Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO₃)₂ đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO₃O₄ được tổng hợp bằng phương pháp khuôn mềm
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế
Tập 13, Số 2 (2018)
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH C
ĐẾN HÌNH THÁI, CẤU TRÚC CỦA VẬT LIỆU NANO CO3
ĐƢỢC TỔNG HỢP BẰNG PHƢƠNG PHÁP KHUÔN MỀM
O
(NO
4
3)2
O
1*
2
1
Lê Lâm Sơn , Huỳnh Hoàng Anh , Trần Thị Thanh Nhàn ,
1
1
Lê Trung Hiếu , Trần Thị Văn Thi
1
Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
2
Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
*Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 23/11/2018; ngày hoàn thành phản biện: 29/11/2018; ngày duyệt đăng: 10/12/2018
TÓM TẮT
Trong bài báo này, vật liệu nano Co3O4 được tổng hợp bằng phương pháp “khuôn
mềm” (soft-template) sử dụng glucomannan (GM) làm chất định hướng cấu trúc.
Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch Co(NO3)2 đến hình thái, cấu trúc của vật liệu
nano Co3O4 dạng tấm đã được nghiên cứu. Các đặc trưng của vật liệu được nghiên
cứu bằng các phương pháp: kính hiển vi điện tử quét (SEM), kính hiển vi điện tử
truyền qua (TEM), nhiễu xạ tia X (XRD), phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX), và
phổ hồng ngoại (FT-IR).
Từ khóa: glucomannan, nano Co3O4 dạng tấm, phương pháp khuôn mềm.
1. MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, các loại nano oxit kim loại chuyển tiếp đã và đang
nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước bởi
liệu nano Co
phương pháp tổng hợp vật liệu nano Co như: tổng hợp sol-gel, tổng hợp sử dụng
3
O4
nhận được nhiều quan tâm nghiên cứu, với nhiều ứng dụng như làm
3O4
phương pháp đó, sử dụng chất định hướng cấu trúc là phương pháp đang ngày càng
được chú ý, có thể kiểm soát được cấu trúc và hình thái hạt do sự giới hạn của cấu trúc
không gian 3 chiều.
Việc sử dụng polyme tổng hợp làm chất định hướng cấu trúc rất phổ biến,
trong khi đó sử dụng polyme tự nhiên còn tương đối hạn chế, như chitosan, tinh bột
65
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO3)2 đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO3O4 …
nano trong mạng lưới polymer thường tạo ra phức ổn định.
Glucomannan là polysaccharide, phần lớn có cấu tạo mạch thẳng, được tạo nên
từ các đơn vị cấu trúc là D-glucose và D-mannose, liên kết với nhau bởi liên kết β-1,4-
glycoside. Do sự có mặt của nhiều nhóm hydroxyl (-OH), glucomannan có khả năng
tạo phức kiểu chelate với nhiều ion kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng. Vì vậy, nó có
thể được sử dụng để hấp thụ nhiều ion kim loại, tách và phân tích chúng. Tuy nhiên,
việc sử dụng glucomannan làm chất định hướng cấu trúc trong tổng hợp vật liệu nano
chưa được nghiên cứu nhiều ở cả trong và ngoài nước.
Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi sử dụng phương pháp “khuôn mềm” với
chất định hướng cấu trúc là glucomannan để tổng hợp nano Co
3
O4 dạng tấm.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Hóa chất
Bột glucomannan thương mại (Công ty New Food, Mỹ), Cobalt (II) nitrate
o,
hexahydrate (Co(NO
3
)
2.6H
2O, Sigma-Aldrich), Ethanol (C
2H
5
OH, 96 , Việt Nam).
2.2.Các phƣơng pháp đặc trƣng vật liệu
Phương pháp phổ hồng ngoại (IR) được dùng để xác định cấu trúc phân tử của
chất nghiên cứu, dựa vào các tần số đặc trưng trên phổ đồ của các nhóm chức trong
phân tử. Phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX) là một kỹ thuật phân tích, dùng để phân
tích nguyên tố trên bề mặt của vật liệu. Các quá trình hóa lí xảy ra khi nung mẫu được
nghiên cứu bằng phương pháp phân tích nhiệt TG-DTA. Cấu trúc tinh thể, hình thái,
và kích thước của vật liệu được đặc trưng bằng phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD),
kính hiển vi điện tử quét (SEM) và kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM).
2.3.Phƣơng pháp tổng hợp vật liệu
Co
3
O4 được điều chế bằng phương pháp “khuôn mềm” sử dụng glucomannan
làm chất định hướng cấu trúc.
Ngâm 1,5 g glucomannan trong 30 mL dung dịch Co(NO ) / ethanol 96° có
3
2
nồng độ x M trong thời gian 24 giờ. Lọc và sấy mẫu ở 50 ℃ trong 15 giờ, thu được
Co(NO ) /GM dạng xốp (tiền chất).
3
2
Chương trình nhiệt độ nung: từ nhiệt độ phòng nung mẫu trong không khí đến
600 C (tốc độ 2 C/phút), giữ trong 6 giờ.
0
0
66
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế
Tập 13, Số 2 (2018)
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hƣởng của nồng độ dung dịch C o(NO
3
)
2
ban đầu
lên hình thái và cấu trúc của vật
Để khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Co(NO
3)2
liệu, chúng tôi cố định các thông số nhiệt độ nung, tốc độ nâng nhiệt, thời gian nung:
nung ở nhiệt độ 600 ℃ trong 6 giờ, tốc độ nâng nhiệt là 2 ℃/phút. Nồng độ dung dịch
Co(NO
3
)
2
pha trong ethanol 96° được thay đổi với các giá trị: 0,01; 0,1; 0,3; 1,0; 1,3 M.
Hình thái của mẫu tiền chất (precusor) được tổng hợp với nồng độ Co(NO
M và các mẫu vật liệu được thể hiện qua đặc trưng SEM ở hình 1.
3
) 1,0
2
Hình 1. Ảnh SEM của mẫu Co(NO3)2/GM và các mẫu vật liệu được tổng hợp từ các dung dịch
Co(NO3)2 có nồng độ ban đầu khác nhau.
Kết quả cho thấy, hình thái của các mẫu vật liệu tổng hợp ở các nồng độ dung
dịch Co(NO
3)
2
khác nhau là không giống nhau và có sự khác biệt so với mẫu tiền chất.
+ Ở nồng độ Co(NO
3)2
bằng 0,01 và 0,1 M: hình thành mẫu nano oxit coban chủ
yếu ở dạng hạt với kích thước bé hơn 100 nm và xen lẫn dạng tấm. Tuy nhiên, kích
thước hạt không đồng đều và có sự kết tụ. Dạng hạt này khá giống với ảnh SEM của
67
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO3)2 đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO3O4 …
vật liệu Co
3
O được tổng hợp theo phương pháp sol – gel của nhóm tác giả Lưu Minh
4
Đại và cộng sự (2010)[1].
+ Ở nồng độ Co(NO
3
)2 bằng 0,3 và 1,0 M: vật liệu thu được có dạng tấm với
kích thước nano khá đồng đều, rõ rệt nhất ở 1,0 M với độ dày của tấm khoảng 90 nm.
+ Ở nồng độ Co(NO bằng 1,3 M: vật liệu thu được tồn tại ở dạng tấm với
kích thước >100 nm.
Tiến hành nghiên cứu cấu trúc của các mẫu nano oxit coban dạng tấm được
3)2
tổng hợp từ dung dịch Co(NO
sánh với mẫu tiền chất Co(NO
X. Kết quả được trình bày ở hình 2.
3
)
2
có nồng độ ban đầu lần lượt là 0,3; 1,0; 1,3 M và so
3)2
/GM trước khi nung bằng phương pháp nhiễu xạ tia
Góc nhiễu xạ 2휃 ( )
Hình 2. Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu Co(NO3)2/GM và các mẫu vật liệu được tổng hợp từ các
dung dịch Co(NO3)2 có nồng độ khác nhau.
Giản đồ nhiễu xạ tia X cho thấy tiền chất Co(NO ) /GM có dạng vô định
3
2
hình. Trong khi đó, các mẫu vật liệu tổng hợp được có dạng tinh thể, với các peak
nhiễu xạ của mẫu thể hiện ở góc 2 > 10, đặc trưng cho vật liệu vi mao quản. Các peak
nhiễu xạ thể hiện ở các góc 2 bằng 19 ; 31,3 ; 37 ; 38,5 ; 45 ; 59,3 ; 65 , hoàn toàn tương
tự với các peak của chuẩn nano oxít Co
3
O4 đã được công bố bởi Ủy ban Liên tích về
Chuẩn nhiễu xạ bột (Joint Committee of Powder Diffraction Standards, JCPDS), card
no. 71-0816 [1]. Các peak nhiễu xạ có cường độ mạnh, nhọn, sắc nét chứng tỏ dạng
Co3O4
hình thành có độ tinh thể cao. Trong 3 mẫu này, mẫu Co
3
O4
đi từ dung dịch
Co(NO3)2
1,0 M có cường độ các peak cao và nhọn nhất, thể hiện mức độ tinh thể cao
nhất.
Mẫu Co3O4
đã được tổng hợp từ dung dịch Co(NO
3
) 1,0 M được tiếp tục đặc
2
trưng bằng ảnh TEM, kết quả được trình bày ở hình 3.
68
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế
Tập 13, Số 2 (2018)
Hình 3. Ảnh TEM của vật liệu Co3O4 tổng hợp từ dung dịch Co(NO3)2 1,0 M.
Kết quả ảnh TEM trên hình 3 cho thấy vật liệu tổng hợp từ dung dịch Co(NO
3)2
1,0 M có dạng tấm, được hình thành từ các hạt nano có kích thước khoảng 30 – 50 nm.
Các hạt tinh thể nano Co khá đồng đều nhau và có dạng hình khối lập phương. Sau
3O4
khi nung, sự phân hủy nhiệt của GM đã tạo nên những mao quản có kích thước từ rất
nhỏ (vài nm) đến vài chục nm. Kết quả này khá giống với vật liệu được tổng hợp theo
Từ cấu trúc dạng lớp của mẫu tiền chất Co(NO
3
) hấp phụ trên nền dạng sợi
2
của GM, khi nung ở nhiệt độ cao, cấu trúc tiền chất bị phân hủy và chuyển thành hình
thái dạng lớp - các tấm nano. Kết hợp các kết quả hình ảnh SEM, TEM cũng như giản
đồ nhiễu xạ tia X, cho thấy sản phẩm Co
(30 – 50 nm). Các chuỗi GM trong cấu trúc của tiền chất Co(NO
3
O
4
có dạng tấm (2D) kết cấu từ các hạt nano
/GM sau khi bị phân
3)2
hủy nhiệt, đã để lại cấu trúc xốp với các hốc, các vi mao quản, mao quản trung bình và
đại mao quản đan xen lẫn nhau với kích thước vài đến vài chục nm giữa các tấm nano
Co
3
O
4
. Khi dung dịch Co(NO
3
)2 ban đầu có nồng độ ở 0,3 và 1,0 M thì sản phẩm hình
thành có dạng tấm rõ nét nhất.
3.2. Phân tích nhiệt (TG-DTA)
Sự biến đổi theo nhiệt độ nung của mẫu tiền chất Co(NO ) /GM được nghiên
3
2
cứu bằng phân tích nhiệt TG – DTA. Kết quả được trình bày ở hình 4.
DTA
TG
0
0
Nhiệt độ ( C)
Nhiệt độ ( C)
Hình 4. Giản đồ phân tích nhiệt của: (a) Co(NO3)2/GM; (b) GM.
69
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO3)2 đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO3O4 …
o
Kết quả phân tích nhiệt trong khoảng từ nhiệt độ phòng đến 900 C với mẫu
GM cho thấy ở lân cận 100 , có sự giảm khối lượng do quá trình mất nước vật lý, từ
khoảng 325 thì cấu trúc GM bắt đầu bị phân hủy, quá trình thu nhiệt xảy ra mạnh,
đến 400 cấu trúc bị phân hủy hoàn toàn.
Đối với mẫu tiền chất Co(NO ) /GM:
3
2
+ Ở lân cận 100 ℃, có sự giảm khối lượng do quá trình mất nước vật lý.
+ Ở lân cận 155 đã bắt đầu xảy ra quá trình phân hủy vật liệu, đây là quá
trình bắt đầu phân hủy Co(NO
3
)
2
, quá trình tỏa nhiệt mạnh dẫn đến một phần GM
cũng bị phân hủy theo.
o
Co(NO
3)
2
khan bị phân hủy ở rất thấp (74 C), thế nhưng, khi ở trạng thái bị hấp
phụ trên bề mặt của GM, nhiệt độ phân hủy của muối này cao hơn. Điều này một lần
nữa thể hiện trạng thái hấp phụ hóa học cân bằng của Co(NO trên các chuỗi GM.
3)2
+ Từ 300 – 500 quá trình phân hủy GM tiếp tục xảy ra, thể hiện qua hiện
tượng mất khối lượng xảy ra chậm.
+ Từ 500 – 600 khối lượng mẫu gần như không thay đổi, quá trình phân hủy
GM không còn xảy ra.
+ Từ 600 – 900 ℃: không có sự biến đổi cấu trúc, vật liệu Co
3
O4 nhận được ổn
định và bền nhiệt trong khoảng nhiệt độ này.
Sư khác biệt về nhiệt độ phân hủy của hai mẫu Co(NO
3
)2/GM và GM thể hiện
sự tương tác giữa Co(NO và GM trong mẫu tiền chất là sự hấp phụ hóa học.
3 2
)
3.3. Phổ tán xạ năng lƣợng tia X (EDX)
Để kiểm tra sự có mặt của Co và O có mặt trong Co
3
O4, tiến hành chụp EDX tại
3 điểm khác nhau trên bề mặt của mẫu thu được, ghi nhận kết quả ở hình 5.
a) b)
Hình 5. a) Phổ EDX của tiền chất Co(NO3)2/GM; b) Phổ EDX của vật liệu được tổng hợp
ứng với nồng độ Co(NO3)2 1,0 M.
70
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế
Tập 13, Số 2 (2018)
Phổ EDX trên hình (b) của Co
ngoài ra không xuất hiện các peak hấp thụ khác, điều này chứng tỏ sản phẩm thu được
chủ yếu là Co
3O4
chỉ chứa peak của nguyên tố oxy và cobalt,
3
O .
4
So sánh với phổ EDX trên hình (a) của tiền chất Co(NO ) /GM, cho thấy có chứa
3
2
peak của các nguyên tố C, Co, O. Sự khác biệt này chứng tỏ sau khi nung, ở nhiệt độ
cao, carbon đã bị loại bỏ gần như hoàn toàn ra khỏi mẫu.
3.4. Phổ hồng ngoại
Khảo sát và so sánh phổ hồng ngoại của GM ban đầu, của vật liệu tiền chất
Co(NO
nồng độ dung dịch Co(NO
3
)
2
/GM và mẫu Co
3
O
3)2
4
. Nhiệt độ nung là 600 ; tốc độ gia nhiệt bằng 2 / phút,
bằng 0,3 M và 1 M. Kết quả được trình bày ở hình 6.
Mẫu tiền chất-0,3M
Số sóng (cm-1)
Hình 6. Phổ hồng ngoại của GM, Co(NO3)2/GM và Co3O4.
-1
-1
GM có peak dao động ở số sóng 3444 cm và 2924 cm đặc trưng cho dao động
của nhóm –OH và liên kết C-H của nhóm methyl trong GM. Các peak dao động ở số
-1
sóng 1734, 1645, 1060 cm đặc trưng cho các nhóm C=O, C-O và C-O-H. Peak 877, 810
-1
cm đặc trưng cho dao động các đơn vị mannose của GM. Kết quả này tương tự với
-1
Mẫu tiền chất Co(NO ) /GM có peak hấp thụ mạnh ở số sóng khoảng 400 cm
3
2
đặc trưng cho dao động của Co-O gần giống trong mẫu Co
3
4
-1
ra, các dải hấp thụ ở số sóng trên 400 cm đều giảm cường độ hấp thụ: vẫn còn các
-1
peak của GM ở số sóng 3446 và 2927 cm với cường độ yếu hơn..
Phổ IR của Co
665 và 570 – 567 cm , mẫu Co(NO
này. Dao động mạnh ở số sóng 667 – 665 cm đặc trưng cho liên kết Co - O, và peak ở
3
O
4
xuất hiện 2 peak hấp thụ với cường độ mạnh ở số sóng 667 –
/GM cũng như GM sau tinh chế không có hai peak
-1
3)2
-1
2+
71
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO3)2 đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO3O4 …
-1
3+
-1
cm còn tồn tại nhưng có cường độ giảm hẳn (do trên Co
của nước và –OH bề mặt), riêng peak 2927 cm đặc trưng cho liên kết –CH của GM thì
3
O vẫn còn các nhóm O-H
4
-1
hoàn toàn không còn nữa. Các kết quả trên cho thấy Co
các nồng độ Co ban đầu bằng 0,3 M và 1 M sau khi nung đều tạo thành Co
3
O tổng hợp từ dung dịch có
4
2+
3
O .
4
4. KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tổng hợp được nano Co
glucomannan. Nồng độ dung dịch Co(NO thích hợp là 0,3 và 1,0 M. Vật liệu Co
có hình dạng tấm nano với độ dày khoảng 90 nm, kết cấu từ các hạt nano Co có kích
3
O4 với chất định hướng cấu trúc là
3)
2
3
O4
3O4
thước khoảng 30 – 50 nm. Giản đồ nhiễu xạ tia X có đầy đủ bộ các peak chuẩn với
cường độ mạnh theo card no. 71-0816 (JCPDS) đặc trưng pha tinh thể nano tấm với cấu
trúc cubic (thuộc nhóm không gian F43m). Không xuất hiện pha tinh thể nào khác
trong giới hạn phát hiện của XRD.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Lưu Minh Đại (2010). Tổng hợp Co3O4 kích thước nanomet bằng phương pháp đốt cháy
gel, Tạp chí hóa học, Tập 48, số 6, pp. 683 - 686.
[2]. El Baydi M., Poillerat G., Rehspringer J.-L., Gautier J.L., Koenig J.-F., Chartier P. (1994). A
sol-gel route for the preparation of Co3O4 catalyst for oxygen electrocatalysis in alkaline
medium, Journal of Solid State Chemistry, Vol. 109, pp. 281-288.
[3]. Jagadeesh R.V., Stemmler T., Surkus A.E., Bauer M., Pohl M.M., Radnik J., Junge K., Junge
H., Bruckner A., Beller M. (2015). Cobalt-based nanocatalysts for green oxidation and
hydrogenation processes, Nat Protoc, Vol. 10, pp. 916-26.
[4]. Kant Sharma R., Gautam P., Kumar A., Mandal K.D. (2017). Synthesis of Sphere-Like
Nano-crystalline Co3O4 Spinel via a Simple Homogeneous Precipitation Method, Materials
Today: Proceedings, Vol. 4, pp. 5667-5671.
[5]. Lei J., Zhou L., Tang Y., Luo Y., Duan T., Zhu W. (2017). High-strength konjac
glucomannan/silver nanowires composite films with antibacterial properties, Materials,
Vol. 10, pp. 524.
[6]. Salavati-Niasari M., Khansari A. (2014). Synthesis and characterization of Co3O4
nanoparticles by a simple method, Comptes Rendus Chimie, Vol. 17, pp. 352-358.
[7]. Tian D., Hu W., Zheng Z., Liu H., Xie H.Q. (2006), Study on in situ synthesis of konjac
glucomannan/silver nanocomposites via photochemical reduction, Journal of applied polymer
science, 100 (2), pp. 1323-1327.
[8]. Wei R., Zhou X., Zhou T., Hu J., Ho J.C. (2017). Co3O4 Nanosheets with In-Plane Pores and
Highly Active {112} Exposed Facets for High Performance Lithium Storage, The Journal of
Physical Chemistry C, Vol. 121, pp. 19002-19009.
72
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế
Tập 13, Số 2 (2018)
[9]. Zhou L., Xu J., Miao H., Wang F., Li X. (2005). Catalytic oxidation of cyclohexane to
cyclohexanol and cyclohexanone over Co3O4 nanocrystals with molecular oxygen, Applied
Catalysis A: General, Vol. 292, pp. 223-228.
STUDY THE EFFECT OF CONCENTRATION OF Co(NO
3)
2
SOLUTION ON
MORPHOLOGY, STRUCTURE OF Co NANO MATERIALS SYNTHESIZED BY
3O
4
SOFT-TEMPLATE METHOD
1*
2
1
Le Lam Son , Huynh Hoang Anh , Tran Thị Thanh Nhan ,
1
1
Le Trung Hieu , Tran Thi Van Thi
1
Faculty of Chemistry, University of Sciences, Hue University
1
Faculty of Chemistry, University of Education, Hue University
*Email: [email protected]
ABSTRACT
In this paper, Co3O4 nano materials were synthesized by soft-template method
using glucomannan (GM) as a template. The effect of concentration of Co(NO3)2
solutions on morphology, structure of Co3O4 nanosheet materials have been
studied. Characteristics of materials were analyzed by the following methods:
scanning electron microscopy (SEM), transmission electron microscopy ( TEM), X-
rays diffraction (XRD), energy dispersive X-ray spectroscopy (EDX) and fourier
transform infrared spectroscopy (FT-IR).
Keywords: glucomannan, Co3O4 nanosheets, soft-template method.
Lê Lâm Sơn sinh ngày 18-4-1984. Ông nhận bằng Cử nhân Hóa học năm
2006 tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế và nhận học vị Thạc sỹ
Hóa học năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Từ năm
2009 đến nay, ông là Giảng viên Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học,
Đại học Huế.
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa học các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học,
vật liệu biopolymer.
73
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO3)2 đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO3O4 …
Lê Trung Hiếu sinh ngày 06-9-1987. Ông nhận bằng Cử nhân Hóa học
năm 2009 tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế và nhận học vị Thạc
sỹ Hóa học năm 2011 tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Từ năm
2011 đến nay, ông là Giảng viên Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học,
Đại học Huế.
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa học các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học,
phân tích hợp chất hữu cơ.
Trần Thị Văn Thi sinh ngày 10-10-1962. Bà nhận bằng Cử nhân Hóa học
năm 1984 và bằng Thạc sỹ Hóa học năm 1997 tại Trường Đại học Khoa
học, Đại học Huế. Năm 2002, bà nhận học vị Tiến sỹ Hóa hữu cơ tại Khoa
Hóa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Bà
nhận học hàm Phó giáo sư năm 2006.
Lĩnh vực nghiên cứu: Hóa học hữu cơ cho thực phẩm, hóa dược, hóa nông
nghiệp, Vật liệu xúc tác cho phản ứng hữu cơ.
Huỳnh Hoàng Anh sinh ngày 16/11/1994 tại Nha Trang. Năm 2016, cô tốt
nghiệp cử nhân ngành Hóa học tại Trường Đại học Sư phạm Huế. Năm
2018, cô tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Hóa hữu cơ tại Đại học Sư phạm
Huế.
Lĩnh vực nghiên cứu: vật liệu hữu cơ.
Trần Thị Thanh Nhàn sinh ngày 01/6/1998 tại Thừa Thiên Huế. Hiện nay,
cô là sinh viên năm 03 ngành Hóa học, Trường Đại học Khoa học Huế.
Lĩnh vự nghi n ứu: vật liệu hữu cơ.
74
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CO(NO₃)₂ đến hình thái, cấu trúc của vật liệu nano CO₃O₄ được tổng hợp bằng phương pháp khuôn mềm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_anh_huong_cua_nong_do_dung_dich_cono_den_hinh_tha.pdf

