Những biện pháp vượt qua khó khăn về kinh tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian đầu mới thành lập (8/1945 - 12/1946)

45  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
NHỮNG BIỆN PHÁP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN VỀ KINH  
TẾ CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA  
TRONG THỜI GIAN ĐẦU MỚI THÀNH LẬP  
(8/1945 - 12/1946)  
VÕ VĂN SEN*  
LƯU VĂN QUYẾT**  
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.  
Trong bối cảnh đất nước ngổn ngang, bộn bề với “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc  
ngoại xâm”, Đảng và Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều quyết sách về kinh  
tế xã hội liên quan mật thiết đến việc xây dựng, phát triển đất nước và phục vụ  
quốc phòng. Thời kỳ này, những biện pháp tiến bộ trên lĩnh vực kinh tế đã được  
thực thi. Chỉ trong một thời gian ngắn, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không  
chỉ chiến thắng được “giặc đói”, vượt qua tình trạng kiệt quệ của ngân khố trong  
những ngày đầu mới giành được độc lập, mà bước đầu đã xây dựng được nền  
kinh tế độc lập, tự chủ để chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp tái  
xâm lược.  
Từ khóa: kinh tế, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ mới thành lập  
Nhận bài ngày: 8/12/2020; đưa vào biên tập: 10/12/2020; phản biện: 15/12/2020;  
duyệt đăng: 6/1/2021  
1. DẪN NHẬP  
phong kiến, song Đảng và Chính phủ  
phải đối phó với muôn vàn khó khăn,  
phức tạp của tình hình chính trị, kinh  
tế, văn hóa, xã hội    đ c  iệt  à kinh  
tế  Việt Nam  à nước nông nghiệp,  
nhưng khoảng một nửa diện tích đồng  
ruộng ở Bắc Bộ bị bỏ hoang, cả năm  
1945 chỉ thu được 500.000 tấn (Viện  
Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1997: 16);  
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám  
thành công, nước Việt Nam Dân chủ  
Cộng hòa ra đời, chấm dứt ách thống  
trị gần 100 năm của thực dân và  
*, **  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
VÕ VĂN SEN - LƯU VĂN QUYẾT – NHỮNG BIỆN PHÁP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN…  
46  
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đề ra hai biện pháp cứu đói khẩn cấp:  
đình đốn không sản xuất được ho c “Nhường cơm sẻ áo” là giải pháp  
trước mắt và “tăng gia sản xuất”  à  
giải pháp  âu dài  Trong thư gửi đồng  
bào về việc nhường cơm sẻ áo cho  
những người đang đói, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh viết: “Lúc này chúng ta  ưng  
 át cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ,  
chúng ta không khỏi động lòng. Vậy  
tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước,  
và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày  
nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3  
bữa  Đem gạo đó cứu dân nghèo…”  
(Hồ Chí Minh, tập 4, 2000: 31). Ngày  
3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của  
Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  
đ t nhiệm vụ chống đói  ên hàng đầu:  
“Hơn hai triệu đồng  ào ta đã chết  
đói… Những người thoát chết đói, nay  
đang  ị đói, chúng ta phải làm thế nào  
cho họ sống” (Hồ Chí Minh, tập 4,  
2000: 7-8) và Người quyết định phát  
động phong trào tăng gia sản xuất và  
xác định: “Hiện nay chúng ta có hai  
nhiệm vụ quan trọng nhất: cứu đói ở  
Bắc và kháng chiến ở Nam, „thực túc‟  
thì „ inh cường‟, cấy nhiều thì khỏi đói  
Chúng ta thực hiện „tấc đất tấc vàng‟  
thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai  
việc đó”  Những khẩu hiệu: “tăng gia  
sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng  
gia sản xuất nữa” của Chủ tịch Hồ Chí  
Minh được nhân dân hưởng ứng nhiệt  
tình. Các hoạt động “ ạc quyên”, “ngày  
đồng tâm” nhịn ăn, “hũ gạo cứu đói”…  
trở thành phong trào quần chúng rộng  
lớn, từ đó hàng vạn tấn gạo đã được  
nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ  
với đồng  ào đang chịu thảm họa của  
nạn đói (Hồ Chí Minh, 1995: 115).  
sản xuất cầm chừng, hàng hóa khan  
hiếm, giá cả lên cao, nạn đầu cơ tích  
trữ hoành hành làm rối loạn tình hình  
ở cả thành thị và nông thôn (Đinh  
Quang Hải, 2013: 3); về tài chính, khi  
Chính phủ cách mạng tiếp quản, ngân  
khố chỉ còn 1 230 720 đồng Đông  
Dương, trong đó 586 000 đồng là tiền  
rách không sử dụng được chờ thu đổi  
(Viện Kinh tế học, 1990: 244), số nợ  
của ngân khố lên tới 564.367.522  
đồng (Viện Kinh tế, 1960: 6), trong  
tình hình đó quân Tưởng lại tung tiền  
“quan kim”, “quốc tế” đã mất giá buộc  
ta phải  ưu hành (Hoàng Thanh  
Quang, 1985: 13). Thực tế đó được  
Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến  
nhận định: Chính phủ cách mạng lúc  
đó  à một chính phủ “không tiền”(1);  
m c dù nhu cầu chi tiêu rất lớn và cấp  
bách cho việc tổ chức bộ máy nhà  
nước cách mạng, xây dựng lực  ượng  
vũ trang nhân dân, giải quyết hậu quả  
của nạn lụt lội, hạn hán, cứu đói, tổ  
chức các đoàn Nam tiến, khôi phục và  
tăng gia sản xuất, đến việc giải quyết  
các vấn đề xã hội. Những vấn đề đó  
đòi hỏi Chính phủ Việt Nam Dân chủ  
Cộng hòa phải có những quyết sách  
kịp thời và phù hợp.  
2. GIẢI QUYẾT NẠN ĐÓI VÀ TÌNH  
TRẠNG CẠN KIỆT NGÂN KHỐ SAU  
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM  
Trước những khó khăn về kinh tế,  
nhất là hậu quả của nạn đói đang  
hoành hành, trên cơ sở tham khảo ý  
kiến của nhiều chuyên gia, Chính phủ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021  
47  
Với các khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”, nước… cũng được Chính phủ quan  
“không để một tấc ruộng hoang”…,  
phong trào sản xuất được phát động  
rầm rộ dưới mọi hình thức. Ở thành  
thị, học sinh được phép cuốc sân  
trường; thanh niên, chiến sĩ có thể  
đào đất vỉa hè để trồng khoai, sắn; ở  
nông thôn tất cả ruộng đất đều phải  
được canh tác, nếu không chính  
quyền địa phương có quyền tạm trưng  
dụng để giao cho nông dân sản xuất  
(Lưu Văn Quyết, 2019: 17)  Để đảm  
bảo nhu cầu sản xuất lâu dài, hệ  
thống nông giang ở các tỉnh Nghệ An,  
Thanh Hóa, Thái Nguyên, Bắc Giang,  
Phúc Yên, Hà Đông, Thái Bình, Nam  
Định… được sửa chữa; hệ thống đê ở  
nhiều tỉnh được gia cố  Tính đến cuối  
năm 1945, nhân dân đã  ỏ ra 4 triệu  
ngày công, đào đắp 2,72 triệu mét  
khối đất bổ trợ hàng trăm km đê, đẩy  
lùi nạn lụt (Viện Lịch sử Quân sự Việt  
Nam, 1997: 16). Nhờ đó, diện tích và  
sản  ượng trồng lúa và các loại cây  
trồng khác đều tăng; chỉ tính từ sau  
tháng 8/1945 đến đầu năm 1946 miền  
Bắc đã thu hoạch được 231.000 tấn  
khoai lang, 224.000 tấn ngô, 60.000  
tấn đỗ tương (Tổng cục Hậu cần,  
1985: 66); năm 1946, sản  ượng thóc  
ở Bắc Bộ thu được 1.975.000 tấn  
(Viện Kinh tế, 1960: 9).  
tâm và ban hành nhiều biện pháp. Bộ  
phận chuyên lo việc chuyên chở thóc  
gạo từ các tỉnh ở Nam Bộ và Trung  
Bộ ra Bắc Bộ được thành lập; các nhà  
 uôn cũng được kêu gọi tham gia vận  
chuyển thóc gạo cùng với Chính phủ.  
Tính đến ngày 23/9/1945, gần 30.000  
tấn gạo từ Nam Bộ đã được chuyển  
ra miền Bắc bằng đường sắt để phân  
phối cho các địa phương đang  ị đói  
(Viện Sử học, 2007: 53).  
Trước sự trống rỗng của kho bạc,  
Chính phủ quyết định cắt giảm các  
khoản chi tiêu chưa cần thiết, m t  
khác kêu gọi sự đóng góp của toàn  
dân(2). Sau khi tuyên bố độc lập, ngày  
4/9/1945, Chính phủ ra Sắc lệnh số  
4/SL đ t ra “Quỹ Độc lập” “thu nhận  
các món tiền và đồ vật của nhân dân  
sẵn lòng giúp Chính phủ để ủng hộ  
nền độc lập của quốc gia” (Việt Nam  
Dân quốc công báo, 1945: 4). Tiếp đó,  
“nhằm kêu gọi các nhà giàu đóng góp  
một phần tài sản cho đất nước trong  
hoàn cảnh vừa giành độc lập còn  
nhiều khó khăn, góp một tay xây dựng  
và bảo vệ nền độc lập của đất nước,  
để dùng vào việc cần cấp và quan  
trọng nhất của chúng ta lúc này là việc  
quốc phòng” (Hồ Chí Minh, 1960: 211),  
ngày 17/9/1945, Chính phủ ban hành  
“Tuần lễ vàng”  Chỉ trong thời gian  
ngắn, đến hết ngày 23/9/1945 (ngày  
bế mạc Tuần lễ vàng), cả “Quỹ độc  
lập” và “Tuần lễ vàng” trong cả nước  
đã thu được 370kg vàng và 20 triệu  
đồng Đông Dương, tương đương với  
tổng số thuế thân và thuế điền thu  
Ngày 28/11/1945, Ủy ban Tối cao Tiếp  
tế và cứu tế được thành lập để lo việc  
cứu đói cho nhân dân  Những biện  
pháp hành chính như cấm đầu cơ tích  
trữ thóc gạo, cấm dùng gạo để nấu  
rượu, xóa bỏ mọi hạn chế trong việc  
 ưu thông gạo giữa các vùng trong cả  
VÕ VĂN SEN - LƯU VĂN QUYẾT – NHỮNG BIỆN PHÁP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN…  
48  
được trên toàn quốc trong 1 năm dưới dân được hưởng thành quả cách  
thời Pháp thuộc (Viện Kinh tế, 1960: mạng: có ăn, có m c, có chỗ ở, có  
học hành” (Hồ Chí Minh, 1984: 87-88),  
từ đó thêm tin tưởng vào Đảng và  
Chính phủ  Song song đó, Chính phủ  
tiến hành nhiều biện pháp cải cách  
kinh tế trên nhiều m t: nông nghiệp,  
công - thương nghiệp, tài chính.  
9)  Đây  à một kiểu tài chính rất đ c  
biệt mà chỉ dưới chính thể cách mạng  
mới có được (Đinh Quang Hải, 2013:  
9).  
Có thể nói, trong hoàn cảnh lúc bấy  
giờ, nhờ dựa vào dân, Đảng và Nhà  
nước đã từng  ước đưa đất nước  
vượt qua những khó khăn về kinh tế.  
Trong diễn văn kỷ niệm ngày Quốc  
khánh 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ  
Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cách  
mạng đã chiến thắng nạn đói  Thực là  
một kỳ công của chế độ dân chủ” (dẫn  
theo Đ ng Phong, 2002: 136).  
3.1. Củng cố nền nông nghiệp  
Sau Cách mạng tháng Tám, sản xuất  
nông nghiệp ngoài trọng tâm giải  
quyết nạn đói trước mắt, còn nhằm  
chuẩn bị  ương thực một cách lâu dài  
và ổn định. Chính phủ thành lập Ủy  
 an Trung ương phụ trách vấn đề sản  
xuất để thực hiện chủ trương phát  
động phong trào gia tăng sản xuất lớn.  
Thực hiện công việc này, Chính phủ  
chủ trương đầu tư kinh phí, cho đấu  
thầu việc sửa đê và khuyến khích các  
kỹ sư am hiểu về thủy lợi ra đấu thầu  
để thực hiện các công trình nhằm đảm  
bảo chất  ượng(3). Bên cạnh đó, Chính  
phủ cũng chủ trương cho các chủ  
ruộng kê khai những ruộng đất thừa,  
sau đó cho những người dân thiếu  
ruộng mượn để canh tác; ruộng đất  
của Việt gian đế quốc bị tịch thu để  
chia cho dân nghèo; chương trình tổ  
chức hợp tác xã trong nông nghiệp  
được phổ biến, tiến hành miễn thuế,  
giảm thuế cho nhân dân... (Viện Sử  
học, 2007: 55). Có thể nói, trong điều  
kiện các ngành kinh tế công, thương  
nghiệp còn kém phát triển, nông  
nghiệp và chính sách phát triển nền  
3. BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG NỀN  
KINH TẾ ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ  
Nhằm xây dựng nền kinh tế vững  
mạnh, độc lập, Chính phủ cũng đề ra  
nhiều chủ trương và  iện pháp để bồi  
dưỡng sức dân, quan tâm đến quyền  
lợi của nhân dân. Ngày 5/9/1945,  
Chính phủ ra sắc lệnh bãi bỏ thuế  
thân; ngày 22/9/1945, bãi bỏ thuế môn  
 ài dưới 50 đồng, thuế chợ, thuế xe  
đạp, thuế thổ trạch ở nông thôn; ngày  
26/10/1945, Chính phủ giảm 20% thuế  
ruộng và miễn thuế hoàn toàn cho  
những vùng bị  ũ  ụt; ngày 20/11/1945,  
ra thông báo giảm tô 25% so với mức  
địa tô trước cách mạng,… (Viện Kinh  
tế, 1960: 8). Chính sách miễn giảm,  
bãi bỏ các thứ thuế m c dù làm cho  
thu ngân sách bị giảm sút đáng kể,  
nhưng đem  ại ý nghĩa to  ớn, chứng  
tỏ Đảng và Chính phủ luôn quan tâm nông nghiệp trên nguyên tắc “tự cấp  
đến lợi ích của nhân dân, đáp ứng tự túc”  à nền tảng của công cuộc  
nguyện vọng của nhân dân, “ àm cho phát triển kinh tế trong thời kỳ chính  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021  
49  
quyền mới thành lập. Các chính sách nước nhà” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  
kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ 2000, tập 8: 25). M t khác, vẫn để cho  
sở sức dân, huy động được sức các nhà tư  ản nước ngoài (trước hết  
mạnh của nhân dân tham gia vào phát  à tư  ản Pháp) tiếp tục công việc kinh  
triển kinh tế… vì thế chính sách mà doanh nhưng đ t dưới sự kiểm soát  
Đảng và Chính phủ đã thực hiện để của chính phủ Việt Nam. Nhằm đảm  
củng cố nền nông nghiệp có ý nghĩa bảo quyền pháp lý trong sản xuất kinh  
quan trọng trong quá trình  ước đầu doanh của tư  ản nước ngoài, ngày  
gầy dựng nền nông nghiệp sau bao 9/10/1945, Chính phủ ban hành Sắc  
năm  ị chiến tranh. Từ đây khơi dậy lệnh, khẳng định: “Các hãng kỹ nghệ  
 òng yêu nước của nhân dân và tạo ra ho c thương mại ngoại quốc hiện có  
cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội cho các ở Việt Nam vẫn được phép tiếp tục  
tầng lớp nông dân làm chủ ruộng đất, công việc kinh doanh như cũ,…”  
tư  iệu sản xuất, tham gia vào sản (Công báo, 1945: 34-35).  
xuất nông nghiệp.  
Với những chính sách khuyến khích,  
cởi mở của Chính phủ, nhiều nhà  
công thương Việt Nam đã góp vốn mở  
công ty như: Việt Thương - công ty  
chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu  
nông sản với vốn điều lệ 30 triệu đồng  
Đông Dương; Việt Nam Công thương  
Ngân hàng có vốn điều lệ 10 triệu  
đồng Đông Dương; Ngân hàng Nam Á  
có vốn điều lệ 5 triệu đồng Đông  
Dương; Thái Bình thương hội có vốn  
điều lệ 1 triệu đồng Đông Dương; Hải  
Việt công ty, Công ty Hương Việt,  
Công ty Việt Bắc có vốn điều lệ dưới 1  
triệu đồng Đông Dương… (Đ ng  
Phong, 2002: 160)  Đối với các công  
ty tư  ản nước ngoài, chỉ các cơ sở  
liên quan thiết yếu đến đời sống của  
nhân dân và hoạt động của bộ máy  
Chính phủ như: Nhà máy nước Hà  
3.2. Phục hồi công - thương nghiệp,  
giao thông vận tải và thông tin liên  
lạc  
Công - thương nghiệp của nước Việt  
Nam Dân chủ Cộng hòa khi mới thành  
lập bị sa sút nghiêm trọng: ngành mỏ  
năm 1945 chỉ còn 4.000 công nhân,  
giảm 1/10 so với năm 1940 (năm  
1940 là 39.500 công nhân), mức khai  
thác từ 2.500.000 tấn năm 1940 giảm  
xuống còn 231.000 tấn; công nghiệp  
chế biến và thương nghiệp cũng tê  iệt,  
sản xuất đình đốn, hàng hóa khan  
hiếm, giao  ưu  uôn  án giữa hai miền  
Nam - Bắc bị cắt đứt… (Viện Sử học,  
2007: 65)  Để chấn hưng công -  
thương nghiệp, một m t Nhà nước  
tạo điều kiện thuận lợi cho các thương  
nhân người Việt “mở lại các nhà máy  
do Nhật bỏ, khai thác các mỏ, cho tư Nội, Nhà máy luyện kim Hà Nội; xăng  
nhân góp vốn vào việc kinh doanh các dầu, sửa chữa cơ khí, cơ sở và thiết  
nhà máy và mỏ ấy, khuyến khích các  
giới công thương mở hợp tác xã, mở  
các cổ phần tham gia kiến thiết lại  
bị vô tuyến điện của Hãng Hàng  
không Air France… thì nhà nước tiến  
hành trưng thu (để tránh những sự cố  
VÕ VĂN SEN - LƯU VĂN QUYẾT – NHỮNG BIỆN PHÁP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN…  
50  
do chủ ngoại quốc cố tình gây ra), các xuất một số chính sách về thương mại  
cho Chính phủ; tháng 8/1946 Chính  
phủ chủ trương thành  ập Ngân hàng  
Thương mại để tạo điều kiện thuận lợi  
cho các hoạt động thương nghiệp.  
Bên cạnh đó  à sự ra đời của Hội  
Thương gia Việt Nam, Phòng Thương  
mại,… (Viện Sử học, 2007: 147).  
cơ sở còn lại vẫn được phép tiếp tục  
hoạt động kinh doanh, nhưng có sự  
quản lý của nhà nước (Viện Sử học,  
2007: 68). Nhờ chủ trương này, các xí  
nghiệp thiết yếu như vải sợi (Nam  
Định), dệt  en, xi măng (Hải Phòng),  
gạch ngói (Đáp Cầu), sửa chữa cơ khí  
(Hà Nội, Hải Phòng)… vẫn hoạt động  
 ình thường, tạo công ăn việc làm cho  
người  ao động.  
Để quản lý giá cả thị trường, tránh  
tình trạng tăng giá(4), Chính phủ đ t  
ra Sở Hóa giá  Đối với những m t  
hàng xa xỉ, Nhà nước trực tiếp quy  
định giá hàng hóa của các nhà tư sản  
trong nước và tư  ản nước ngoài,  
như: rượu,  ia, nước đá của hãng  
Société Lainière du Tonkin, giá xi  
măng nhãn hiệu Dragon của hãng  
Société de Ciment Portland artificial  
de  ‟Indochine…; còn các m t hàng  
tiêu dùng liên quan trực tiếp đến đời  
sống của nhân dân như: gạo, muối,  
thuốc lá, diêm, vải, củi,… nhà nước  
không quản  ý (Đ ng Phong, 2002:  
164).  
Để tránh độc quyền trong kinh doanh,  
các nghị định của Toàn quyền Pháp  
về độc quyền tìm kiếm và khai thác  
mỏ Hòn Gai, Tân Trào, Quyết Thắng,  
Tĩnh Túc, Phấn Mễ, Nông Sơn,… hay  
nghị định về việc độc quyền cho hàng  
hóa Pháp và công ty ngoại thương  
của Pháp ở Việt Nam  an hành trước  
đây đều bị bãi bỏ  Thay vào đó, Chính  
phủ ban hành các sắc lệnh bảo đảm  
quyền tìm mỏ và khai mỏ của nhà  
nước, cho phép tư nhân được tham  
gia khai thác mỏ theo các điều kiện  
hợp lý. Các mỏ than, mỏ thiếc trước  
đây  ị phá hoại nay từng  ước được  
phục hồi và khai thác trở lại. Bên cạnh  
đó, Chính phủ khuyến khích mở rộng  
việc  uôn  án, giao thương  ằng cách  
cho phép các nhà kinh doanh Việt  
Nam được quyền tham gia kinh doanh  
xuất nhập khẩu và được Chính phủ  
tạo điều kiện. Ngày 6/10/1945 Nha  
Thương vụ Việt Nam được thành lập  
với nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề  
thương nghiệp, tư vấn cho Chính phủ;  
tháng 2/1946, Tiểu ban Nghiên cứu về  
luật thương mại áp dụng ở Việt Nam  
được thành lập, giúp tư vấn và đề  
Phục hồi giao thông vận tải và thông  
tin liên lạc là một trong những công  
việc hàng đầu, không chỉ được Chính  
phủ quan tâm trước mắt mà còn có  
những phương án  âu dài  Bộ Giao  
thông Công chính đã thành  ập Ủy  
 an Tư vấn (ngày 6/9/1945) và Ủy  
 an Tư vấn Liên hiệp vận tải (ngày  
29/9/1945), huy động những chuyên  
gia giỏi để tư vấn cho Chính phủ  
những vấn đề liên quan (Viện Sử học,  
2007: 70).  
Công việc sửa chữa cầu đường được  
tiến hành khẩn trương, “đường xe lửa  
Việt Nam đã được tổ chức lại  Xe đã  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021  
51  
đi  ại được từ Bắc vào Nam và ngược Tuy nhiên, Chính phủ vẫn có những  
lại, dù phải mất 4 chỗ gián đoạn phải biện pháp đấu tranh tích cực về tài  
chuyển tải là ở các cầu Ninh Bình, Đò  
Lèn, Đò Cấm, Yên Xuân” (Báo Cứu  
Quốc, 1945). Đến tháng 5/1946 về cơ  
bản hệ thống đường sắt được phục  
hồi hoàn toàn  Đến giữa năm 1946, ở  
Việt Nam có 16 đầu máy xe lửa, 216  
toa xe các loại, 3.000 xe vận tải,  
1.000 xe con. Về đường bộ, 50 trong  
tổng số 60 chiếc cầu bị hư hỏng  
được khắc phục; trên 500km đường  
quốc lộ và tỉnh lộ được hàn gắn, mở  
rộng và trải nhựa  Đối với hệ thống  
đường thủy (bao gồm cả đường sông  
và đường biển), Chính phủ đã thành  
lập Nha Hàng hải thương thuyền Việt  
Nam (10/1945) và Ủy ban Quản lý  
thương thuyền (ngày 13/11/1945). Hệ  
thống thông tin liên lạc giữa Hà Nội -  
Huế - Sài Gòn  úc này đã được khắc  
phục và hoạt động thông suốt (Đ ng  
Phong, 2002: 167).  
chính, buộc ngân hàng Đông Dương  
phải cung cấp tiền cho Chính phủ  
cách mạng.  
Để xóa bỏ chế độ thực dân phong  
kiến, trong bối cảnh thực dân Pháp  
vẫn đang kiểm soát đồng Đông  
Dương cũng như sự  ũng đoạn của  
các loại tiền của quân Tưởng trên thị  
trường, vấn đề phát hành giấy bạc  
riêng trở nên vô cùng cấp thiết, không  
chỉ giúp nền kinh tế Việt Nam thoát  
khỏi sự  ũng đoạn tài chính của Pháp  
mà còn là một công cụ quan trọng để  
giải quyết vấn đề chi tiêu trong kháng  
chiến và xây dựng nền kinh tế độc lập.  
Ngày 31/1/1946, Chính phủ cho phát  
hành giấy bạc Việt Nam từ vĩ tuyến 16  
trở vào vì những khu vực này không  
có quân đội Anh và quân đội Trung  
Hoa Dân quốc  Đồng tiền của Chính  
phủ ra đời được nhân dân nhiệt tình  
hưởng ứng, gọi là giấy bạc “tài chính”  
hay giấy bạc “Cụ Hồ” và sẵn sàng đổi  
giấy bạc Đông Dương  ấy giấy bạc Cụ  
Hồ với tỷ giá 1,2 đồng Đông Dương  
bằng 1 đồng bạc Cụ Hồ (Đ ng Phong,  
2002: 156). Nhờ đó, từ Nam Trung Bộ,  
chính quyền địa phương đã rút được  
một số  ượng khá lớn giấy bạc Đông  
Dương để cung cấp cho Nam Bộ và  
Bắc Bộ tích trữ.  
3.3. Xây dựng nền tài chính độc lập  
Trong tình thế nền độc lập chưa được  
quốc gia nào trên trên thế giới công  
nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao,  
các thế lực thù địch bao vây bốn phía,  
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng  
hòa đang ra sức tranh thủ sự thừa  
nhận của những cường quốc trong  
phe Đồng minh (trong đó có Pháp),  
cho nên tạm thời Chính phủ duy trì  
Ngân hàng Đông Dương để tránh  
những bất lợi về m t chính trị. Vì thế,  
Ngân hàng Đông Dương vẫn do quân  
đội Nhật kiểm soát và đồng bạc  ưu  
hành chính thức ở Việt Nam vẫn là  
giấy bạc do ngân hàng này phát hành.  
Ở Nam Bộ, hoạt động về kinh tế - tài  
chính g p rất nhiều khó khăn do xa  
Trung ương,  ị chiếm đóng, kiểm soát.  
M c dù vậy, dưới sự  ãnh đạo của các  
tổ chức Đảng, ngay từ những ngày  
đầu kháng chiến, m t trận kinh tế ở  
VÕ VĂN SEN - LƯU VĂN QUYẾT – NHỮNG BIỆN PHÁP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN…  
52  
Nam Bộ vẫn theo sát sự phát triển của Tháng 8/1945, Đảng và Chủ tịch Hồ  
chiến trường; chính quyền kháng Chí Minh đã chọn đúng thời cơ để  
chiến đã tổ chức bộ máy kinh tài các  
cấp, thực hành xây dựng, phát triển  
kinh tế - tài chính phục vụ một phần  
đáng kể những yêu cầu của quân, dân,  
chính, đảng. Thực chất đây  à các  ộ  
phận của nền kinh tế thời chiến được  
thành lập và đi vào hoạt động nhằm  
“tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến,  
vừa kiến quốc”  Từ cuối năm 1945, ở  
các tỉnh Nam Bộ, chính quyền kháng  
chiến các cấp đã phát động các phong  
trào lạc quyên, cứu đói, tuần lễ vàng,  
quyên góp gạo tiền ủng hộ bộ đội, lập  
hũ gạo nuôi quân,… (Lưu Văn Quyết,  
2019: 19).  
phát động toàn dân tổng khởi nghĩa  
thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam  
Dân chủ Cộng hòa. Trong bối cảnh  
khó khăn chồng chất về mọi m t (đ c  
biệt là kinh tế), Chính phủ đã dựa vào  
nhân dân, “ ấy dân làm gốc” để huy  
động sự đóng góp tự nguyện của toàn  
dân. Các hoạt động “nhường cơm sẻ  
áo”, “tăng gia sản xuất”, “ ạc quyên”,  
“ngày đồng tâm”, “hũ gạo cứu đói”,  
“quỹ độc lập”, “tuần lễ vàng”… tiến  
hành kịp thời; các quyết định bãi bỏ  
thuế thân, thuế thổ trạch, thuế chợ và  
miễn giảm thuế được ban bố kịp thời  
cùng với các quyền tự do dân chủ,  
đem  ại các quyền lợi thiết thân cho  
nhân dân. M t khác, Đảng và Chính  
phủ cũng đề ra những đối sách phù  
hợp để đấu tranh kinh tế với địch. Có  
thể nói, những biện pháp mà Đảng và  
Chính phủ đã tiến hành trên  ĩnh vực  
kinh tế trong thời điểm “ngàn cân treo  
sợi tóc” đã tạo được ảnh hưởng lớn,  
 àm cho nhân dân tin tưởng và gắn bó  
với cách mạng. Kết quả không những  
đẩy  ùi được “gi c đói” mà Chính phủ  
 ước đầu đã chuẩn bị được những  
tiền đề quan trọng cho nền kinh tế độc  
lập, tự chủ lâu dài. Thắng lợi  ước  
đầu trong xây dựng nền kinh tế, ổn  
định và cải thiện đời sống nhân dân  
trong thời điểm này có ý nghĩa chính  
trị quan trọng, để lại bài học kinh  
Từ giữa năm 1946, quân đội Tưởng  
và Anh rút khỏi Việt Nam, đất nước  
Việt Nam lúc này chỉ còn tiền Đông  
Dương và giấy bạc Cụ Hồ tồn tại song  
song. Thời gian này Pháp đã “trở m t”  
trên nhiều  ĩnh vực. Trước tình hình  
đó, ngày 18/8/1946 Chính phủ cho  ưu  
hành tiền Việt Nam ra vùng Bắc Trung  
Bộ. Ngày 30/11/1946, trong kỳ họp  
thứ hai Quốc hội nước Việt Nam Dân  
chủ Cộng hòa, Chính phủ quyết định  
phát hành giấy bạc Việt Nam trong cả  
nước, với các mệnh giá 1 đồng, 5  
đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100  
đồng, 500 đồng do cơ quan ấn loát  
của Bộ Tài chính in ấn (Viện Sử học,  
2007: 147). Với việc cho phát hành  
giấy bạc, Việt Nam đã có đồng tiền  
riêng, đồng tiền độc lập của một quốc nghiệm về sự đoàn kết, phát huy sức  
gia độc lập, góp phần giải quyết được mạnh của toàn dân tộc trong sự  
những khó khăn về kinh tế.  
nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển  
đất nước hiện nay.  
4. KẾT LUẬN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021  
53  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Theo tác giả Đ ng Phong đây  à cách chơi chữ của Bộ trưởng Lê Văn Hiến, nghĩa  à  
không có tiền, đồng thời cũng có nghĩa  à trước đó chưa từng có, theo câu thành ngữ  
“Không tiền khoáng hậu” (Đ ng Phong, tập 1, 2002).  
(2)  
Thời kỳ này, rất nhiều người làm việc trong các cơ quan Chính phủ làm việc không lấy  
tiền công (theo Việt Nam Dân quốc Công báo, số 1 năm 1945).  
(3) M c dù còn nhiều khó khăn về tài chính nhưng Chính phủ vẫn chi khoảng 8 triệu đồng để  
lo việc tu sửa, tu bổ đê (theo Viện Sử học, tập X, 2007: 55).  
(4)  
Theo tính toán, mức giá sinh hoạt của tầng lớp trung  ưu ở Hà Nội vào quý III/1945 tăng  
3,074% so với năm 1940; tầng lớp  ao động tăng 2,995% (Đ ng Phong, tập I, 2002: 163-  
164).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Báo Cứu Quốc, số ra ngày 14/9/1945.  
2. Công báo, số 4 năm 1945  
3  Đảng Cộng sản Việt Nam. 2000. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8. Hà Nội: Nxb. Chính  
trị Quốc gia.  
4  Đ ng Phong. 2002. Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập 1, Giai đoạn 1945-1954.  
Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
5  Đinh Quang Hải  2013  “Tuần lễ vàng”- một sự kiện tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam  
hiện đại”  Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9.  
6. Hồ Chí Minh. 1960. Toàn tập. Hà Nội: Nxb. Sự thật.  
7. Hồ Chí Minh. 1984. Toàn tập. Hà Nội: Nxb. Sự thật.  
8. Hồ Chí Minh. 1995. Toàn tập, tập 4. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
9. Hồ Chí Minh. 2000. Toàn tập, tập 4 - (1945-1946). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
10  Hoàng Thanh Quang  1985  “Kháng chiến Nam Bộ trong cuộc đấu tranh của toàn  
dân bảo vệ chính quyền cách mạng chuẩn bị toàn quốc kháng chiến (23/9/1945-  
19/12/1946)”  Nghiên cứu Lịch sử Quân sự, số 9.  
11  Lưu Văn Quyết. 2019. Kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ (1954-1975). TPHCM: Nxb.  
Đại học Quốc gia TPHCM.  
12. Tổng cục Hậu cần. 1985. Lịch sử hậu cần quân đội nhân dân Việt Nam 1944-1954,  
tập 1. Hà Nội: Nxb. Hà Nội.  
13. Viện Kinh tế học. 1990. 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990). Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội.  
14. Viện Kinh tế thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước. 1960. Kinh tế Việt Nam 1945-1960.  
Hà Nội: Nxb. Sự thật.  
15. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. 1997. Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam  
(1945-1975). Hà Nội: Nx   Quân đội Nhân dân.  
16. Viện Sử học. 2007. Lịch sử Việt Nam, tập X, Giai đoạn 1945-1954. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
17. Việt Nam Dân quốc công báo, số 1, 1945.  
pdf 9 trang yennguyen 13400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những biện pháp vượt qua khó khăn về kinh tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian đầu mới thành lập (8/1945 - 12/1946)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_bien_phap_vuot_qua_kho_khan_ve_kinh_te_cua_nuoc_viet_n.pdf