảm
rõ rệt, chuột chỉ bị viêm gan mức độ nhẹ, các tế bào gan xuất hiện thoái hóa, số lượng
mẫu không bị viêm gan chiếm 20%. Trong khi đó, ở nhóm không được chiếu xạ,
chỉ gây u (NC), 100% chuột bị viêm gan mức độ vừa và nặng. Điều này cho thấy
nanomelanin mức liều điều trị 40 mg/kg thể trọng có tác dụng hạn chế tình trạng viêm gan.
2. Thay đổi trọng lượng, thể tích khối u trong quá trình điều trị
Hình 1: Chuột được gây u bằng sarcoma 180 ở lưng (A, B); Trọng lượng chuột thay
đổi theo thời gian trong quá trình điều trị (C); Thể tích khối u trong quá trình điều trị (D).
28
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
Theo dõi cân nặng và s ự phát triển này tương tự nghiên cứu trước đây của
của khối u trong 25 ngày điều trị
(hình 1C, D): Trọng lượng chuột tăng dần
cho đến sau ngày thứ 10, chuột được
chiếu xạ m ức liều 6 Gy. Sau chiếu xạ,
trọng lượng chuột ở nhóm IR và IR +
MEL giảm. Đến ngày thứ 15, trọng lượng
chuột tăng trở l ại. Kích thước khối u ở
nhóm NC tăng dần theo thời gian (hình 1D).
Kích thước khối u ở các nhóm chuột
chúng tôi khi sử d ụng nanomelanin trên
mô hình chuột gây khối ung thư phổi [6].
3. Kết quả phân tích các enzyme
chức năng gan
Đánh giá, phân tích và định lượng mẫu
máu của các nhóm chuột theo 2 chỉ s ố
men aspartate aminotransferase (AST)
hay còn gọi là glutamic-oxaloacetic
được chiếu xạ (IR và IR + MEL) đều giảm transaminase (GOT) và men alanine
so với nhóm NC.
aminotransferase (ALT) hay còn gọi là
glutamic-pyruvic transaminase (GPT).
Nồng độ AST và ALT được xem là dấu ấn
sinh học dễ nhận thấy trong việc đánh giá
chức năng sinh học của gan và tham gia
vào quá trình trao đổi chuyển hóa các
nhóm amino acid [7].
Sau ngày thứ 25, kích thước khối u ở
nhóm IR + MEL gi ảm 80% so với nhóm
NC (p < 0,01) và gi ảm 45% so với nhóm
IR (p < 0,05). Điều này cho thấy,
nanomelanin có tác dụng ức chế sự phát
triển của khối u sarcoma 180. Kết quả
Bảng 2: Chỉ số AST và ALT của các nhóm chuột.
Nhóm chuột
Enzyme
Đơn vị
NIL
NC
IR
IR + MEL
206,4 21,5
56,4 12,2
AST (GOT)
ALT (GPT)
U/l
U/l
253,1 20,2
66,6 12,3
175,6 24,3
41,8 10,3
163 45,6
49,3 7,4
Chỉ số AST ở nhóm NC, IR và IR + MEL đề u giảm so với nhóm NIL (p < 0,05), do
đây là các nhóm chuột đã bị gây u. Nhóm NC có chỉ số AST và ALT r ất thấp. Sau xạ
trị, nồng độ AST ở các nhóm IR và IR + MEL đều tăng so với nhóm NC (p < 0,05), tuy
nhiên nồng độ ALT không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm NC.
4. Kết quả đánh giá mức độ biểu hiện gen mã hóa các enzyme CAT, GPx ở
mô gan
Các mẫu gan ở các nhóm chuột được tách ARN, tổng hợp cDNA và s ử dụng kỹ
thuật RT-PCR để đánh giá ảnh hưởng của nanomelanin đến mức độ biểu hiện gen mã
hóa các enzyme CAT và GPx. Enzyme CAT (Catalase) là một protein có kích thước
240 kDa với 4 tiểu phần đơn vị bằng nhau, mỗi tiểu phần có kích thước 60 kDa. CAT
là một enzyme đóng vai trò kháng oxy hóa và có mặt ở mọi cơ quan của cơ thể sống.
Enzyme sử dụng sắt hoặc đồng như là m ột cofactor và xúc tác quá trình phân hủy
H2O2 thành phân tử nước và oxy. Đây là một cơ chế quan trọng trong hàng rào bảo vệ
cơ thể sống chống lại các gốc tự do. GPx là m ột enzyme nội bào có khả năng phân
29
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
hủy H2O2 và lipid peroxides thành các gốc rượu tương ứng ở ty thể, đôi khi ở cytosol.
CAT và GPx là 2 enzyme có vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ cơ thể trước ảnh
hưởng của các gốc tự do nội sinh hay ngoại sinh [8, 9].
Hình 2: Ảnh hưởng của nanomelanin đến tăng mức độ
biểu hiện gen của CAT và GPx ở các mẫu gan.
hóa trong cơ thể chuột sau quá trình
chiếu xạ.
Sau quá trình chiếu xạ, các gen mã
hóa 2 enzyme CAT và GPx đều tăng
đáng kể so v ới nhóm chứng (p < 0,01),
nguyên nhân do quá trình chiếu xạ phá
hủy DNA của tế bào tạo nên rất nhiều gốc
tự do (ROS). Các gen mã hóa những
enzyme này tăng lên cho thấy cơ thể
đang phản ứng lại với việc tăng đột ngột
các gốc tự do sau chiếu xạ. Các enzyme
CAT và GPx được tổng hợp sẽ t ăng
cường các phản ứng tự bảo vệ cơ thể để
giảm thiểu tình trạng căng thẳng gây nên
bởi nồng độ ROS v ượt quá ngưỡng cân
bằng [10].
Trong những năm gần đây, vai trò của
melanin được nghiên cứu ở nhiều khía
cạnh. Các tiềm năng của melanin như
khả năng kháng oxy hóa, chống tan máu,
kháng ung thư có thể ứng dụng trong
dược phẩm [11]. Vai trò giảm tình trạng
viêm gan khi kết hợp với hạt nano vàng là
một tác dụng khác của melanin [12].
Kết quả nghiên cứu ban đầu đã chỉ ra
nanomelanin có khả năng làm giảm tình
trạng viêm gan và sự phát triển kích
thước khối u sarcoma 180 trên mô hình
chuột mang khối ung thư được xạ trị.
Tăng mức độ biểu hiện của các enzyme
CAT và GPx sau khi chiếu xạ có th ể là
một trong những lý do giúp cải thiện tình
trạng viêm gan ở các nhóm chuột được
điều trị bằng nanomelanin.
Ở nhóm IR + MEL, mức độ biểu hiện
gen mã hóa enzyme CAT và GPx tăng
tương ứng 1,89 và 1,5 lần so với nhóm IR
(p < 0,05). Điều này cho thấy nanomelanin
có khả năng bảo vệ các tế bào gan thông
qua việc làm tăng mức độ biểu hiện gen
mã hóa các enzyme có vai trò kháng oxy
30
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
Nguyen Thi Van Anh, Nguyen Dinh Thang.
Nanomelanin potentially protects the spleen
from radiotherapy-associated damage and
enhances immunoactivity in tumor-bearing
mice. Materials 2019; 12(10):1725.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu bước đầu thử nghiệm khả
năng bảo vệ mô gan của hạt nanomelanin
kích thước 80 - 200 nm trên mô hình xạ
trị ung th
ư
ở
chuột nhắt trắng.
7. Sookoian S, Pirola CJ. Liver enzymes,
metabolomics and genome-wide association
studies: From systems biology to the
personalized medicine. World J Gastroenterol
2015; 21:711-725.
Nanomelanin mức liều 40 mg/kg thể trọng
có tác dụng giảm nhẹ mức độ tổn thương
của các tế bào gan. Đồng thời, khi chuột
được điều trị b ằng nanomelanin giúp
phục hồi nhẹ men gan AST (p < 0,05) và
tăng mức độ biểu hiện gen CAT, GPx
tương ứng 1,89 và 1,5 lần trong các tế
bào mô gan.
8. OM Ighodaroab, OA Akinloyeb. First line
defence antioxidants-superoxide dismutase
(SOD), catalase (CAT) and glutathione
peroxidase (GPx): Their fundamental role in
the entire antioxidant defence grid. Alexandria
Journal of Medicine. 2019; 54(4):287-293.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
9. Agnieszka Małgorzata Pudlarz, Ewa
Czechowska, Michał S Karbownik, Katarzyna
Ranoszek-Soliwoda, Emilia Tomaszewska,
Grzegorz Celichowski, Jarosław Grobelny,
Ewa Chabielska, Anna Gromotowicz-Popławska,
Janusz Szemraj. The effect of immobilized
antioxidant enzymes on the oxidative stress in
UV-irradiated rat skin. Nanomedicine. 2019;
15(1):166.
1. Travis LB, Hodgson D, Allan JM, Van
Leeuwen FE. Second Cancers. In: DeVita VT
Jr, Lawrence TS, Rosenberg SA, editors.
Cancer: Principles and practice of oncology.
8th edition. Philadelphia: Lippincott Williams
and Wilkins4. Conklin KA. Chemotherapy-
associated oxidative stress: Impact on
chemotherapeutic effectiveness. Integr Cancer
Ther 2004; 3(4):294-300.
10. Úrsula Muñoz Morón, Inma Castilla-
Cortázar. Protection against oxidative stress
and IGF-I deficiency conditions. Antioxidant
Enzyme. Mohammed Amr El-Missiry,
IntechOpen 2012. DOI: 10.5772/51047.
2. Ewald JA, Desotelle JA, Wilding G,
Jarrard DF. Therapy-induced senescence in
cancer. J Natl Cancer Inst 2010; 102(20):
1536-1546.
3. Sonis ST. The pathobiology of mucositis.
Nat Rev Cancer 2004; 4(4):277-284.
11. Noura El-Ahmady El-Naggar, Sara M
El-Ewasy. Bioproduction, characterization,
anticancer and antioxidant activities of
extracellular melanin pigment produced by
newly isolated microbial cell factories
4. Pico JL, Avila-Garavito A, Naccache P.
Mucositis: Its occurrence, consequences, and
treatment in the oncology setting. Oncologist
1998; 3(6):446-451.
Streptomyces
glaucescens
NEAE-H.
5. Tetsuo Nakajima, Yasuharu Ninomiya,
Mitsuru Nenoi. Radiation-induced reactions in
the liver-modulation of radiation effects by
lifestyle-related factors. International Journal
of Molecular Science 2018; 19(12):3855.
Scientific Reports 2017; 7:42129. DOI:
10.1038/srep42129.
12. Mohamed Anwar K Abdelhalim, Sherif
A Abdelmottaleb Moussa, Huda AY Qaid,
Mohammed Suliman Al-Ayed. Effect of melanin
on gold nanoparticle-induced hepatotoxicity
6. Nguyen Thi Le Na, Sai Duc Loc, Nguyen
Le Minh Tri, Nguyen Thi Bich Loan, Ho Anh
Son, Nguyen Linh Toan, Ha Phuong Thu,
Hoang Thi My Nhung, Nguyen Lai Thanh,
and lipid peroxidation in rats. Int
Nanomedicine 2018; 13:5207-5213.
J
31
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của Nanomelanin trên mô hình chuột mang khối ung thư được xạ trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_tac_dung_bao_ve_gan_cua_nanomelanin_tren_mo_hinh.pdf

