Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng cho bến thuyền sông Hương, thành phố Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 15, Số 1 (2020)  
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG GIAO THÔNG  
CÔNG CỘNG ĐƢỜNG THỦY VÀ ÁP DỤNG CHO BẾN THUYỀN SÔNG  
HƢƠNG, THÀNH PHỐ HUẾ  
*
Trần Thành Nhân , Nguyễn Thị Minh Xuân  
Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 9/9/2019; ngày hoàn thành phản biện: 3/10/2019; ngày duyệt đăng: 20/12/2019  
TÓM TẮT  
Trong những năm gần đây, hệ thống giao thông công cộng (GTCC) đóng vai trò  
quan trọng trong việc cung cấp phương tiện đi lại tiện dụng và làm tăng khả năng  
tiếp cận các dịch vụ cho con người. Do đó, chất lượng dịch vụ giao thông luôn  
được xem xét, kiểm tra, đánh giá và cải thiện liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại  
ngày càng cao của người dân. Trong đó, khả năng tiếp cận đến các bến bãi,  
phương tiện, dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất  
lượng hệ thống GTCC. Mục tiêu của nghiên cứu này là tập trung đi sâu tìm hiểu  
các giải pháp kỹ thuật, quy hoạch nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của du khách  
tới các bến thuyền trên trục Lê Lợi – Sông Hương – Thành phố Huế.  
Từ khóa: khả năng tiếp cận; giao thông công cộng đường thủy; tỷ lệ người sử  
dụng; du lịch đường thủy; bến du thuyền; hiệu quả khai thác; thành phố du lịch.  
1. MỞ ĐẦU  
Giao thông công cộng nói chung là một trong nhiều giải pháp phát triển xanh,  
bền vững được nhiều đô thị trên thế giới ưu tiên trong chiến lược phát triển. Nó không  
chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề giao thông đô thị như ùn  
tắc giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường do giao thông, < mà còn có vai  
trò không kém phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển du lịch của các thành  
phố. So với giao thông công cộng đường bộ, giao thông công cộng đường thủy có  
nhiều hạn chế như kém thuận tiện hơn, thời gian đi lại lớn hơn và khả năng gặp rủi ro  
cao hơn do chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện thời tiết, < nhưng lại rất thích hợp  
để phát triển đối với những đô thị có nhiều sông suối, ao hồ.  
Ở Việt Nam, với đặc điểm nhiều sông suối, ao hồ trong khu vực đô thị như ở  
thành phố Đà Nẵng, Huế hay thành phố Hồ Chí Minh thì hệ thống giao thông công  
77  
Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng …  
cộng đường thủy đô thị không những có thể hổ trợ tốt cho giao thông đường bộ vốn  
đã quá tải và làm giảm ô nhiễm khí thải nội đô mà còn có khả năng tận dụng, phát huy  
thế mạnh của hệ thống kênh rạch, sông suối này, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác  
du lịch sinh thái ven sông, do đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội đô thị,  
nâng cao chất lượng đời sống của người dân đô thị. Tuy nhiên, trong hầu hết các đô thị  
nước ta hiện nay, hệ thống giao thông đường thủy nói chung và giao thông công cộng  
đường thủy nói riêng lại chưa được chú trọng phát triển, chưa tạo ra sự kết nối, liên hệ  
thuận tiện, do đó chưa khuyến khích phát triển được lợi thế của ngành kinh tế du lịch.  
Vấn đề tiếp cận, kết nối đến hệ thống giao thông đường thủy còn tồn tại nhiều hạn chế,  
đường tiếp cận đến bến thuyền chưa thuận tiện; tình trạng thiếu thốn về hạ tầng như  
nhà chờ, hệ thống báo hiệu, chiếu sáng vào ban đêm hay vấn đề vệ sinh môi trường tại  
khu vực bến thuyền chưa đảm bảo diễn ra rất phổ biến tại hầu hết các bến thuyền; dịch  
vụ thông tin đến với người sử dụng chưa rõ ràng; chính sách quản lý và hổ trợ của  
Nhà Nước chưa đúng mức, < Điều này đã gây ấn tượng không tốt đối với người sử  
dụng địa phương cũng như đối với du khách tham quan tại các bến du thuyền. Với  
thực trạng đó, cần thiết phải có những nghiên cứu như “Nâng cao khả năng tiếp cận hệ  
thống giao thông công cộng đường thủy” nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả khai  
thác hệ thống các bến du thuyền, nâng cao tỷ lệ người sử dụng, tạo điều kiện phát triển  
và mở rộng hệ thống giao thông công cộng đường thủy trong tương lai, đáp ứng nhu  
cầu dịch vụ du lịch ven sông cho các thành phố. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng cụ  
thể cho trường hợp bến du thuyền Sông Hương, thành phố Huế.  
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn  
Hệ thống giao thông công cộng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp khả  
năng đi lại và tiếp cận các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người, nó cho phép con  
người dễ dàng tiếp cận tới nơi làm việc, trường học, bệnh viện, trung tâm mua sắm, <  
Chất lượng dịch vụ giao thông công cộng được đo đạc, kiểm tra, đánh giá và cải thiện  
liên tục để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng. Một trong những yếu  
tố chính góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hấp dẫn của hệ thống giao thông  
công cộng là khả năng tiếp cận tới hệ thống.  
Khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng là sự dễ dàng mà ở đó tất cả  
các loại hành khách có thể tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ của hệ thống, nó phản  
ánh mức độ tiếp cận của con người tới hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động khác, bao  
gồm tiếp cận bến bãi, tiếp cận phương tiện và tiếp cận dịch vụ. Trong đó, tiếp cận bến  
bãi gồm các khía cạnh liên quan đến môi trường tiếp cận, mức độ an toàn và tiếp cận  
dịch vụ gồm có thời gian hoạt động của hệ thống, giá vé, hệ thống bán vé, kiểm soát  
vé, hệ thống thông tin. Một hệ thống giao thông công cộng đảm bảo khả năng tiếp cận  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 15, Số 1 (2020)  
khi hệ thống đảm bảo cả 3 yếu tố tiếp cận cơ bản là tiếp cận bến bãi, tiếp cận phương  
tiện và tiếp cận dịch vụ Hình 1  
Hình 1. Khả năng tiếp cận toàn diện hệ thống giao thông công cộng  
Để đánh giá khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng có thể thực hiện  
bằng cách sử dụng các công cụ đo lường như bộ tập hợp các chỉ số hoặc thông qua việc  
hướng dẫn tự đánh giá, hướng dẫn bài học thành công, hoặc bằng cổng thông tin web  
và những người sử dụng cuối cùng. Trong đó, bộ tập hợp các chỉ số được sử dụng phổ  
biến để đánh giá hệ thống giao thông công cộng đô thị. Việc đánh giá mỗi nhóm chỉ số  
là sự đánh giá tổng thể dựa trên các chỉ số thành phần được mô tả. Mỗi chỉ số có thể  
đại diện cho một tập hợp các câu hỏi và các bộ dữ liệu, và để đánh giá các chỉ số này có  
thể sử dụng sự đánh giá định lượng (theo số lượng cụ thể hay tỷ lệ %) hoặc đánh giá  
chất lượng so với trước đây (tốt hơn, như trước đây hay tệ hơn) hoặc bằng cách mô tả,  
< Tuy nhiên, sử dụng một số chỉ tiêu định lượng có thể được thêm vào khi mô tả định  
tính để tạo điều kiện so sánh theo thời gian, một số chỉ có thể dựa vào sự có sẳn của dữ  
liệu và kiến thức hiện tại [1].  
Để nâng cao khả năng khai thác của hệ thống giao thông công cộng đường thủy  
cần phải có các giải pháp làm tăng khả năng tiếp cận đến hệ thống này. Một số giải  
pháp tiếp cận bến thuyền được sử dụng thành công trên thế giới được thể hiện trên  
Hình 2, 3.  
Hình 2. Tiếp cận bến bãi (trạm dừng) ở Paris, Pháp (Internet)  
79  
Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng …  
Hình 3. Đường tiếp cận cho bộ hành đến bến thuyền – Kè Orsay trên sông Seine, Pháp (Internet)  
2.2. Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận giao thông công cộng đƣờng thủy  
2.2.1. Giải pháp thiết kế hình học lối ra/vào  
Lối ra vào càng dễ dàng thì càng thuận tiện cho việc đi lại, di chuyển và đậu đỗ  
của hành khách cũng như phương tiện đến bến thuyền. Các giải pháp thiết kế hình học  
lối ra, vào bến thuyền gồm có bề rộng các yếu tố trên mặt cắt ngang như bề rộng làn  
đường, bề rộng dải phân cách, bề rộng nhà chờ (điểm dừng), bề rộng đường đi bộ; loại  
kết cấu mặt đường và vỉa hè. Cụ thể như sau:  
a. Bề rộng các yếu tố trên mặt cắt ngang  
Tùy thuộc vào các yếu tố như số lượng phương tiện và người ra vào bến thuyền cũng  
như loại phương tiện và điều kiện cụ thể của các bến thuyền, bề rộng các yếu tố trên  
mặt cắt ngang được chọn sao cho các loại phương tiện bao gồm cả xe con và xe khách  
có thể di chuyển thuận lợi, đồng thời đảm bảo an toàn và thuận tiện cho người đi bộ  
đến bến thuyền (Bảng 1)  
Bảng 1. Bề rộng các yếu tố trên mặt cắt ngang lối vào  
Loại làn  
Bề rộng tối thiểu (m) Bề rộng tối ƣu (m)  
Bề rộng làn đường tại điểm dừng  
Bề rộng dải phân cách giữa các làn  
Bề rộng bố trí nhà chờ/ Ðiểm dừng  
Bề rộng đuờng đi bộ  
3
3,5  
0,3  
0,2  
2,5  
2,5  
3
3,5 ÷ 4,0  
4
Bề rộng làn dành chung cho xe đạp và người đi bộ  
4,5  
b. Loại kết cấu mặt đường  
Trong phạm vi lối ra/vào bến thuyền, ngoài bộ hành thì các loại xe du lịch là loại  
phương tiện chủ yếu. Hơn nữa, do phải tiếp cận bến bãi, nhà chờ nên phương tiện đi  
lại trong khu vực này thường có tốc độ thay đổi liên tục với việc phải sử dụng phanh  
nhiều. Do đó, khi thiết kế lối ra, vào bến thuyền, để có thể đáp ứng yêu cầu về cường  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 15, Số 1 (2020)  
độ và phù hợp với tính chất cũng như điều kiện chịu tải của làn đường, loại vật liệu  
mặt đường được kiến nghị sử dụng là bê tông xi măng. Ưu điểm chính của loại kết cấu  
này là tiết kiệm chi phí duy tu, bảo dưỡng trong quá trình khai thác. Ngoài ra, nó còn  
tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí các dự án công trình ngầm trong khu vực.  
c. Loại kết cấu vỉa hè  
Chức năng quan trọng của vỉa hè là phục vụ cho bộ hành, ngoài ra nó còn là nơi  
bố trí các công trình trên và dưới mặt đất như hệ thống biển báo, cây xanh, chiếu sáng,  
thoát nước, cáp thông tin, liên lạc, ... Do đó, loại kết cấu vỉa hè thiết kế phải đảm bảo  
thuận tiện và an toàn cho người đi bộ, đồng thời phải đảm bảo tính bền vững, hài hòa  
với không gian và cảnh quan khu vực, tránh sử dụng các loại vật liệu có màu sắc rực rỡ  
gây mất tập trung cho người lái xe trên đường.  
Kiến nghị có thể sử dụng loại vật liệu đá xẻ Marble hoặc Granit để lát vỉa hè.  
Hai loại này đều có độ bền cao và đảm bảo mỹ quan cho đô thị. Tuy nhiên, loại đá  
Marble trong thực tế phổ biến hơn (chiếm 90%) nên phù hợp hơn về mặt chi phí xây  
dựng. Về mặt cấu tạo, yêu cầu đá lát phải có dạng tấm hình vuông, chữ nhật hoặc hình  
dạng bất kỳ theo yêu cầu thẩm mỹ, độ dày ≥3cm, các mặt được mài phẳng, mặt chính  
được tạo bóng, mặt trên được tạo nhám để tránh trơn trượt cho người đi bộ trong điều  
kiện thời tiết không thuận lợi (Hình 4).  
Hình 4. Vỉa hè sử dụng vật liệu đá xẻ  
Hình 5. Cấu tạo khu vực bán vé và chăm sóc  
khách hàng  
2.2.2. Hệ thống bán vé và chăm sóc khách hàng  
a. Thiết kế không gian phòng bán vé  
Phòng bán vé được thiết kế để phòng trường hợp hệ thống bán vé tự động bị  
hỏng hay khi lưu lượng người mua quá lớn, thời gian chờ đợi quá lâu, ... đảm bảo dịch  
vụ được vận hành liên tục và thuận tiện cho người sử dụng. Yêu cầu phòng bán vé  
phải đảm bảo không gian thông thoáng, hiện đại, cung cấp đầy đủ các trang thiết bị  
đáp ứng tiện nghi cho người sử dụng cũng như trang thiết bị cung cấp, hiển thị thông  
81  
Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng …  
tin. Đội ngũ nhân viên phục vụ phải có phong cách làm việc chuyên nghệp, luôn có  
thái độ thân thiện và niềm nở với hành khách. Cấu tạo phòng bán vé kiến nghị gồm có:  
khu vực dành cho nhân viên (A), khu vực ghế ngồi dành cho hành khách (B) và khu  
vực đi lại (C) (Hình 5).  
b. Phòng chăm sóc khách hàng  
Dịch vụ chăm sóc khách hàng được xem là đầu mối tập trung tiếp nhận và xử  
lý toàn bộ thông tin liên quan đến người sử dụng, đồng thời cũng là bộ phận tiếp nhận  
thông tin góp ý, phản ánh hay kiến nghị của hành khách về hoạt động của toàn hệ  
thống. Tương tự như khu vực bán vé, phòng chăm sóc khách hàng phải đảm bảo  
không gian tiện nghi, thông thoáng, hiện đại và phục vụ chuyên nghiệp, thân thiện với  
người sử dụng. Diện tích tùy thuộc vào quy mô và nhu cầu của hành khách, gồm có 3  
bộ phận như Hình 4.  
2.2.3. Giải pháp nhà chờ, bãi đỗ xe  
Nhà chờ cho khách tại các bến thuyền có thể có cấu tạo tương tự như nhà chờ  
(trạm dừng) của phương tiện giao thông công cộng đường bộ với kích thước và diện  
tích phụ thuộc bề rộng đường dẫn đến bến và nhu cầu sử dụng tại bến. Cấu tạo nhà  
chờ phải đảm bảo thoải mái, an toàn và tiện nghi cho người sử dụng trong mọi điều  
kiện thời tiết, gồm có ghế ngồi, mái che, chiếu sáng vào ban đêm, bảng thông tin điện  
tử về hành trình các chuyến đi, hệ thống bán vé tự động, <  
Bãi đỗ xe là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao tính tiếp cận  
cho hệ thống giao thông công cộng nói chung. Quy hoạch thiết kế bãi đậu xe hợp lý  
không những làm tăng khả năng tiếp cận của hầu hết các loại người sử dụng đến với  
hệ thống mà còn tăng khả năng hấp dẫn, thu hút người sử dụng do tính thuận tiện của  
hệ thống. Bãi đỗ xe trong khu vực bến thuyền được thiết kế riêng cho từng loại xe, gồm  
có bãi đậu xe ô tô, bãi đậu xe máy và bãi đậu xe đạp. Trong đó, bãi đậu xe ô tô được  
thiết kế cho xe con hay xe taxi và xe du lịch. Do taxi có đặc điểm chỉ đậu, đỗ tạm thời  
trong thời gian ngắn nên có thể bố trí làn ngoài cùng trên đường tiếp cận với bến  
thuyền làm bãi đỗ xe song song. Trong khi đó, xe du lịch và những xe có nhu cầu đậu  
đổ lâu hơn thì sử dụng bãi đỗ xe chéo góc để tiết kiệm diện tích đậu xe trong khu vực  
bến thuyền (Hình 6). Kích thước cụ thể một bãi đỗ xe tùy thuộc vào loại xe và số lượng  
xe có nhu cầu đậu đỗ cũng như thời gian đậu đỗ. Khi thiết kế có thể áp dụng tiêu  
chuẩn TCXDVN104-2007 [3].  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 15, Số 1 (2020)  
Hình 6. Giải pháp bãi đỗ xe ô tô, xe máy và xe đạp (Internet)  
2.2.4. Giải pháp bố trí chiếu sáng  
Giải pháp chiếu sáng được thiết kế theo tiêu chuẩn chiếu sáng nhân tạo  
TCXDVN333-2005 [4], đảm bảo yêu cầu về độ rọi, độ sáng nhưng không gây chói mắt  
cho người và phương tiện sử dụng, đồng thời đảm bảo tính thẩm mỹ, phù hợp với  
cảnh quan khu vực. Hệ thống chiếu sáng được bố trí ở tất cả các khu vực của hệ thống,  
gồm bãi đậu xe, khu vực cho người đi bộ, trên đường xe chạy, khu vực bán vé, chăm  
sóc khách hàng, <  
2.3. Ứng dụng trƣờng hợp bến du thuyền Tòa Khâm – Sông Hƣơng - thành phố Huế  
Tòa Khâm là bến thuyền có diện tích vả khả năng trung chuyển lớn nhất trong  
các bến thuyền trên trục đường Lê Lợi, Sông Hương với khoảng hơn 120 chiếc thuyền  
rồng to nhỏ khác nhau. Hoạt động chủ yếu của bến thuyền là phục vụ khách du lịch  
du thuyền trên sông Hương. Vị trí bến thuyền giáp với Sông Hương ở phía Bắc, phía  
Nam giáp đường Lê Lợi, phía Tây giáp công viên cây xanh và phía Đông giáp khách  
sạn Century, bến thuyền Tòa Khâm được đặt ngay giao lộ giữa đường Lê Lợi và Đội  
Cung, là nơi tập trung khá nhiều khách sạn lớn nhỏ nên thu hút lượng du khách khá  
lớn vào các mùa lễ hội.  
Bảng 2. Nhu cầu sử dụng bến thuyền Tòa Khâm vào giờ cao điểm tháng 7/2019  
Số lƣợng khách  
(ngƣời)  
Số lƣợng khách sử dụng  
các dịch vụ (ngƣời)  
Số lƣợng xe các loại (xe)  
Xe  
45  
Xe  
35  
Xe  
24  
Xe  
12  
Xe  
7
Xe  
4
Đi bằng  
phƣơng tiện  
các loại  
Đi  
bộ  
Nhà  
chờ  
Phòng  
dịch vụ  
Hoạt  
động  
khác  
Xe  
Xe  
máy đạp  
chỗ chỗ chỗ chỗ chỗ chỗ  
3
3
4
3
3
4
20  
20  
489  
100  
200  
200  
200  
Hiện trạng nhu cầu sử dụng bến thuyền rất lớn, đặc biệt vào giờ cao điểm ở  
Bảng 2. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải của hệ thống, gây ra nhiều vấn đề bất cập  
trong việc phân luồng và tổ chức giao thông, gây ách tắc giao thông khu vực lân cận.  
Bên cạnh đó, điều kiện về cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận hệ thống còn thể hiện  
nhiều yếu kém, cụ thể như thiếu hệ thống biển báo, chỉ dẫn gây khó khăn cho hành  
khách tiếp cận thông tin; nhà chờ, đường lên xuống, hệ thống bán vé và hệ thống chiếu  
83  
Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng …  
sáng chưa đảm bảo; các vấn đề về môi trường và trật tự đô thị chưa được quan tâm,  
tình trạng lấn chiếm lòng đường, hè đường đi bộ và công viên làm nơi buôn bán, để xe  
còn rất phổ biến, tình trạng mất vệ sinh tại khu vực bến thuyền và các khu vực lân cận  
xảy ra thường xuyên, ... Điều này đã gây nhiều ấn tượng không tốt đối với người sử  
dụng, đặc biệt là khách tham quan, du lịch khi đến thành phố.  
Một số kết quả về giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống dịch vụ du  
thuyền tại bến Tòa Khâm được thể hiện trên các Hình 7, 8.  
Hình 7. Mặt bằng tổng thể bến thuyền Tòa Khâm – Sông Hương – thành phố Huế  
Hình 8. Một số giải pháp tiếp cận hệ thống bến thuyền Tòa Khâm, thành phố Huế  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về khả năng tiếp cận hệ thống giao thông  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 15, Số 1 (2020)  
công cộng nói chung và hiện trạng tiếp cận giao thông công cộng đường thủy cho thấy  
tầm quan trọng của các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận đối với hiệu quả khai  
thác của hệ thống giao thông công cộng nói chung và giao thông công cộng đường  
thủy nói riêng. Tuy nhiên, thực tế khai thác tại các bến thuyền ở các đô thị nước ta  
chưa chú trọng đến các giải pháp nâng cao tính tiếp cận này. Từ đó, các tác giả đã  
nghiên cứu và đề xuất 4 nhóm giải pháp với 8 giải pháp cụ thể về việc nâng cao tính  
tiếp cận đến hệ thống dịch vụ các bến du thuyền, bao gồm giải pháp thiết kế hình học  
lối ra/vào; giái pháp hệ thống bán vé, chăm sóc khách hàng; giải pháp nhà chờ, bãi đỗ  
xe; và giải pháp hệ thống chiếu sáng. Các giải pháp đề xuất trên nguyên tắc đảm bảo 3  
yếu tố về khả năng tiếp cận, gồm tiếp cận phương tiện, tiếp cận dịch vụ và tiếp cận bến  
bãi, trạm dừng. Các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc nâng cao khả năng tiếp  
cận của người sử dụng đến các hệ thống dịch vụ du thuyền, tạo điều kiện thuận lợi cho  
người và phương tiện đến bến du thuyền dễ dàng và thuận tiện. Các giải pháp đề xuất  
có thể kết hợp tốt với các hệ thống giao thông đường bộ và dịch vụ thương mại, du  
lịch lân cận để đảm bảo tính tiếp cận tốt nhất cho toàn hệ thống mạng lưới.  
Kết quả nghiên cứu đề xuất được ứng dụng cụ thể cho trường hợp bến du  
thuyền Tòa Khâm, thuộc hệ thống các bến du thuyền dọc sông Hương, thành phố Huế.  
Việc đánh giá khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng phải được tiến  
hành định kỳ hàng năm để xác định sự thay đổi của các điều kiện tiếp cận. Từ đó có  
thể định hướng, ưu tiên phát triển và cải thiện hệ thống giao thông công cộng ngày  
càng hoàn chỉnh hơn, nâng cao tỷ lệ người sử dụng, phù hợp với định hướng phát  
triển giao thông xanh và bền vững.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Otvstedal, L., Otderud, T., Barham, P., & Jones, S. (2008) Indicators describing the  
accessibility of Urban public transport. Mediate – Methodology for describing the accessibility of  
transport in Europe.  
[2]. Otvstedal, L., Azalde, G., & Otderud, T. (2011) Accessibility indicators for urban public  
transport.  
[3]. Tiêu chuẩn Thiết kế đường đô thị TCXDVN104-2007, Bộ Xây dựng.  
[4]. Tiêu chuẩn chiếu sáng nhân tạo bên ngoài các công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật đô  
thị - Tiêu chuẩn thiết kế TCXDVN 333-2005  
[5]. Abley, S., & Williams, R. (2008). Public transport accessibility levels  
[6]. Nguyễn Thế Bá (1997), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, NXB Xây Dựng, Hà Nội.  
[7]. Nguyễn Quang Đạo (2014), Bài giảng Quy hoạch và thiết kế đô thị.  
[8]. Hồ Ngọc Hùng (2009), Giao thông trong quy hoạch đô thị, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà  
Nội.  
85  
Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng …  
[9]. Hàn Tất Ngạn (1996), Kiến trúc cảnh quan đô thị, Nhà xuất bản Xây Dựng, Hà Nội.  
[10]. Belinda, M. W., & Julian, P. H (2003), A PTAL approach to measuring changes in bus  
service accessibility, Transport Policy 10 (2003) 307-320.  
[11]. Hansen, W. (1959), How accessibility shapes land-use, Journal of the American Institute of  
Planners 25, 73-76.  
[12]. Kashkooli,  
&
Jahangir (2000), Transportation System Performance Measures,  
Transportation System Information Program.  
A STUDY ON IMPROVING THE ACCESSIBILITY OF PUBLIC TRANSPORT ON  
WATERWAYS AND ITS APPLICATION FOR CRUISE BOATS IN HUONG RIVER,  
HUE CITY  
*
Tran Thanh Nhan , Nguyen Thi Minh Xuan  
Faculty of Architecture, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
In recent years, public transport systems have been of importance in providing  
convenient transportation and increasing access to services. Therefore, the quality  
of transport services has always been considered, evaluated, and continuously  
improved to meet the increasing travel demands of the local population. In  
particular, access to the wharves, facilities and services is one of the important  
factors that improve the quality of public transport systems. This study aims to  
provide in-depth insights on the technical solutions and planning to enhance the  
accessibility of visitors to the wharves on the Le Loi - Huong River - Hue City asis.  
Key words: access ability; city for tourism; public transport on waterways;  
marinas; operational efficiency; the ratio of users; waterways tourism.  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 15, Số 1 (2020)  
Trần Thành Nhân sinh ngày 23/12/1984 tại thành phố Huế. Năm 2007,  
Ông tốt nghiệp kỹ sư ngành xây dựng cầu đường tại Trường Đại học Bách  
khoa, Đại học Đà Nẵng. Năm 2016, ông tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành  
kỹ thuật xây dựng công trình giao thông tại Đại học Đà Nẵng. Từnăm  
2008 đến nay, ông giảng dạy tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: kết cấu, quy hoạch giao thông, kinh tế xây dựng.  
Nguyễn Thị Minh Xuân sinh ngày 4/2/1986 tại thành phố Huế. Năm 2008  
bà tốt nghiệp Kiến trúc sư tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Năm 2018, bà tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành kiến trúc tại trường Đại học  
Khoa học, Đại học Huế. Hiện nay bà là giảng viên Khoa Kiến trúc, trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Kiến trúc chùa Huế thời Nguyễn, lịch sử kiến trúc cổ  
Việt Nam, Bảo tồn kiến trúc.  
87  
pdf 11 trang yennguyen 20060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu nâng cao khả năng tiếp cận hệ thống giao thông công cộng đường thủy và áp dụng cho bến thuyền sông Hương, thành phố Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_nang_cao_kha_nang_tiep_can_he_thong_giao_thong_co.pdf