Cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ của cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag với bề dày lớp vỏ Ag thay đổi

No.21_June 2021 |p.30-36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
SURFACE PLASMON RESONANCE OF GOLD/SILVER CORE/SHELL  
NANOROD WITH DIFFERENT THICKNESS OF SILVER SHELL  
Do Thi Hue1,*, Tran Thi Thu Huong1, Tran Khac Khoi1  
1 Thai Nguyen University of Education, Vietnam  
Abstract:  
Article info  
This article shows the fabrication of AuR/Ag core/shell structural nanoparticles  
with the core of gold nanorods, the shells of silver nanoparticles according to  
the reduced method. This work involves two independent processes including  
the synthesis and optical properties survey of gold nanorods, then using the  
gold nanorods as the core particles for the next stage to form the core/shell  
structure AuR/Ag. Using UV-VIS absorption spectra to study the optical  
properties of the AuR/Ag core/shell structures and at the same time investigate  
the effect of the Ag+ concentration on the formation and optical properties of  
the AuR / Ag complex. The results showed that the optical properties of AuR /  
Ag strongly depend on the amount of the shell-forming precursor Ag+ ion. The  
greater the amount of Ag+, the thicker the silver crust, the plasmon resonance  
peaks of the fluid towards the shortwave, and the kinetic moment, the  
resonance peak at 353 nm with the contribution of electrons of the silver  
oscillating in the horizontal direction of the AuRs.  
Recieved:  
22/3/2021  
Accepted:  
3/5/2021  
Keywords:  
Gold nanorods, nano  
silver, surface plasmon,  
structured core / shell,  
AUR / Ag.  
No.21_June 2021 |p.30-36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
CỘNG HƯỞNG PLASMON BỀ MẶT ĐỊNH XỨ CỦA CẤU TRÚC LÕI/ VỎ  
AuR/Ag VỚI BỀ DÀY LỚP VỎ Ag THAY ĐỔI  
Đỗ Thị Huế1,*, Trần Thị Thu Hương1, Trần Khắc Khôi1  
1Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên, Việt Nam  
*Địa chỉ email: [email protected]  
Thông tin bài viết  
Ngày nhận bài:  
22/3/2021  
Ngày duyệt đăng:  
Tóm tắt  
Bài báo này trình bày việc chế tạo các hạt nano cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag với lõi  
là thanh nano vàng, vỏ là lớp nano bạc theo phương pháp hóa khử. Công việc  
này gồm hai quá trình độc lập bao gồm việc tổng hợp và khảo sát đặc tính  
quang của các thanh nano vàng, sau đó sử dụng các thanh nano vàng làm hạt  
lõi cho giai đoạn tiếp theo để hình thành cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag. Sử dụng phổ  
hấp thụ UV-VIS nghiên cứu tính chất quang của các cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag,  
đồng thời khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Ag+ đến sự hình thành và tính chất  
quang của phức hệ AuR/Ag. Kết quả cho thấy tính chất quang của AuR/Ag  
phụ thuộc mạnh vào lượng tiền chất hình thành lớp vỏ là ion Ag+. Khi lượng  
Ag+ càng lớn thì lớp vỏ bạc càng dày, các đỉnh cộng hưởng plasmon của thanh  
dịch về phía sóng ngắn và động thời xuất hiện đỉnh cộng hưởng tại bước sóng  
353 nm với sự đóng góp của các điện tử của lớp vỏ bạc dao động theo chiều  
ngang của thanh.  
3/5/2021  
Từ khóa: Thanh nano vàng,  
nano bạc, plasmon bề mặt,  
cấu trúc lõi/vỏ, AuR/Ag.  
1. Tổng quan  
Gần đây, đặc tính cộng hưởng plasmon bề mặt  
định xứ của các cấu trúc nano kim loại đang được  
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu  
bởi nhiều ứng dụng tiềm năng của chúng trong  
nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như: cảm biến quang học  
[1], xúc tác [2], cảm biến sinh học [3], nghiên cứu  
tế bào [4] và hiệu ứng chuyển đổi quang – nhiệt  
[5]… Nhiều lý thuyết và nghiên cứu cơ bản đã chỉ  
ra rằng cộng hưởng plasmon bề mặt của các cấu  
trúc nano kim loại phụ thuộc mạnh vào hình dạng,  
kích thước và môi trường bao quanh các cấu trúc  
nano kim loại [6]. Các hạt nano kim loại như Au,  
Ag có tần số cộng hưởng plasmon nằm trong vùng  
ánh sáng khả kiến nên gây được các hiệu ứng về  
màu sắc mang lại nhiều ứng dụng [7,8]. Chính vì  
vậy, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về việc  
tổng hợp các hạt nano Au, Ag với các hình dạng  
khác nhau như dạng cầu, thanh, tam giác, đĩa, hay  
các cấu trúc dị hướng khác [9-14]. Đặc biệt, tính  
chất quang của các thanh nano vàng có thể điều  
chỉnh một dễ dàng bằng cách thay đổi tỉ lệ tương  
quan giữa kích thước các cạnh của thanh [15-16].  
Bằng cách này có thể tạo ra các thanh nano vàng  
với đỉnh cộng hưởng plasmon nằm trong vùng hồng  
ngoại gần – vùng hấp thụ có nhiều ứng dụng đặc  
biệt là các ứng dụng trong y – sinh [17]. Bên cạnh  
đó, các hạt nano kim loại cấu trúc lõi/vỏ cũng có  
thể điều chỉnh đặc tính quang bằng cách thay đổi tỉ  
lệ tương quan giữa đường kính lõi và độ dày lớp vỏ  
[18-19]. Trong công việc trước chúng tôi đã báo  
cáo về việc tổng hợp và nghiên cứu đặc tính quang  
của các cấu trúc lõi/vỏ với lõi là hạt nano silica và  
lớp vỏ Au với mục đích hướng tới sử dụng chúng  
để nghiên cứu khảo sát hiệu ứng chuyển đổi quang  
nhiệt, tiêu diệt tế bào [20]. Dựa trên đặc tính quang  
của các thanh nano vàng và các hạt nano bạc, cấu  
D.T.Hue et al/ No.21_Jun 2021|p.30-36  
trúc lõi/vỏ AuR/Ag hứa hẹn những ứng dụng trong  
nước lạnh (40C) được đưa vào trong hỗn hợp chứa  
CTAB và HAuCl4 khi đang khuấy từ ở nhiệt độ  
phòng. Dung dịch ngay lập tức chuyển từ màu vàng  
của phức CTA-Au3+ sang màu nâu sáng. Đây là dấu  
hiệu của sự hình thành các hạt mầm Au tinh thể.  
Các hạt mầm này được giữ ổn định tại nhiệt độ  
phòng trong khoảng 3h. Sau đó, chúng được sử  
dụng làm hạt mầm để tổng hợp nên các thanh nano  
vàng. Dung dịch nuôi hạt mầm bao gồm: 10 ml  
CTAB 0,1 M, 150 µl HAuCl4 0,02 M, 75 µl AgNO3  
0,1 M, 50 µl L-AA 0,1 M. Cuối cùng 100 µl dung  
dịch mầm Au tinh thể được thêm vào trong dung  
dịch nuôi, duy trì khuấy từ khoảng 1h tại nhiệt độ  
phòng. Ngay sau khi cho L-AA dung dịch chuyển  
từ màu vàng của phức sang không màu, sau đó  
chuyển dần sang màu nâu đỏ. Đến khi dung dịch  
dịch không đổi màu là dấu hiệu kết thúc phản ứng  
(sau khoảng 1h).  
việc tăng cường tán xạ Raman bề mặt để phát hiện  
các phân tử màu ứng dụng trong ngành an toàn thực  
phẩm cũng như bảo vệ môi trường. Đồng thời  
chúng đóng vai trò như chất đánh dấu quang học để  
làm đầu dò phát hiện các tế bào ung thư hướng đích  
[21-24]. Đã có một số các nghiên cứu tổng hợp các  
cấu trúc lõi/vỏ Au/Ag với các hình dạng và hình  
thái khác nhau [25-26].  
Trong bài báo này, chúng tôi tập trung tổng hợp  
cấu trúc lõi vỏ AuR/Ag với lõi là các thanh nano  
vàng và lớp vỏ là lớp nano bạc. Trên cơ sở đó,  
nghiên cứu sự ảnh hưởng của lớp vỏ bạc đến tính  
chất quang của phức hệ AuR/Ag thông qua sự thay  
đổi nồng độ tiền chất tổng hợp lớp vỏ Ag. Các  
nghiên cứu này được thực hiện thông qua các thông  
số trên phổ hấp thụ UV-VIS của các dung dịch hạt  
thu được.  
2.3. Tổng hợp cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag  
2. Thực nghiệm  
Các cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag được tổng hợp  
cũng theo cơ chế nuôi mầm. Ở đây, các thanh vàng  
đóng vai trò làm mầm để cho các ion Ag+ bị khử  
trên đó, hình thành lớp vỏ bạc. Để khảo sát ảnh  
hưởng của tiền chất ion Ag+, 9 bình phản ứng đã  
được chuẩn bị. Trong mỗi bình chứa 1ml dung dịch  
thanh nano vàng, 4 ml dung dịch trisodium citrate  
15%. Sau đó, thêm vào vào mỗi bình các lượng  
AgNO3 1 mM tương ứng: 0,1 ml; 0,2 ml; 0,3 ml;  
0,4 ml; 0,5 ml; 0,8 ml; 1 ml; 1,2 ml; 1,4 ml. Cuối  
cùng 0,5 ml L-AA 5% được thêm vào trong khi  
khuấy từ tại nhiệt độ phòng. Sau khoảng 5 phút khi  
thêm L-AA màu của dung dịch thay đổi từ tím,  
sang nâu, xanh đỏ, vàng… tùy thuộc theo lượng  
AgNO3 và L-AA đưa vào. Khoảng 10 phút khuấy  
từ màu của dung dịch không thay đổi là dấu hiệu  
phản ứng kết thúc hoàn toàn. Như vậy, có thể mô tả  
quá trình tổng hợp cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag theo sơ  
đồ hình 1.  
2.1. Nguyên liệu –hóa chất  
Cetyltrimethylammonium bromide (CTAB -  
C19H42BrN), silver nitrate (AgNO3), hydrogen  
tetrachloroaurate(III) trihydrate (HAuCl4·3H2O)  
and sodium borohydride (NaBH4) được cung cấp  
bởi hãng Sigma. trisodium citrate C6H5Na3O7 and  
ascorbic acid (L-AA C6H8O6) được mua của Merck.  
Nước khử ion được sử dung trong tất cả các thí  
nghiệm cung cấp từ máy mili- Q. Các bình thí  
nghiệm được rửa sạch, khử trùng và làm khô trước  
khi sử dụng.  
2.2. Tổng hợp thanh nano vàng  
Các thanh nano vàng được tổng hợp theo  
phương pháp nuôi mầm như đã báo cáo trong công  
việc trước đây với một chút thay đổi nhỏ [27].  
Trước tiên, các hạt mầm vàng được tổng hợp bằng  
cách sử dụng 10ml CTAB 0,1 M, 125 µl HAuCl4  
0,02 M và 0,5 ml NaBH4. NaBH4 pha mới trong  
Phương pháp nuôi mầm  
trong sự có mặt của CTAB  
2AgNO3 + C6H8O6 → 2Ag + C6H6O6 + 2HNO3  
Trong sự có mặt của C6H5Na3O7  
Mầm vàng  
Thanh nano vàng  
Cấu trúc lõi /vỏ  
AuR/Ag  
Hình 1. Sơ đồ nguyên lý tổng hợp cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag  
D.T.Hue et al/ No.21_Jun 2021|p.30-36  
qua ảnh bằng kính hiển vi điện tử truyền qua  
2.4. Phương pháp khảo sát đo đạc  
Model. Jem 1010 hãng JEOL – Nhật Bản bằng cách  
trải hạt trên lưới đồng phủ cacbon và được gia tốc  
với thế 80 kV.  
Các dung dịch hạt sau khi tổng hợp được nghiên  
cứu tính chất quang bằng phổ hấp thụ UV-VIS trên  
hệ máy UV-2600 của hãng Shimadzu với bước  
sóng khảo sát từ 200 nm đến 900 nm. Hình thái,  
kích thước của các thanh nano vàng được quan sát  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Thanh nano vàng  
(a)  
2.5  
(b)  
2.0  
Mầm Au  
Thanh nano vàng  
1.5  
1.0  
0.5  
0.0  
400  
600  
800  
Bước sóng (nm)  
Hình 2. Ảnh TEM của các thanh nano vàng (AuR) với độ phóng đại 40000 lần, thang đo 100nm (a),  
phổ hấp thụ UV-VIS của hạt mầm vàng (đường đen) và thanh nano vàng (đường đỏ) (b).  
Các thanh nano vàng được tổng hợp theo  
phương pháp nuôi mầm từ các tinh thể vàng mầm  
với sự có mặt của chất hoạt động bề mặt và định  
hướng sự phát triển của thanh CTAB [28-29]. Hình  
2(a) là ảnh TEM của các thanh nano vàng với độ  
phóng đại 40 nghìn lần. Có thể thấy các thanh nano  
đơn phân tán trong dung dịch, chiều dài thanh trung  
bình khoảng 40 – 45 nm, chiều rộng khoảng 10 nm.  
Ảnh TEM này thu được sau khi mẫu đã được xử lý  
rất sạch CTAB bằng cách li tâm với tốc độ cao  
nhiều lần với nước khử ion. Tính chất quang của  
các hạt mầm tinh thể và các thanh nano vàng được  
khảo sát bằng phổ hấp thụ UV-VIS (hình 2b). Có  
thể thấy, phổ hấp thụ của các tinh thể nano vàng là  
một dải rộng gần như không có đỉnh hấp thụ. Đây  
là dạng phổ đặc trưng của các hạt nano vàng kích  
thước nhỏ dưới 10 nm do dao động của tập thể các  
điện tử dẫn trên bề mặt hạt bị dập tắt nhanh chóng  
bởi biên hạt. Độ hấp thụ tại vùng tử ngoại của các  
dung dịch cao là chủ yếu do CTAB, điều này đã  
được chúng tôi khảo sát một cách độc lập và được  
đề cập đến trong tài liệu [30]. Phổ hấp thụ của các  
thanh nano vàng được đặc trưng bởi hai đỉnh hấp  
thụ tương ứng với hai mode dao động của điện tử.  
Đỉnh cộng hưởng tại bước sóng ngắn tương ứng với  
dao động của điện tử theo chiều ngang của thanh và  
đỉnh cộng hưởng tại bước sóng dài tương ứng với  
dao động của điện tử theo chiều dọc của thanh [30].  
Các thanh nano vàng được sử dụng như là các hạt  
mầm mới để làm vật liệu lõi cho quá trình hình  
thành cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag.  
3.2. Cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, lớp vỏ bạc chỉ  
có thể hình thành trên hạt lõi là các thanh vàng  
trong điều kiện môi trường có chất hoạt động bề  
mặt CTAB, vì vậy, dung dịch AgNO3 được đưa vào  
trong dung dịch thanh nano vàng khi chưa loại bỏ  
CTAB. Sở dĩ như vậy là vì CTAB trong dung dịch  
thanh nano vàng cung cấp ion Br- để hình thành  
AgBr để điều khiển tốc độ khử của ion Ag+ thành  
các nguyên tử Ag0. Trong quá trình hình thành các  
nguyên tử Ag0, AA đóng vai trò là chất khử, phản  
ứng khử xảy ra theo phương trình sau:  
2AgNO3 + C6H8O6 → 2Ag + C6H6O6 + 2HNO3  
Trong thí nghiệm này dung dịch trisodium  
citrate là để tạo môi trường có pH phù hợp cho  
phản ứng khử của C6H8O6 và AgNO3. Vì việc hình  
hành lớp vỏ Ag phụ thuộc vào tốc độ phản ứng khử  
tức là phụ thuộc vào nồng độ các chất tham gia  
phản ứng, do đó, chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của  
nồng độ ion Ag+ lên tính chất quang của AuR/Ag.  
4
D.T.Hue et al/ No.21_Jun 2021|p.30-36  
Hình 3. Ảnh TEM của các hạt cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag với thang đo là 20 nm (hình trái)  
và hình phóng đại một hạt (hình phải).  
Hình 3 là ảnh TEM của các cấu trúc lõi/vỏ  
AuR/Ag với lượng AgNO3 1 mM được sử dụng là  
0,5 ml. Qua ảnh TEM có thể thấy được cấu trúc  
lõi/vỏ của AuR/Ag, các hạt nano bạc đã bao bọc  
bên ngoài thanh nano vàng một lớp có độ dày kích  
thước nano mét. Việc bọc này khá đồng đều trên  
thanh nano vàng, tuy nhiên Ag bám ít hơn ở các  
đầu của thanh, tạo ra các hạt cấu trúc lõi/vỏ có dạng  
thuôn dài ở hai đầu. Điều này là do mật độ các phân  
tử CTAB trên thanh nano vàng ở hai đầu là nhiều  
hơn so với ở các mặt bên của thanh, chúng phần  
nào hạn chế sự di chuyển của các nguyên tử Ag vào  
hai đầu thanh nano vàng [31]. Ảnh TEM cho thấy  
các hạt cấu trúc lõi/vỏ đã được chế tạo thành công  
bằng phương pháp này. Tuy nhiên, có một thực tế  
là trong dung dịch hạt có thể hình thành một số ít  
các hạt nano bạc với các hình dạng khác nhau, và  
một số thanh vàng không được bọc bởi các hạt nano  
bạc. Điều này có thể quan sát trên ảnh TEM (Hình  
3). Các cấu trúc nano lõi/vỏ AuR/Ag trong dung  
dịch thu được theo phương pháp lắng đọng tại nhiệt  
độ phòng, vì chúng có trọng lượng lớn hơn các hạt  
khác tạo thành trong dung dịch.  
3.3. Ảnh hưởng của nồng độ Ag+ lên tính chất  
quang của AuR/Ag  
(b)  
850  
100Ag  
(a)  
200Ag  
300Ag  
500Ag  
1000Ag  
1400Ag  
AuR  
1.2  
800  
750  
700  
650  
600  
550  
500  
1.0  
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
1
0
300  
400  
500  
600  
700  
800  
900  
1000  
-200  
0
200  
400  
600  
800 1000 1200 1400 1600  
Bước sóng (nm)  
Thể tích AgNO (ml)  
3
Hình 4. Phổ hấp thụ UV-VIS của dung dịch thanh nano vàng và các dung dịch AuR/Ag với các thể tích dung  
dịch Ag+ khác nhau (a) và sự phụ thuộc của đỉnh cộng hưởng plasmon theo chiều dọc của thanh (b).  
Có thể thấy, tính chất quang của các dung dịch  
hạt thu được phụ thuộc mạnh vào lượng tiền chất là  
các ion Ag+. Các thanh nano vàng với hai đỉnh cộng  
hưởng đặc trưng tại bước sóng 828 nm và 517 nm  
được sử dụng làm lõi để tạo cấu trúc lõi/vỏ  
AuR/Ag. Các cấu trúc lõi vỏ được tạo ra với lượng  
ion Ag+ thay đổi từ 100 µl đến 1400 µl trong thể  
tích 5 ml dung dịch nuôi. Trên phổ hấp thụ (Hình  
4a) cho thấy, phổ hấp thụ của các hạt có dạng đặc  
trưng của cấu trúc lõi/vỏ với hai đỉnh cộng hưởng  
plasmon. Các đỉnh cộng hưởng đều dịch về phía  
sóng ngắn so với các đỉnh cộng hưởng plasmon của  
thanh nano vàng. Đồng thời, lượng AgNO3 càng  
tăng thì các đỉnh cộng hưởng càng dịch về phía  
sóng ngắn, đồng thời độ hấp thụ cũng tăng (gần như  
-
tỉ lệ thuận với sự tăng của thể tích AgNO3 Hình  
5
D.T.Hue et al/ No.21_Jun 2021|p.30-36  
4b). Khi thêm 100 µl AgNO3 vào dung dịch nano  
[4] Abdal Dayem, A., Lee, S.B., Cho, S.G.  
(2018). The Impact of Metallic Nanoparticles on  
Stem Cell Proliferation and Differentiation,  
Nanomaterials, 8(10):761.  
vàng thì đỉnh cộng hưởng theo chiều dọc của thanh  
dịch về phía sóng ngắn 78 nm trong khi đỉnh cộng  
hưởng theo chiều ngang của thanh chỉ dịch 18 nm.  
Sự dịch về phía sóng ngắn của các đỉnh cộng hưởng  
plasmon có thể được giải thích với hai lý do sau:  
một là, khi tăng lượng AgNO3 làm giảm tỉ lệ các  
cạnh của thanh; hai là, hằng số điện môi giữa lớp  
chuyển tiếp lõi vàng và vỏ bạc thay đổi theo chiều  
dày của lớp vỏ [32-33]. Sự tăng của cường độ hấp  
thụ là do thuộc tính nội tại của Ag gây ra vì thành  
phần ảo trong độ điện thẩm của Ag lớn hơn Au  
[34]. Đồng thời, khi thêm AgNO3 vào dung dịch  
trên phổ xuất hiện thêm đỉnh ở vùng 353 nm. Đây  
là đóng góp của các điện tử theo chiều ngang của  
lớp vỏ bạc, lớp vỏ bạc càng dày thì đỉnh cộng  
hưởng này có cường độ càng lớn.  
[5] Liu1, X., Shan, G., Yu, J., Yang, W., Ren,  
Z., Wang, Xx., Xie, X., Chen, H., Chen, X. (2017).  
Laser heating of metallic nanoparticles for  
photothermal ablation applications, AIP Advances,  
7, 025308.  
[6] Stefan Maier, A.M. (2007). Plasmonics:  
fundamentals and applications, Department of  
Physics, University of Bath, UK, 5, 67.  
[7] Cristian, T., Daniela, T., Timea, S., Simion,  
A. (2014). Finite-Difference Time-Domain (FDTD)  
design of gold nanoparticle chains with specific  
surface plasmon resonance, Journal of molecular  
structure, 1072: 137-143.  
4. Kết luận  
[8] Shi, W., Sahoo, Y., Swihart, M.T. (2005).  
Gold Nano shells on Polystyrene Cores for Control  
of Surface Plasmon Resonance. Langmuir, 21(4):  
1610-1617.  
Cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag đã được tổng hợp và độ  
dày lớp vỏ bạc đã được điều chỉnh bằng cách thay  
đổi lượng AgNO3 khi đưa vào dung dịch chứa  
thanh nano vàng. Bước sóng cộng hưởng plasmon  
theo chiều dọc của thanh giảm 280 nm từ 826 nm  
đến 546 nm, đồng thời xuất hiện đỉnh cộng hưởng  
plasmon theo chiều ngang do dao động của các điện  
tử của lớp vỏ bạc tại bước sóng 353 nm. Đây cũng  
là một minh chứng cho việc đã tổng hợp được lớp  
vỏ bạc trên thanh nano vàng. Điều này đã được giải  
thích là do khi bề dày lớp vỏ bạc tăng lên làm giảm  
tỉ lệ các cạnh của thanh đồng thời làm thay đổi  
hằng số điện môi giữa lớp tiếp giáp giữa lõi vàng và  
vỏ Ag. Độ hấp thụ của các dung dịch chứa các hạt  
cấu trúc lõi/vỏ tăng khi lượng AgNO3 đưa vào dung  
dịch tăng lên vì đóng góp của lớp vỏ bạc trong quá  
trình tương tác với ánh sáng.  
[9] Kim, M.H., Lu, X., Wiley, B., Lee, E.B.,  
Xia, Y. (2008). Morphological Evolution of Single-  
Crystal Ag Nanospheres during the Galvanic  
Replacement Reaction with HAuCl4, The Journal  
of Physical Chemistry C, 112: 7872–7876.  
[10] Skrabalak, S. E., Au, L., Li, X., Xia, Y.  
(2007). Facile synthesis of Ag nanocubes and Au  
nanocages, Nature Protocols, 2, 2182.  
[11] Jana, N.R., Gearheart, L., and Murphy, C.J.  
(2001). Wet Chemical Synthesis of High Aspect  
Ratio Cylindrical Gold Nanorods, The Journal of  
Physical Chemistry B, 105, 4065.  
[12] Gole, A., and Murph, C.J. (2004). Seed-  
Mediated Synthesis of Gold Nanorods:ꢀ Role of the  
Size and Nature of the Seed, Chemistry of  
Materials, 16, 3633.  
5. Cảm ơn  
Bài báo được hoàn thành nhờ sự hỗ trợ của đề  
tài cấp Bộ mã số B2018-TNA-03-CtrVL  
REFERENCES  
[13] Liu, M., and Guyot-Sionnest, P. (2005).  
Mechanism of Silver(I)-Assisted Growth of Gold  
Nanorods and Bipyramids, The Journal of Physical  
Chemistry B, 109, 22192.  
[1] Chen, C.D., Cheng, S.F., Chau, L.K., Wang,  
C.R.C. (2007). Sensing capability of the localized  
surface plasmon resonance of gold nanorods,  
Biosens. Bioelectron, 926.  
[14] Wiley, B.J., Xiong, Y., Li, Z.Y., Yin, Y.,  
and Xia, Y. (2006). Right Bipyramids of Silver:ꢀ A  
New Shape Derived from Single Twinned Seeds,  
Nano Letters, 6, 765.  
[2] Narayan, N., Meiyazhagan, A., & Vajtai, R.  
(2019). Metal Nanoparticles as Green Catalysts.  
Materials (Basel, Switzerland), 12(21), 3602.  
[3] Gayda, G.Z., Demkiv, O.M., Stasyuk, N.Y.,  
Serkiz, R.Y., Lootsik, M.D., Errachid, A., Gonchar,  
[15] Olson, J., Dominguez-Medina, S.,  
Hoggard, A., Wang, L.Y., Chang, W.S., Link, S.  
(2015). Optical characterization of single plasmonic  
nanoparticles. Chemical Society Reviews, 44: 40-  
57.  
M.V.,  
Nisnevitch,  
M.  
(2019).  
Metallic  
Nanoparticles Obtained via “Green” Synthesis as a  
Platform for Biosensor Construction, Applied  
Sciences, 9, 720.  
D.T.Hue et al/ No.21_Jun 2021|p.30-36  
[16] Jia, H., Fang, C., Zhu, X.M., Ruan, Q.,  
[27] Hue, D.T., Duong, V.T.T., Nghia, N.T.,  
Nhung, T.H., Lien, N.T.H. (2018). “Seeded Growth  
Synthesis Of Gold Nanorods For Photothermal  
Application”, Vietnam Journal of Science and  
Technology, 56: 148-157, Vietnam.  
Wang, Y.X., Wang, J. (2015). Synthesis of  
absorption-dominant small gold nanorods and their  
plasmonic properties, Langmuir, 31, 7418.  
[17] Ali, M.R.K., Rahman, M.A., Wu, Y., Han,  
H., Peng, X., Mackey, M.A., Wang, D., Shin, H.J.,  
Chen, Z.G., Xiao, H. (2017). Efficacy, long-term  
toxicity, and mechanistic studies of gold nanorods  
photothermal therapy of cancer in xenograft mice,  
Proceedings of the National Academy of Sciences  
of the United States of America, 114, 3110.  
[28] Xiaolong, X., Yuanyuan, Z., Xiangdong,  
X., Shuaidong, H., Fei, C., Guozhang, Z., Xing-Jie,  
L. (2014). Seedless synthesis of high aspect ratio  
gold nanorods with high yield, Journal of Materials  
Chemistry A, 2, 3528.  
[18] Zhang, J., and Zayats, A. (2013). Multiple  
Fano resonances in single-layer nonconcentric core-  
shell nanostructures”, Optics Express 21, 8426.  
[29] Ming-Zhang, W., Tian-Song, D., Zhang,  
Q., Zhiqun, Cc., Shiqi, L. (2021). Seed-Mediated  
Synthesis of Gold Nanorods at Low Concentrations  
of CTAB, ACS Omega 6, 13: 9188–9195.  
[19] Lu, L., Gwendolyn, B., Ionel, H., Dan,  
V.G. (2013). Core–shell gold/silver nanoparticles:  
Synthesis and optical properties”, Journal of  
Colloid and Interface Science, 392, 90.  
[30] Murphy, C. J., Thompson, L.B., Chernak,  
D.J., Yang, Y.A., Sivapalan, S.T., Boulos, S.P.,  
Huang, J., Alkilany, A.M., Sisco. P.N. (2011). Gold  
nanorod crystal growth: From seed-mediated  
synthesis to nanoscale sculpting. Current Opinion  
in Colloid & Interface Science. 16: 128–134.  
[20] Lien, N.T.H., Ngan, L.T., Hue, D.T.,  
Duong, V.T.T.D., Hoa, D.Q., Nhung, T.H. (2013).  
Preparation and characterization of silica–gold  
core–shell nanoparticles, Journal of Nanoparticle  
Research, 15, 2091, Vietnam.  
[21] Ma, Y., Li, WW., Cho, E.C.., Li, Z., Yu,  
T., Zeng, J., Xie, Z., Xia, Y. (2010). Au@Ag  
Core−Shell Nanocubes with Finely Tuned and  
Well-Controlled Sizes, Shell Thicknesses, and  
Optical Properties, American Chemical Society  
Nano, 4, 6725.  
[31] Yanan, M., Jun, Z., Weibo, Z., Zhenhong,  
J., Lucia, P., Pasquale, M. (2014). Localized  
Surface Plasmon Resonance and Surface Enhanced  
Raman Scattering Responses of Au@Ag Core–  
Shell Nanorods with Different Thickness of Ag  
Shell, Nanoscience and Nanotechnology, 14: 4245–  
4250.  
[22] Gong, J., Zhou, F., Li, Z., Tang, Z. (2012).  
Synthesis of Au@Ag Core–Shell Nanocubes  
Containing Varying Shaped Cores and Their  
Localized Surface Plasmon Resonances, Langmuir,  
28, 8959.  
[32] Linh, N., Mihir, D., Ober, M. F., Besteiro,  
L.V., Wang, Z.M., Nickel, B., Govorov, A. O.,  
Liedl, L., Jungemann, A.H. (2020). Chiral  
Assembly of Gold–Silver Core–Shell Plasmonic  
Nanorods on DNA Origami with Strong Optical  
Activity, American Chemical Society Nano, 14:  
7454–7461.  
[23] Wu, L., Wang, Z., Zong, S., Huang, Z.,  
Zhang, P., Cui, Y. (2012).  
A SERS-based  
immunoassay with highly increased sensitivity  
using gold/silver core-shell nanorods, Biosensors  
and Bioelectronics, 38, 94.  
[24] Zong, S., Wang, Z., Yang, J., Wang, C.,  
Xu, S., Cui, Y. (2012). A SERS and fluorescence  
dual mode cancer cell targeting probe based on  
silica coated Au@Ag core–shell nanorods”,  
Talanta, 15, 368.  
[33] Rodríguez, O. P., Núñez, P.D., Rubio, G.  
G., González, V. M., Rivera, A., Perlado, J. M.,  
Junquera, E., & Martínez, A. G. (2020). Au@Ag  
Core–Shell Nanorods Support Plasmonic Fano  
Resonances”, Scientific Reports, 10, 5921.  
[25] Ah, C. S., Hong, S. D., and Jang, D. J.  
(2001). Preparation of AucoreAgshell Nanorods  
and Characterization of Their Surface Plasmon  
Resonances, The Journal of Physical Chemistry B,  
105, 7871.  
[34] Dongxiang, L., Xiaofang, Z., Jie, Z.,  
Chunxing, W., Taoran, Z., Chunfang, L., Meiwen,  
C.  
(2020).  
Shuttle-like  
core-shell  
gold  
[26] Liu, M., and Guyot-Sionnest, P. (2004).  
Synthesis and Optical Characterization of Au/Ag  
Core/Shell Nanorods, The Journal of Physical  
Chemistry B, 108, 5882.  
nanorod@Ag-Au nanostructures: Shape control and  
electrocatalytic activity for formaldehyde oxidation,  
Applied Surface Science, 528, 1145.  
pdf 7 trang yennguyen 14500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ của cấu trúc lõi/vỏ AuR/Ag với bề dày lớp vỏ Ag thay đổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_huong_plasmon_be_mat_dinh_xu_cua_cau_truc_loivo_aurag_v.pdf