Nghiên cứu chỉ số OSTA trong đánh giá nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh từ 40 tuổi trở lên

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ OSTA TRONG ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ  
LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH TỪ 40 TUỔI TRỞ LÊN  
Nguyễn Thị Ngọc Lan*, Nguyễn Ngọc Bích*, Đào Xuân Thành*  
*Trường Đại Học Y Hà Nội  
TÓM TẮT  
Chỉ số OSTA (Osteoporosis Self-Assessment Tool for Asians) là một công cụ dự báo  
nguy cơ loãng xương đơn giản có ý nghĩa lâm sàng với độ nhạy và độ đặc hiệu đã được  
sử dụng ở nhiều nước. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 406 phụ nữ mãn kinh khỏe mạnh  
từ 40 tuổi trở lên từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 09 năm 2015; được đo mật độ xương  
theo phương pháp DEXA. Kết quả cho thấy chỉ số OSTA < -3 tức có nguy cơ loãng xương  
cao: 11,6% (93,6% số phụ nữ này bị loãng xương), chỉ số OSTA -3 ≤ OSTA ≤ 0 tức có nguy  
cơ loãng xương trung bình: 62,3% (43,9% số phụ nữ này bị loãng xương), chỉ số OSTA > 0  
tương đương với nguy cơ loãng xương thấp: 26,1% (92,4 % số phụ nữ này không loãng  
xương. Chỉ số OSTA có độ nhạy: 95,1%, độ đặc hiệu: 40,3%, AUC (diện tích dưới đường  
cong): 0,811. Trên cơ sở trên, chỉ số nguy cơ cao đối với phụ nữ mãn kinh miền Bắc Việt  
Nam trên bảng đánh giá chỉ số OSTA cần được dịch chuyển ở cột tuổi: tuổi có nguy cơ cao  
từ 65 – 69 (tuổi) thành 60 – 64 (tuổi).  
Từ khóa: Loãng xương, loãng xương sau mãn kinh, OSTA.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Loãng xương sau mãn kinh là vấn đề  
là 36,2% [5]. Với biến chứng thường gặp  
là gãy xương, loãng xương làm giảm chất  
lượng cuộc sống, gia tăng tỷ lệ tử vong và chi  
phí điều trị tốn kém: ở Châu Âu là 30,7 tỷ EU  
[6], ở Mỹ là 13,7 đến 20,3 tỷ USD, ở Anh là  
1,8 tỷ Pounds [7].  
ngày càng được quan tâm do ước tính ảnh  
hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế  
giới, hơn 75 triệu người ở Châu Âu, Mỹ và  
Nhật Bản và ngày càng gia tăng khi tuổi thọ  
ngày càng cao [1]. Đây là bệnh lý toàn thể  
của khung xương đặc trưng bởi sự giảm khối  
lượng xương, tổn thương vi cấu trúc xương  
và tăng nguy cơ gãy xương xảy ra ở phụ nữ  
mãn kinh [2], [3]. Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ  
từ 50 đến 84 tuổi ở các quốc gia Đức, Pháp,  
Ý, Tây ban Nha, Anh là 21% [4]. Tỷ lệ loãng  
xương ở phụ nữ mãn kinh Hà Nội năm 2002  
Chẩn đoán loãng xương theo tiêu chuẩn  
WHO dựa vào đo mật độ xương bằng máy  
DEXA (Dual energy X ray absorptiometry)  
sử dụng tia X hấp thu nặng lượng kép [8].  
Mặc dù đây là tiêu chuẩn vàng song việc đo  
mật độ xương bằng phương pháp DEXA còn  
chưa được phổ biến ở nhiều khu vực thuộc  
các nước đang phát triển, trong đó có Việt  
Tạp chí  
36  
Nội khoa Việt Nam Số 16 - tháng 4/2016  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Nam, do chi phí cao và thiếu trang thiết bị.  
Do vậy, việc đưa ra một công cụ có thể dự  
báo nguy cơ loãng xương chính xác, đơn  
giản và giá cả phù hợp nhằm quyết định điều  
trị loãng xương kịp thời là vô cùng cần thiết.  
Với ý tưởng đó, năm 2001, Koh và cộng sự  
đã xây dựng được một công cụ dành cho  
phụ nữ mãn kinh châu Á. Đó là chỉ số OSTA  
(Osteoporosis Self-Assessment Tool for  
Asians). Đây là một công cụ đơn giản được  
tính toán dựa trên cân nặng và tuổi của đối  
tượng nghiên cứu, cho độ nhạy 91% và độ  
đặc hiệu 45% khi so sánh mật độ xương  
được đo bằng phương pháp DEXA [9]. Công  
cụ này đã được kiểm chứng tại nhiều quốc  
gia ở châu Á, cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu  
tương đương với kết quả của tác giả Koh.  
Sau đó, chỉ số này còn ứng dụng cho cả  
đối tượng là nam giới. Ở Việt Nam hiện nay  
chỉ có một nghiên cứu trên đối tượng nam  
giới của Nguyễn Xuân Trường 2014 [10],  
mà chưa có nghiên cứu nào về chỉ số OSTA  
trong dự báo nguy cơ loãng xương ở phụ nữ  
sau mãn kinh.  
Biểu đồ 1. Mô hình OSTA theo Koh [9]  
Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu chỉ số OSTA trong đánh giá nguy cơ loãng xương ở  
phụ nữ mãn kinh từ 40 tuổi trở lên nhằm hai mục tiêu:  
1. Áp dụng chỉ số OSTA trong đánh giá nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh từ  
40 tuổi trở lên.  
2. Đối chiếu chỉ số OSTA với đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA ở các đối  
tượng trên.  
Tạp chí  
37  
Số 16 - tháng 4/2016 Nội khoa Việt Nam  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
- Có một người thân (đặc biệt là mẹ) có  
tiền sử gãy xương  
1. Đối tượng nghiên cứu  
- Hút thuốc, uống rượu  
1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân  
- Không tập thể dục thường xuyên  
Gồm 406 phụ nữ mãn kinh ≥ 40 tuổi  
đi kiểm tra sức khỏe tại khoa Khám bệnh  
theo yêu cầu, Bệnh viện Bạch Mai, được  
đo mật độ xương tại cột sống thắt lưng và  
cổ xương đùi theo phương pháp DEXA sử  
dụng tia X hấp thu năng lượng kép (máy  
Hologic) từ tháng 12 năm 2014 đến tháng  
09 năm 2015.  
- Đã phải nằm liệt giường trong một thời  
gian dài do bệnh tật  
- Té ngã trong 12 tháng qua  
Các đối tượng được đo mật độ xương tại  
cột sống thắt lưng và cổ xương đùi bằng máy  
Hologic explorer của Mỹ sản xuất, sử dụng  
tia X hấp thu năng lượng kép. T-score được  
tính theo khối lượng xương đỉnh của người  
Việt Nam [11].  
1.2. Tiêu chuẩn loại trừ  
Bệnh nhân mắc các bệnh liên quan  
tới chuyển hóa xương và các yếu tố có thể  
ảnh hưởng đến mật độ xương: Bệnh lý nội  
tiết (cường giáp, cường cận giáp, suy giáp,  
Cushing, đái tháo đường), bệnh lý tiêu hóa  
(sau cắt dạ dày, ruột, rối loạn tiêu hoá kéo dài,  
xơ gan), suy thận, viêm khớp mạn tính, bệnh  
hệ thống (viêm cột sống dính khớp, viêm  
khớp dạng thấp), sau cắt buồng trứng, bệnh  
nhân đã điều trị loãng xương, mất trí nhớ, tiền  
sử thay khớp háng hoặc gãy cổ xương đùi  
hai bên.  
3. Phân tích và xử lý số liệu  
Phân tích và xử lý số liệu bằng phần  
mềm SPSS 16.0. Tính giá trị lớn nhất, nhỏ  
nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, các  
tỷ lệ phần trăm. Dùng thuật toán khi bình  
phương (X2) để so sánh các tỷ lệ quan sát,  
dùng test t-student để so sánh các giá trị  
trung bình, tính tỷ suất chênh OR để đánh  
giá các yếu tố nguy cơ. Nhập tính và tính  
chỉ số OSTA. Vẽ đường cong ROC, diện  
tích dưới đường cong AUC, khoảng tin  
cậy 95% dựa trên phần mềm máy tính. Độ  
nhạy tính bằng tỷ lệ nữ giới bị loãng xương  
(T- score ≤ -2.5) và có OSTA nằm ở nhóm  
nguy cơ trung bình và cao, độ đặc hiệu xác  
định bằng tỷ lệ nữ giới không loãng xương  
(T- score > -2.5) và có OSTA nằm ở nhóm  
nguy cơ thấp.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang  
2.2. Nội dung nghiên cứu  
Các đối tượng đến khám được khai thác  
các yếu tố nguy cơ loãng xương qua khám  
lâm sàng và điều tra theo mẫu do nhóm  
nghiên cứu thiết kế dựa trên các mục tiêu  
nghiên cứu.  
Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được  
sự đồng ý của khoa Khám bệnh theo yêu cầu,  
Bệnh viện Bạch Mai, Bộ môn Nội tổng hợp và  
phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học  
Y Hà Nội. Các thông tin về bệnh nhân được  
giữ bí mật. Dữ liệu thu thập chỉ phục vụ cho  
nghiên cứu và chẩn đoán, giúp cho việc điều  
trị bệnh được tốt hơn.  
Khảo sát các yếu tố sau đây:  
- Tuổi (năm)  
- Cân nặng (kg)  
- Tiền sử bị gãy xương ở tuổi trưởng thành  
Tạp chí  
38  
Nội khoa Việt Nam Số 16 - tháng 4/2016  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
III KẾT QUẢ  
3. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA  
so với đo mật độ xương bằng phương  
pháp DEXA  
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
1.1. Đặc điểm chung  
3.1. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA  
Bảng 1. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA  
- Tuổi cao nhất là 88 và thấp nhất là 40  
tuổi với tuổi trung bình là 56,6 ± 9,0 (tuổi). Độ  
tuổi 50 – 59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (51,7%)  
OSTA  
-10  
-6  
-5  
-4  
-3  
-2  
-1  
0
Độ nhạy  
0
Độ đặc hiệu  
100  
- Tuổi mãn kinh trung bình: 48,0 ± 4,5;  
9,82  
100  
cao nhất: 58 (tuổi); thấp nhất: 40 (tuổi)  
17,79  
26,99  
34,36  
50,31  
79,14  
95,09  
99,39  
100  
99,59  
98,77  
97,12  
85,6  
- Chiều cao trung bình: 152,2 ± 5,6 (cm)  
- Cân nặng trung bình: 52,8 ± 7,9 (kg)  
- BMI trung bình: 22,8 ± 3,0 (kg/m2)  
69,14  
40,33  
20,16  
8,23  
1.2. Tỷ lệ loãng xương và thiểu xương  
1
2
6
100  
0
Nhận xét:  
- Tại cut-off 0, chỉ số OSTA có độ nhạy:  
95,1%  
- Tại cut-off -3, chỉ số OSTA có độ đặc  
hiệu: 97,12%  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ loãng xương và thiểu  
xương theo của đối tượng nghiên cứu  
RVWD  
ꢅꢀꢀ  
ꢄꢀ  
ꢃꢀ  
ꢂꢀ  
ꢁꢀ  
ꢀ
Tỷ lệ loãng xương và thiểu xương lần  
lượt là 40,1% và 40,4%, cao nhất ở nhóm tuổi  
≥ 70 tuổi (86,8%).  
2. Khảo sát nguy cơ loãng xương ở phụ  
nữ mãn kinh từ 40 tuổi trở lên bằng chỉ số  
OSTA  
Diện tích dưới đường cong:0,811  
- Tỷ lệ nguy cơ loãng xương của đối  
tượng nghiên cứu theo chỉ số OSTA  
Nguy cơ cao: 11,6%, nguy cơ trung bình:  
62,3%, nguy cơ thấp: 26,1%  
ꢀ
ꢁꢀ  
ꢂꢀ  
ꢃꢀ  
ꢄꢀ  
ꢅꢀꢀ  
100-độ đặc hiệu  
Biểu đồ 3. Đường cong ROC và diện tích  
dưới đường cong (AUC) của chỉ số OSTA  
tại cut-off 0  
- Đặc điểm của OSTA trung bình theo  
tình trạng loãng xương  
Giá trị OSTA trung bình là - 0,76 ± 2,26,  
giá trị nhỏ nhất là -10, lớn nhất là 6.  
Nhận xét: Diện tích dưới đường cong  
AUC có ý nghĩa theo cut-off 0 là 0,811.  
Tạp chí  
39  
Số 16 - tháng 4/2016 Nội khoa Việt Nam  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
3.2. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA tại cut-off 0  
Bảng 2. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA tại cut-off 0  
T- score ≤ -2,5 SD T- score > -2,5 SD  
OR  
(95%CI)  
OSTA  
N
155  
8
%
n
%
< 0  
≥ 0  
95,1  
4,9  
145  
98  
59,7  
40,3  
100  
13,09  
(6,15-27,87)  
Tổng  
163  
100  
243  
Nhận xét:  
Có mối liên quan chặt chẽ giữa chỉ số OSTA và chỉ số T-score. Nếu đối tượng nghiên cứu  
có chỉ số OSTA < 0 thì nguy cơ bị loãng xương cao gấp 13,09 lần so với đối tượng có OSTA ≥ 0.  
3.3. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA tại cut-off -3  
Bảng 3. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ số OSTA tại cut-off -3  
T- score ≤ -2,5 SD  
T- score > -2,5 SD  
OR  
(95%CI)  
OSTA  
N
%
n
%
< -3  
≥ -3  
44  
27,0  
73,0  
100,0  
3
1,2  
29,58  
(8,99 - 97,23)  
119  
163  
240  
243  
98,8  
100,0  
Tổng  
Nhận xét: Có mối liên quan chặt chẽ giữa chỉ số OSTA và chỉ số T-score. Nếu đối tượng  
nghiên cứu có chỉ số OSTA ≥ -3 thì khả năng không bị loãng xương cao gấp 29,58 lần so với  
đối tượng có OSTA < -3.  
3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo chỉ số OSTA tại cut-off 0 và -3  
Biểu đồ 4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo chỉ số OSTA tại cut-off 0 và -3 với T-score chung  
Ghi chú: T-score chung: được coi là loãng xương khi bất kỳ một vị trí đo nào đạt ≤ -2,5  
Tạp chí  
40  
Nội khoa Việt Nam Số 16 - tháng 4/2016  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Nhận xét:  
- Với OSTA > 0 thì 92,4% đối tượng được khảo sát không loãng xương (có T-score > -2,5)  
- Với OSTA ≤ -3 thì 93,6% đối tượng được khảo sát có loãng xương (có T-score ≤ -2,5)  
Trên cơ sở như trên, mô hình OSTA cho phụ nữ mãn kinh miền Bắc Việt Nam sẽ  
chuyển dịch tuổi có nguy cơ cao từ 65 - 69 thành 60 – 64 (tuổi)  
Cân nặng (kg)  
Nguy cơ cao theo OSTA  
Việt Nam  
Nguy cơ cao theo OSTA  
của Koh  
Nguy cơ trung bình  
Nguy cơ thấp  
Biểu đồ 5. Mô hình OSTA cho phụ nữ mãn kinh miền Bắc Việt Nam  
Nhận xét:  
- Một phụ nữ có cân nặng trong khoảng 40 - 44 kg và thuộc nhóm tuổi 60 - 64, nếu theo mô  
hình OSTA của Koh thì sẽ nằm trong nhóm nguy cơ trung bình, nếu theo mô hình OSTA cho phụ  
nữ mãn kinh miền Bắc Việt Nam thì sẽ nằm trong nhóm nguy cơ cao.  
IV. BÀN LUẬN  
hạn ở nhóm 50 – 59 tuổi (51,7%), còn nhóm ≥  
70 tuổi chiếm tỷ lệ không cao.  
1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
- Chiều cao, cân nặng và BMI trung bình  
của chúng tôi tương ứng là: 152,2 ± 5,6 (cm),  
52,8 ± 7,9 (kg) và 22,8 ± 3,0 (kg/m2), kết quả  
của chúng tôi thấp hơn kết quả của đối tượng  
trong nghiên cứu OSTA ở Malaysia và Trung  
Quốc [13], [14]  
1.1. Đặc điểm chung  
- Tuổi  
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi,  
tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là  
56,6 ± 9,0 tuổi, trong đó tuổi nhiều nhất là 88 và  
thấp nhất là 40 tuổi. Tuổi trung bình của chúng  
tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn  
Huy Bình – năm 2006 với tuổi trung bình của  
phụ nữ mãn kinh trong khu vực ngoại thành  
Hà Nội là 62,7 ± 7,86 tuổi [12], sự chênh lệch  
này có thể giải thích bởi số lượng đối tượng  
nghiên cứu của Nguyễn Huy Bình rất cao ở độ  
tuổi từ 50 – 70 tuổi còn đối tượng của chúng  
tôi chủ yếu là ở ngoại tỉnh, do vậy nếu lên Hà  
Nội khám sức khỏe thì độ tuổi cũng chỉ giới  
1.2. Tỷ lệ loãng xương và thiểu xương của  
đối tượng nghiên cứu  
Tỷ lệ loãng xương theo nghiên cứu của  
chúng tôi là 40,1%, thiểu xương là 40,4%  
theo (biểu đồ 4), kết quả của chúng tôi cao  
hơn so với tỷ lệ loãng xương ở Trung Quốc  
theo nghiên cứu của Liu và cộng sự năm  
2013 là 29,31%, nhưng tỷ lệ thiểu xương  
của chúng tôi thấp hơn tỷ lệ thiểu xương của  
Trung Quốc là 45,46% [14]  
Tạp chí  
41  
Số 16 - tháng 4/2016 Nội khoa Việt Nam  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
2. Khảo sát nguy cơ loãng xương ở phụ nữ  
mãn kinh từ 40 tuổi trở lên bằng chỉ số OSTA  
40,3%, kết quả của chúng tôi cũng tương tự  
như kết quả của tác giả Koh với độ nhạy là  
91% và độ đặc hiệu là 41% [9].  
2.1. Đặc điểm chỉ số OSTA ở phụ nữ mãn  
kinh từ 40 tuổi trở lên  
- Kết quả của bảng (bảng 3) cho thấy  
tại cut-off -3, đối tượng nghiên có OSTA ≥ -3  
thì khả năng không bị loãng xương cao gấp  
29,58 lần so với đối tượng có OSTA < -3, có  
ý nghĩa thống kê với 95%CI: 8,99 - 97,23.  
Độ nhạy và độ đặc hiệu của OSTA tại cut-off  
-3 tương ứng là 27% và 98,8%. Độ đặc hiệu  
của chúng tôi cao hơn độ đặc hiệu của OSTA  
tại cut-off -4 theo nghiên cứu OSTA ở Trung  
Quốc (94,62%) [14]. Do đó OSTA tại cut-off -3  
rất có giá trị chẩn đoán loại trừ loãng xương.  
- Giá trị OSTA trung bình trong nghiên cứu  
của chúng tôi là -0,76 ± 2,26, giá trị nhỏ nhất  
là -10, lớn nhất là 6 (bảng 1), kết quả này thấp  
hơn giá trị OSTA ở Malaysia với giá trị OSTA  
trung bình là 0,3 ± 2,7, giá trị lớn nhất và nhỏ  
nhất là 6 và -6 [13], điều này có thể giải thích  
bởi chỉ số cân nặng trung bình của người Việt  
Nam là thấp hơn của người Malaysia.  
- Tại mỗi giá trị OSTA chúng tôi tính độ  
nhạy và độ đặc hiệu (bảng 1). Nếu lấy giới hạn  
dưới của OSTAtại cut-off -4, độ nhạy và độ đặc  
hiệu tương ứng là 26,99% và 98,77%, nếu lấy  
cut-off -3, độ nhạy và độ đặc hiệu là 34,36% và  
97,12%. Như vậy nếu lấy cut-off -4 sẽ có 10%  
đối tượng nghiên cứu không được sàng lọc  
loãng xương. Nếu lấy giới hạn trên của OSTA  
tại cut-off -1, độ nhạy và độ đặc hiệu là 79,14%  
và 69,14%, nếu lấy cut-off 0, độ nhạy và độ  
đặc hiệu là 95,09% và 40,33%. Như vậy nếu  
lấy giới hạn trên của OSTA tại cut-off 0 thì sẽ  
có 16% đối tượng nghiên cứu của chúng tôi  
không được sàng lọc loãng xương.  
•
Biểu đồ 4 minh họa sự phân bố đối  
tượng nghiên cứu theo chỉ số OSTA tại cut-off  
0 và -3. OSTA > 0 thì đa số đối tượng nghiên  
cứu có T-score bình thường, với OSTA ≤ -3  
đa số đối tượng nghiên cứu có T-score ≤ -2,5.  
Với nhóm có OSTA dao động từ -3 đến 0 thì  
đối tượng nghiên cứu phân phố đều cho cả  
hai khu vực T-score > -2,5 và T-score ≤ -2,5.  
2.2. Tỷ lệ nguy cơ của đối tượng nghiên cứu  
theo OSTA  
Trong số 406 phụ nữ mãn kinh ≥ 40 tuổi có  
47 người nguy cơ cao bị loãng xương (11,6%),  
nguy cơ trung bình là 253 người (62,3%) đạt tỷ  
lệ cao nhất, nguy cơ thấp là 50 người (12,3%)  
theo chỉ số OSTA. Tỷ lệ nhóm nguy cơ có khác  
nhau theo kết quả nghiên cứu ở một số quốc  
gia châu Á khác [15], sự khác nhau này có thể  
liên quan tới tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ mãn  
kinh của Việt Nam cao hơn của các nước khác  
ở châu Á [13]. Tuy tỷ lệ nguy cơ loãng xương  
theo OSTA ở các quốc gia có chênh lệch giữa  
các nhóm nhưng tỷ lệ loãng xương trong nhóm  
đối tượng có nguy cơ cao theo OSTA đều cao  
hơn rất nhiều so với tỷ lệ đó ở nhóm nguy cơ  
thấp. Điều này cho thấy trong điều kiện nước ta  
cũng như một số quốc gia đang phát triển khác,  
nơi mà máy đo mật độ xương bằng DEXA vẫn  
chưa thực sự phổ biến thì OSTA vẫn có giá trị  
Từ đây chúng tôi quyết định dịch chuyển  
OSTA từ cut-off -4; -1 theo như tác giả Koh  
[9], sang cut-off -3; 0 để phù hợp với thực tế  
loãng xương ở phụ nữ mãn kinh Việt Nam.  
- Tại cut-off 0 chúng tôi vẽ đường cong  
ROC và tính diện tích dưới đường cong AUC  
cho kết quả là 0,811 (biểu đồ 3). Giá trị này  
cho thấy OSTA là một công cụ tốt để sàng lọc  
loãng xương.  
- Kết quả của (bảng 2) cho thấy tại cut-  
off 0, đối tượng nghiên cứu có OSTA < 0 sẽ  
có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp 13,09  
lần so với OSTA < 0, có ý nghĩa thống kê với  
95%CI (6,15 - 27,87). Độ nhạy và độ đặc  
hiệu của chỉ số OSTA tương ứng là 95,1% và  
Tạp chí  
42  
Nội khoa Việt Nam Số 16 - tháng 4/2016  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
trong sàng lọc nguy cơ loãng xương. Cụ thể  
là với OSTA < -3, tức là đối tượng nằm trong  
nhóm nguy cơ loãng xương cao, có thể khuyến  
cáo cho đối tượng đi đo mật độ xương ngay  
thậm chí điều trị loãng xương luôn khi chưa  
có kết quả mật độ xương, với OSTA từ -3 đến  
0 cần thiết cho đo mật độ xương và cân nhắc  
điều trị loãng xương, với OSTA > 0 có thể trì  
hoãn đo mật độ xương  
Việt Nam sửa đổi như trên sẽ giúp sàng lọc  
loãng xương tốt hơn và phụ nữ mãn kinh Việt  
Nam sẽ có cơ hội được chẩn đoán và điều  
trị loãng xương sớm hơn, góp phần hạn chế  
biến chứng gãy xương, giảm gánh nặng cho  
gia đình và xã hội.  
V. KẾT LUẬN  
1. Tỷ lệ nguy cơ loãng xương theo OSTA  
Trên cơ sở như trên chúng tôi thiết lập chỉ  
số OSTA cho người Việt Nam. Biểu đồ 5 là mô  
hình OSTA cho phụ nữ Việt Nam, mô hình này  
đã được điều chỉnh theo mô hình của tác giả  
Koh – 2001(biểu đồ 1). Để mô tả sự khác nhau  
giữa hai mô hình chúng tôi đưa ra giả thiết: một  
người phụ nữ mãn kinh 63 tuổi, nặng 43 kg  
gióng vuông góc từ cột tuổi và cân nặng sẽ cắt  
nhau tại điểm chấm trắng như trên hình minh  
họa. Nếu theo mô hình OSTA cũ điểm này sẽ  
nằm trong vùng màu da cam tức là có nguy  
cơ loãng xương trung bình theo OSTA, nhưng  
nếu theo mô hình OSTA sửa đổi của chúng  
tôi điểm này nằm trong vùng màu đỏ tức là có  
nguy cơ loãng xương cao theo OSTA. Thực tế  
ở Việt Nam, tỷ lệ loãng xương cao hơn so với  
các quốc gia phát triển, điều kiện kinh tế xã hội  
còn khó khăn đặc biệt là ở các khu vực nông  
thôn và vùng cao, hơn nữa người Việt Nam có  
đặc điểm chỉ đi khám bệnh khi có triệu chứng  
của bệnh, do vậy việc áp dụng mô hình OSTA  
- Chỉ số OSTA < -3 tức có nguy cơ cao:  
11,6% (93,6% số phụ nữ này bị loãng xương).  
- Chỉ số OSTA -3 ≤ OSTA ≤ 0 tức có nguy  
cơ trung bình: 62,3% (43,9% số phụ nữ này  
bị loãng xương).  
- Chỉ số OSTA > 0 tương đương với nguy  
cơ thấp: 26,1% (92,4 % số phụ nữ này không  
loãng xương.  
2. Độ nhạy, độ đặc hiệu và AUC (diện tích  
dưới đường cong) của chỉ số OSTA  
- Độ nhạy: 95,1%  
- Độ đặc hiệu: 40,3%  
- AUC: 0,811  
- Trên cơ sở các thông số trên (độ nhạy,  
độ đặc hiệu và AUC), chỉ số nguy cơ cao đối  
với phụ nữ mãn kinh miền Bắc Việt nam cần  
dịch chuyển, tuổi có nguy cơ cao từ 65 – 69  
(tuổi) thành 60 – 64 (tuổi).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Reginster J.Y, Burlet N. (2006).  
Osteoporosis: A still increasing prevalence.  
Bone. 38(2 Suppl 1), S4-S9  
women, Maturitas;52 Suppl 1:S7–22  
4. Strom O, Borgstrom F, Kanis JA,  
Compston JE, Cooper C, McCloskey E,  
Jonsson B. (2011). Osteoporosis: burden,  
health care provision and opportunities in the  
EU, Osteoporos doi  
2. Palacios S, Borrego RS, Forteza A.  
(2005). The importance of preventive health  
care in post-menopausal women. Maturitas.  
Orthopedics. 35(9), 798-805.  
5. Trần Thị Tô Châu. (2002). Nghiên cứu  
đặc điểm lâm sàng về cơ xương khớp và đo  
mật độ xương gót bằng siêu âm trên phụ nữ  
mãn kinh Hà Nội. Luận văn thạc sĩ y hoc, tr 45  
3. Ferrer J, Neyro JL, Estevez A. (2005).  
Identificationofriskfactorsforpreventionandearly  
diagnosis of a-symptomatic post-menopausal  
Tạp chí  
43  
Số 16 - tháng 4/2016 Nội khoa Việt Nam  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
6. Strom O, Borgstrom F, Kanis J.A,  
et al. (2011). Osteoporosis: Burden, health  
care provision and opportunities in the EU.  
A report prepared in collaboration with the  
Luận văn thạc sĩ y học  
11. Nguyễn Thị Thanh Hương. (2012).  
Osteoporisis, a major health problem in Viet  
Nam life style factors and determinants of  
bone mass  
International  
(IOF) and the European Federation of  
Pharmaceutical Industry Associations  
Osteoporosis  
Foundation  
12. Nguyễn Huy Bình. (2006). Nghiên  
cứu thực trạng sức khỏe phụ nữ mãn kinh và  
đề xuất giải pháp can thiệp nhằm nâng cao  
chất lượng sống của lứa tuổi này  
(EFPIA). Arch Osteoporos. 6(1-2), 59-155.  
7. Burge R, Dawson-Hughes B, Solomon  
D.H, et al. (2007). Incidence and economic  
burden of osteoporosis-related fractures in  
the United States 2005-2025. J Bone Miner  
Res.22(3), 465-475.  
13. DAJ  
Muslim  
et  
al.  
(2012),  
Performance of osteoporosis self-tool for  
asian (OSTA) For primary osteoporosis  
in ipost menopause Malay women. Ma  
laysian Orthopaedic Journal Vol 6 No 1  
8. 6 F. Cosman và CS. (2013). Clinician’s  
guide to prevention and treatment of  
osteoporosis  
14. Yong Yang và CS. (2013). Validation  
of an osteoporosis self-assessment tool  
to identify primary osteoporosis and  
new osteoporotic vertebral fractures in  
postmenopausal Chinese women in Beijing.  
BMC Musculoskeletal Disorders 2013, 14:271  
9. Koh và CS. (2001). A Simple Tool to  
Identify Asian Women at Increased Risk of  
osteoporosis, Osteoporos Int, 12:699–705  
10. Nguyễn Xuân Trường. (2014).  
Nghiên cứu chỉ số osta và monogram trong  
chẩn đoán sàng lọc loãng xương ở nam giới.  
15. Fujiwara S, et al. (2001). Curr Ther  
Res 62(8): 586-94  
ABSTRACT  
PERFORMANCE OF OSTEOPOROSIS SELF-ASSESSMENT TOOL FOR ASIAN (OSTA)  
FOR PRIMARY OSTEOPOROSIS IN POST-MENOPAUSAL VIETNAMESE WOMEN  
The Osteoporosis Self-Assessment Tool for Asians (OSTA) score is a simple, valuable  
tool predicts women at risk of osteoporosis with the high sensitivity and the specificity. It can  
be used as a screening tool for patients at risk who would benefit from bone mineral density  
measurement and treatment. A cross-sectional study evaluated the performance of OSTA  
among 406 post-menopausal health Vietnamese women at the age from 40 and above  
from 12/2014 to 09/2015. Subjects with history of metabolic disease, presence of bone  
metastasis, significant renal impairment, previous bilateral oophorectomy, previous both hip  
fracture or prior use of any bisphosphonate were excluded from the study, were measured  
BMD by DEXA. Cutoff points of 0 as -3 were used for diagnosis in this study. The low risk  
category (index > 0) represented 26.1% of all women with only 92.4 % of the women in this  
category having normal BMD. The intermediate risk category (-3 to 0) represented 62.3%  
of participants, the prevalence of osteoporosis was 43.9%. The high risk group (index <-3)  
represented only 11.6% of participants. The prevalence of osteoporosis was very high  
(93.6%) in this group. Our study result OSTA with sensitivity and specificity of 95.1% and  
40.3% respectively and AUC (area under curve) 0.811. In conclusion, OSTA high risk index  
of women in the north of Vietnam should be changed in age column from 65 – 69 to 60 – 64.  
Tạp chí  
44  
Nội khoa Việt Nam Số 16 - tháng 4/2016  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT GLUCOSE  
VÀ RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN NAM  
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 LÀ CÁN BỘ ĐIỀU TRỊ  
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108  
Trần Đình Thắng*, Nguyễn Văn Quýnh*  
*Bệnh viện Trung ương Quân đội 108  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân nam ĐTĐ týp 2 được theo dõi và điều trị tại khoa Nội  
A1 và phòng khám C1-3 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 1/2013 đến 12/2014 nhận  
thấy mức độ kiểm soát tốt glucosse, HbA1c và các thành phần lipid máu chưa cao.  
- Kiểm soát tốt glucosse chiếm 27,5%, chấp nhận 39,5%, kém là 33%, mức độ kiểm  
soát tốt theo HbA1c chiếm 18%, chấp nhận 19,5%, kém là 62,5%.  
- Kiểm soát tốt TG đạt thấp nhất là 26,0%, HDL-C cao nhất là 62,5%, đến CT là 39%,  
LDL-C là 30,5%.  
- Có mối liên quan giữa mức độ kiểm soát glucose, HbA1c với rối loạn lipid máu (OR  
là 2,16 và 1,68 với p <0,05).  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh nội  
glucose và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân  
nam đái tháo đường týp 2 là cán bộ điều trị tại  
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.  
tiết chuyển hoá, tỷ lệ mắc ĐTĐ ngày càng  
tăng, trong đó trên 90% là ĐTĐ týp 2. Có  
nhiều yếu tố liên quan đến sự phát sinh và  
phát triển của bệnh ĐTĐ như béo phì, rối  
loạn lipid máu (RLLPM), THA... Ở Việt Nam  
qua một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kiểm  
soát tốt glucose và RLLP máu chưa cao, các  
biến chứng vẫn còn nhiều. Trong quân đội hệ  
thống quân y được biên chế từ cấp cơ sở đến  
trung ương. Các cán bộ được kiểm tra sức  
khỏe định kỳ hàng năm, quản lý và điều trị các  
bệnh mạn tính khá chặt chẽ. Vì vậy chúng tôi  
tiến hành nghiên cứu thực trạng kiểm soát  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Đối tượng: gồm 200 BN ĐTĐ týp 2 là cán  
bộ trong quân đội được theo dõi và điều trị tại  
khoa Nội Cán bộ (A1) và phòng khám cán bộ  
cao cấp C1-2 – Bệnh viện Trung ương Quân  
đội 108 từ tháng 1/ 2013 đến tháng 12/ 2014.  
Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt  
ngang, tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo  
TCYTTG năm 1998, chẩn đoán ĐTĐ týp 2  
Tạp chí  
45  
Số 16 - tháng 4/2016 Nội khoa Việt Nam  
pdf 10 trang yennguyen 22520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu chỉ số OSTA trong đánh giá nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh từ 40 tuổi trở lên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_chi_so_osta_trong_danh_gia_nguy_co_loang_xuong_o.pdf